Nó không mang cờ hiệu, không nổi bật như tàu chiến, và cũng chẳng cần xuất hiện trong mọi biên chế hạm đội. Nhưng khi nó xuất hiện, đối phương chỉ biết đến lúc đòn đánh đã giáng xuống. Một “quái vật vô thanh” trên biển, đủ khiến những nước đang cạnh tranh với Mỹ phải dè chừng. Điều khiến nó đáng sợ không nằm ở hình dáng, mà ở thứ nó có thể làm — và không để lại dấu vết. Vậy bên trong thực chất là gì? ----------------------------- 📋 ""CDMedia - Quân sự"" là một nền tảng chuyên sâu kết nối những kiến thức và thông tin xoay quanh lĩnh vực quân sự. Dựa trên các nguồn đáng tin cậy từ nhiều phía, kênh mang đến cho khán giả một cái nhìn đa chiều về các chiến lược quân sự, công nghệ quốc phòng từ quá khứ tới hiện đại. ""CDMedia - Quân sự"" không chỉ là nơi cung cấp thông tin, mà còn là cầu nối giúp người xem hiểu rõ hơn về sức mạnh và tầm ảnh hưởng của quân sự trong bối cảnh toàn cầu.
Mọi sự ủng hộ cho kênh mời các bạn donate qua: - STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường - Momo: 0393331668
Hơn hai thập nghiên đã quả, cũng là quãng thời gian dài chưa từng có trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu.
Cuộc chiến mà Mỹ luôn dẫn đầu.
Tuy nhiên đây cũng là lý do đã khiến bộ máy quốc phòng trên biển của siêu cường số một thế giới dường như đang có những dấu hiệu trạch hướng.
Bởi quen nhiều năm, họ đã quá tập trung xây dựng chiến lược chống lại những phiến quân nhỏ lẻ
và dường như xa rời mục tiêu đảm bảo sức mạnh để đối đầu với những đối thủ ngang tài ngang sức.
Liệu giờ đây, người Mỹ có đủ sức để đối đầu với những cuộc chiến quy một toàn diện trên biển với những đối thủ tiềm nặng?
Liệu loại vũ khí nào mới có thể giúp họ khỏa lấp cùng lúc cả lỗ hổng năng lực ở châu Âu lẫn vùng biển Thái Bình Dương rộng lở?
Trước khi tìm hiểu xem vũ khí bí mật của Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương là gì,
hãy cùng điểm qua một chút về sức mạnh của quân đội Mỹ nói chung
và lý do tại sao dù họ sở hữu lực lượng Hải quân Hùng Hậu nhưng vẫn phải cần loại vũ khí bí mật này.
Đầu tiên, chúng ta đều biết rằng Hợp Trung Quốc Hoa Kỳ hiện đang giữ vị thế là quốc gia có lực lượng quân sự lớn mạnh nhất hành tinh.
Đồng thời, nước này tự cho mình là có nghĩa vụ phải có ảnh hưởng hơn bất kỳ lực lượng nào khác trên thế giới.
Bằng chứng là từ trước tới nay, quân đội Mỹ luôn có mặt tại tất cả các điểm nóng
từ cung cấp sự hiện diện ổn định hay huấn luyện các lực lượng quân sự hải ngoại
cho đến việc thực thi các nguyên tắc quốc tế trên nhiều vùng biển khác nhau.
Và để làm được điều đó, tiền luôn là điểm mạnh của quân đội nước này
với ngân sách dành cho quốc phòng cao kỷ lục trên thế giới.
Theo như thống kê trong năm Tài chính 2014, Washington DC đã dành 610 tỷ đô la cho quốc phòng
Còn số này năm 2024 rơi vào khoảng 842 tỷ đô, bỏ xa các đối thủ bám sát nhất như Nga hay Trung Quốc.
Đó là về ngân sách.
Còn về quân số, theo số liệu của The Military Balance,
năm 2014 có 1.492.200 quân nhân phục vụ trong các lực lượng vũ trang Mỹ.
Ngoài ra còn có 14.000 vị trí do các chuyên gia dân sự đảm nhiệm.
Trong trường hợp cần thiết, Lầu Năm Góc có thể huy động lực lượng giữ bị về quân số khoảng 770.000 người.
Công dân Hoa Kỳ có thể gia nhập quân đội từ năm 18 tuổi,
hoặc thậm chí từ 17 tuổi nếu được cha mẹ hoặc người giám hộ cho phép.
Độ tuổi tối đa của các ứng cử viên nhập ngũ tùy thuộc vào từng quân binh chủng.
Ví dụ, lục quân Mỹ chỉ nhận những người có độ tuổi không quá 35,
còn với lực lượng lính thủy đánh bộ, họ chỉ nhận những người không quá 28 tuổi.
Với dân số hơn 342 triệu người vào năm 2024,
Mỹ có một tiềm lực động nguyên rất lớn.
Theo những số liệu có được,
con số những người đủ điều kiện phục vụ quân đội Mỹ là gần 120 triệu người.
Không chỉ có một đội quân khổng lồ,
họ còn sở hữu những hàm đội hùng mạnh nhất thế giới.
Và thậm chí các học giả quân sự luôn phải thừa nhận rằng,
Hải quân Mỹ luôn có tầm ảnh hưởng to lớn tại mọi vùng biển mà họ xuất hiện,
đặc biệt là ở vùng biển rộng lớn nhất hành tinh, Thái Bình Dường.
Tuy nhiên, những hàm đội mạnh nhất thế giới vẫn là chưa đủ.
Những năm qua, sự phát triển vượt bậc của công nghệ quân sự
đã giúp Mỹ xây dựng một lực lượng hải quân và không quân có quy mô khổng lồ.
Sự hùng mạo này không chỉ giúp họ duy trì lợi thế chiến lược trong suốt thế chiến thứ hai,
mà còn đảm bảo sự thống trị trên biển lẫn trên không trong những thập kỷ tiếp theo.
Tuy vậy, trong thế kỷ 21,
một hàm đội hùng mạnh với số lượng lớn tàu chiến
không phải là yếu tố quyết định duy nhất để giành chiến thắng áp đảo trong các cuộc xung đột trên biển.
Thay vào đó, điều quan trọng là phải sở hữu những loại tàu phù hợp,
đảm nhận các văn chói chuyên biệt và được trang bị công nghệ tiên tiến.
Theo thời gian, Mỹ đã điều chỉnh chiến lược quân sự của mình
bằng cách giảm số lượng trang thiết bị, khí tài quân sự
và chuyển sang tập trung phát triển các loại tàu chiến và máy bay đa nhiệm
có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Điều này thể hiện rõ qua việc phát triển các loại tàu chiến tiên tiến
như khu trục hạng tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke
cùng với chiến đục cơ đa nhiệm F-35 Jones Strike Fighter.
Sự ra đời của các loại tàu và máy bay này đánh dấu một bước tiến quan trọng
trong tư duy chiến lược quân sự của Mỹ.
Chẳng hạn các tàu khu trục như Arleigh Burke
không chỉ có khả năng phòng thủ trước các cuộc tấn công bằng tên lửa
mà còn có thể tấn công các mục tiêu chiến đất liền,
thực hiện nhiệm vụ tuần tra hay bảo vệ tàu sân bay.
Tương tự, chiến đấu cơ F-35 được thiết kế với tính linh hoạt cao,
có khả năng tham gia vào nhiều nhiệm vụ khác nhau,
từ hỗ trợ tác chiến trên không
để thực hiện các cuộc không kích chính xác trên mặt đất.
Chính tư duy này đã cho phép người Mỹ mở rộng sự hiện diện của mình,
trong khi vẫn giảm tối đa yêu cầu về nhân sự và chi phí.
Xong cũng có những mặt trái trong các nền tảng đại nhiệm.
Chúng làm tăng đáng kể chi phí nghiên cứu lớn hậu cần,
buộc họ sẽ phải mua với số lượng ít lại.
Tiền đề của tư duy này đã bắt đầu khi Mỹ giảm dần số lượng tàu chiến qua thời gian.
Vào thời kỳ hoang kim của Thế chiến thứ 2,
quân đội Mỹ có lượng tàu chiến lên tới 6.768 chiếc
và khoảng 300.000 chiến đấu cơ.
Tuy nhiên trong suốt cuộc chiến tranh lạnh,
khi Mỹ mạnh tay cho việc nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ quân sự,
họ đã mở ra kỷ nguyên cho việc xây dựng những thế hệ chiến đấu cơ,
cũng như chiến hạm đa nhiệm vô cùng hiện đại.
Và cho tới ngày hôm nay,
Hải quân Mỹ đã rút số lượng tàu chiến chỉ còn khoảng 290 tàu vào năm 2024
và duy trì số lượng máy bay quân sự chỉ còn khoảng 13.000 chiếc.
Nhưng sức mạnh của họ thì dường như vẫn không thay đổi.
Ngoài việc làm tăng chi phiệu cần như đã nói ở trên,
nhưng vũ khí đa nhiệm này cũng có những điểm đủ khác,
đó là bị hạn chế trong các tình huống xung đột quy mô lớn.
Vẫn là khu trục hạm Alibug,
mặc dù tiên tiến và hiệu quả trong việc phát hiện,
theo dõi và tiêu diệt các tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa,
nhưng lại chủ yếu được thiết kế để chống lại các mối đe dọa tên lửa,
hơn là đối phó với các cuộc tấn công toàn diện từ nhiều nguồn khác nhau.
Trong các cuộc xung đột quy mô lớn,
khi đối phương có thể sử dụng kết hợp nhiều loại vũ khí khác nhau,
từ tên lửa đối hạm, tên lửa hành trình,
cho đến các loại chiến đấu cơ vào tàu ngầm,
các khu trục hạm như Alibug có thể gặp khó khăn trong việc duy trì hiệu quả phòng thủ.
Trong những tình huống đó,
việc dựa vào hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis
có thể không đủ để đảm bảo an toàn cho toàn bộ hàm đội.
Thêm vào đó, các tàu Alibug,
mặc dù được trang bị hệ thống tác chiến phòng không tiên tiến,
lại thiếu sự đa dạng trong khả năng phòng thủ chủ động,
đặc biệt là khi so sánh với các loại tàu chiến khác
có hệ thống phòng thủ chủ động mạnh mẽ hơn.
Vậy người Mỹ đã có vũ khí bí mật nào để khắc phục điều đó?
Người Mỹ đã lên ý tưởng sử dụng tàu hàng để vận chuyển vào phòng tên lửa,
đặc biệt trong bối cảnh họ đang tìm cách mở rộng sự yên diện quân sự
và khả năng giàn đe chiến lược tại khu vực Thái Bình Dương.
Tại khu vực này,
một trong những mối lo ngại hạng đầu hiện nay của Mỹ
là việc Trung Quốc sẽ yếu khó tên lửa đạn đạo khổng lồ,
bao gồm cả tên lửa diệt hạn siêu vừa đập.
Điều này buộc Mỹ phải tập trung vào việc tăng cường khả năng phòng thủ tên lửa,
mà trong đó các khu trục hạng Aegis đóng vai trò nóng cốt.
Tuy nhiên, người Mỹ nhận định rằng
họ vẫn cần phải bổ sung thêm nhiều hệ thống phóng thẳng đứng,
hay VLS,
tại khu vực Thái Bình Dương
để vừa tăng cường khả năng phòng thủ,
vừa nâng cao năng lực tấn công một cách linh hoạt và hiệu quả.
Giải pháp cho vấn đề này là ý tưởng trang bị các tàu hàng trở theo tên lửa,
hay còn gọi là xà lan tên lửa.
Năm 2019, một nhóm bao gồm 5 chuyên gia,
trong đó có một thuyền trường hải quân và một đại tá thủy quân lục chiến Mỹ đang nghỉ hưu,
đã đề xuất ý tưởng này trong một bài viết trên tạp chí Kỷ Yếu của Viện Hải quân Mỹ.
Họ cho rằng,
Mỹ có thể nhanh chóng mua sóng và trang bị các tàu hàng để phục vụ mục đích chiến đấu
bằng cách lắp đặt các gian phóng tên lửa lên bom tàu,
sau đó neo chúng tại những vị trí chiến lược quảnh Thái Bình Dương.
Trên thực tế,
Mỹ cũng đã có kinh nghiệm trong việc triển khai các hệ thống tên lửa trên các tàu hàng lớn,
và các hệ thống này hoàn toàn có thể hoạt động hiệu quả trên bom tàu.
Ngoài ra, với sự kết hợp giữa các siêu máy tính và dữ liệu nhắm mục tiêu tiên tiến,
như trên chiến đấu cơ F-35,
Mỹ đã chứng minh khả năng tấn công chính xác các mục tiêu bằng tên lửa.
Điều này cho thấy rằng,
hệ thống vũ khí có thể được vận hành linh hoạt từ các tàu hàng,
và không cần phải phát triển thêm quá nhiều.
Vậy, những sà lan tên lửa này hoạt động ra sao?
Đầu tiên, để xây dựng một hạm đội sà lan tên lửa hiệu quả,
bước đầu tiên sẽ là mua sắm các tàu hàng thương mại hiện có trên thị trường.
Nhưng nếu đột nhiên người Mỹ có động thái mua hàng loạt tàu thương mại số lượng lớn,
nhất là ở tại vùng biển Thái Bình Dương,
điều đó rất dễ trở thành một động thái tiềm năng
làm gia tăng căng thẳng cho một quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Chúng ta thử đặt giả thuyết rằng,
nếu xung đột Mỹ-Trung xảy ra tại vùng biển Thái Bình Dương,
thì chắc chắn trung tâm của nó là Biển Đông.
Đây là một tuyến đường giao thương quan trọng,
và hàng Nam ước tính có khoảng 1 phần 3 lượng tàu thương mại toàn cầu đi qua vùng biển này.
Tuy nhiên, nếu xung đột giai siêu cường kinh tế bùng nổ,
thương mại xuyên Thái Bình Dương sẽ sụt giảm mạnh
do các chuyến hàng giữa Mỹ và Trung Quốc bị cắt giảm.
Hơn nữa, mối nguy hiểm từ các cuộc đụng độ quân sự
tại một trong những khu vực có vị trí địa lý nhạy càng
sẽ khiến các công ty vận tải và bảo hiểm đánh giá lại rủi ro khi hoạt động tại đây.
Kết quả là giá trị của tàu hàng trên thị trường sẽ giảm đáng kể,
tạo điều kiện cho Hải quân Mỹ mua lại những con tàu này với mức giá rất hấp dẫn.
Một tàu hàng thương mại với 2 lớp vỏ có giá giao đồng từ 25-50 triệu đô.
Nhưng các tàu hàng đã qua sử dụng có thể được giao bán trên các trang web chuyên dụng
như Naughty SMP với giá chỉ từ 1-2 triệu đô.
Và khi Hải quân Mỹ đã sở hữu đủ số tàu cần thiết,
bước tiếp theo là tái trang bị các tàu này để biến chúng thành sa lăn tiên lửa.
Quá trình này có thể được thực hiện theo 2 cách.
Cách thứ nhất là gắn các hệ thống vũ khí vào máy bay không người lái trực tiếp lên tàu hàng,
gây khó khăn cho đối phương trong việc phân biệt giữa tàu hàng truyền thống và sa lăn tiên lửa.
Điều này không chỉ tiết kiệm thời gian và chi phí tái cấu trức,
mà còn làm tăng độ phủ sóng cho lực lượng Hải quân trên nhiều vùng biển rộng lớn.
Các tàu sa lăn tiên lửa sẽ được đánh dấu là tài sản của Hải quân Mỹ,
nhưng có thể gắn cờ giống như tàu hàng thương mại thông thường.
Điều này làm phức tạp hóa khả năng phân loại mục tiêu,
bởi nhiều hệ thống vũ khí hiện đại như radar khẩu độ tổng hợp đảo ngược
chỉ có thể đánh giá mục tiêu dựa trên cấu hình có độ phân giải thấp.
Trong khi đó, các tàu khu trục hạm Aegis của Mỹ
có thể đảm nhận vai trò chỉ huy và kiểm soát các sa lăn tiên lửa này.
Chúng sẽ sử dụng radar tiên tiến và các hệ thống nhóm mục tiêu để điều phối các cuộc tấn công,
biến những sa lăn tiên lửa này thành kho đạn nổi linh hoạt
và hỗ trợ hiệu quả cho toàn bộ hệ thống vũ khí của hàm đội.
Việc sử dụng sa lăn tiên lửa không chỉ làm gia tăng khả năng tấn công vào phòng thủ của Mỹ,
mà còn giúp tối ưu hóa chi phí.
Mỗi tàu container có thể được sửa đổi để mang theo một loạt ống phóng thẳng đứng VLS
với các tiên lửa hành trình Tomahawk trong thời gian từ 3 đến 6 tháng.
Mặc dù chi phí sẽ tăng lên do việc tái trang bị,
những lợi ích đem lại sẽ vượt xa chi phí phát sinh,
bởi nó giúp giảm đáng kể thời gian và chi phí đào tạo nhân lực,
đồng thời có thể sử dụng các hệ thống vũ khí hiện có mà không cần phát triển công nghệ mới.
Điều mối chốt là quân Mỹ cần xác định rõ họ cần bao nhiêu sa lăn tiên lửa
và mỗi sa lăn cần trang bị bao nhiêu tiên lửa để đạt được hiệu quả tối ưu.
Một xuất kiến cho rằng có thể trang bị hàng trăm ống phóng VLS cho mỗi sa lăn,
nhưng điều này sẽ làm ra tăng chi phí đáng kể và dễ biến những con tàu này thành mục tiêu lớn,
dễ bị tấn công bởi đối thủ.
Một phương án cả thi hơn là chuyển đổi khoảng 10-15 tàu hàng thành sa lăn tiên lửa.
Mỗi tàu trang bị từ 30-50 tiên lửa Tomahawk.
Điều này không chỉ giảm thiểu thiết hại trong trường hợp có sa lăn bị phá hủy,
mà còn đủ để duy trì hỏa lực mạnh mẽ,
giúp hải quân Mỹ đảm bảo ưu thế chiến lược trong các cuộc xung đột.
Khi hải quân Mỹ nhanh chóng bắt tay vào quá trình mua sắm và sửa đổi tàu hàng thương bại thành sa lăn tiên lửa,
một trong những thách thức lớn là việc đào tạo và khuy động nhân lực cho các con tàu này.
Nếu theo phương pháp truyền thống,
tức là tuyển dụng và huấn luyện các tân binh theo mô hình quân sự thông thường,
sẽ không đáp ứng được yêu cầu thời gian cấp bách
trong bối cảnh tiềm năng xảy ra xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc ở Thái Bình Dương.
Để giải quyết vấn đề này,
Thuyền trưởng Chris Rowley đã đề xuất một mô hình thủy thủ đoàn line,
mang tính khả thi và linh hoạt hơn nhiều so với cách tiếp cận truyền thống.
Theo mô hình này,
mỗi sa lăn tiên lửa sẽ được vận hành bởi một thủy thủ đoàn hỗn hợp,
bao gồm cả các sĩ quan Hải quân Mỹ
và các thủy thủ dân sự có nhiều kinh nghiệm trong việc điều khiển tàu thương bại.
Việc kết hợp lực lượng này giúp Hải quân Mỹ
có thể nhanh chóng triển khai các tàu đã được cải tiến ra chiến trường.
Các sĩ quan Hải quân sẽ đảm nhận vai trò chỉ huy
và quản lý các nhiệm vụ chiến đấu,
trong khi thủy thủ dân sự sẽ chịu trách nhiệm
với các hoạt động vận hành hàng ngày thông thường.
Mô hình này không chỉ giúp tối yêu thời gian và nguồn lực,
mà còn đảm bảo rằng
các con tàu sẽ vẫn tuân thụ luật pháp quốc tế
khi được vận hành trong bối cảnh xung đột.
Thực tế,
mô hình này đã được thử nghiệm thành công trên tàu vận tài đồ bộ USS Pond
trước khi con tàu ngừng hoạt động.
Mỗi sa lăn tiên lửa sẽ có một thủy thủ đoàn khoảng 30 người,
trong đó phân chia gần như đồng đều
giữa các sĩ quan Hải quân và thủy thủ dân sự.
Ngoài ra,
những tàu này có thể trở thêm một khối lượng hàng hóa lớn bên trong thân tàu,
một biện pháp giúp ngụy trang hoàn hảo,
đôi khi có thể giúp bảo vệ chúng khỏi hỏa lực đối phương.
Đồng thời,
cũng hoàn toàn có thể mang theo một lượng nhu yếu phẩm lớn
giúp tăng cường khả năng sống sót của con tàu
trong các tình huống nguy cấp,
giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt lương thực,
đảm bảo cho những chuyến đi dài ngày suy đại dương.
Mỗi sa lăn tiên lửa cũng sẽ có giá thành chỉ vài triệu đô la,
một khoản đầu tư nhỏ nhưng mà lại hiệu quả lớn.
Điều này đặc biệt hợp lý khi so sánh với chi phí chế tạo
và duy trì các tàu chiến khổng lồ
như tàu sân bay USS Gerald R. Ford
có chi phí xây dựng lên đến 13 tỷ đô.
Nếu căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục gia tăng
và viễn cảnh xung đột trực tiếp trở nên hiển hữu,
Hải quân Mỹ có thể buộc phải điều chỉnh chiến lược và ngân sách quốc phòng
để tập trung đầu tư vào các sa lăn tiên lửa.
Những sa lăn tiên lửa này có thể đóng vai trò
như một trong những hệ số nhân lực hiệu quả nhất
mà Mỹ có thể sử dụng
để tăng cường sức mạnh tấn công và phòng thủ trong chiến tranh hiện đại.
Tóm lại, với chi phí thấp, khả năng trực khai nhanh chóng và vận hành dễ dàng,
sa lăn tiên lửa đại diện cho một giải pháp chiến lược tối ưu
cho Hải quân Mỹ trong việc đối phó
với sự gia tăng tiềm lực quân sự của Trung Quốc
tại khu vực Thái Bình Dương.
Trung Quốc chỉ mang lại hiệu quả cao vì chi phí
mà còn bổ sung thêm một lớp phòng thủ và tấn công quan trọng
trong hệ thống chiến đấu tổng thể của Mỹ.
Trong trường hợp xảy ra chiến tranh,
những sa lăn này hoàn toàn có thể trở thành công cụ quan trọng
giúp Mỹ duy trì và gia tăng ưu thế chiến lược tại khu vực.