Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Những Lời Tiên Tri Bất Hủ

Kẻ Học Trò
774 Người theo dõi
92 Lượt xem video·24 thg 12, 2025
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585.
Tên thật là Nguyễn Văn Đạt, tự là Hạnh Phủ, hiệu là Bạch Vân Am Cư Sĩ.
Ông được các môn sinh tôn là Tuyết Giang Phu Tử.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có ảnh hưởng rất lớn ở thế kỷ thứ 16.
Quê ông ở làng Trung An, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương, nay thu huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Dưới thời vua Lê Thánh Tông, thời kỳ thịnh trị nhất của nhà Lê Sơ.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra trong gia đình nổi tiếng học rộng.
Mẹ của ông là Nhữ Thị Thục, con gái út của quan tiến sĩ Thượng Thư Bộ Hộ dưới thời Lê Thánh Tông, Nhữ Văn Lân.
Ngay từ nhỏ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhận được sự giáo dục tốt.
Ông được dạy luyện cả về thể lực và trí tuệ.
Nên ông được nhận xét là từ nhỏ đã to khỏe, thông minh khác thường.
Thậm chí dù chưa đến một tuổi mà ông đã biết nói sói.
Đến khi ông 4 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được mẹ dạy sách kinh, thơ nôm.
Đến khi trưởng thành, ông nghe danh bảng nhãn hồi hưu sớm, đó là Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều.
Thuộc thanh hóa ngày nay là một người tài giỏi, nổi danh trong giới sĩ phu bấy giờ.
Ông đã tìm đến tận nơi để theo học và không lâu sau, ông trở thành người học trò tốt nhất của Thầy Lương Đắc Bằng
và được Thầy giao con trai mình cho Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ.
Mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là bậc nữ lưu tài hoa vào bậc nhất trốn kinh kỷ thời bấy giờ.
Tương truyền, bà là người giỏi văn trương và tài học về lý, số.
Bản thân bà cũng có thể biết trước những gì có thể xảy ra và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua.
Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm rất tài giỏi, nhưng do thời cuộc bấy giờ,
nhà Lê Sơ đang khủng hoảng, dối ghen, nên ông không ra ứng thi.
Ông bỏ qua tất cả 6 kỳ thi ở thời Lê Sơ từ khi trưởng thành.
Ngày cả năm 1527, khi nhà Mạc được thành lập, đất nước dần ổn định, ông cũng không ra ứng thi.
Ông tiếp tục bỏ qua 2 khoa thi đầu chiều Mạc.
Phải đến năm 1535, dưới thời Mạc đăng doanh trị vỉ, đây là thời kỳ thịnh trị nhất của nhà Mạc,
ông mới quyết định đi thi, và trong kỳ thi đó, ông đã đậu trạng nguyên.
Khi đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ngoài 40 tuổi.
Trước khi đi thi khoa này, ông mới đổi tên từ Nguyễn Văn Đạt thành Nguyễn Bỉnh Khiêm,
vì Bỉnh Khiêm nghĩa là giữ trọng tính khiêm nhường.
Sau khi đổ trạng nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm được bổ nhiệm làm nhiều chức vụ.
Ông được phong tước Trình Tuyền Hầu, sau đó được phong Trình Quốc Công,
nên dân gian quen gọi ông là Trạng Trình.
Đến năm 73 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm không ra ở hẳn Kinh Sư, nhưng vẫn đảm nhiệm việc chiều chính.
Vua Mạc khi đó coi Nguyễn Bỉnh Khiêm như một bậc thầy,
nên mỗi khi trong nước có việc quan trọng, vẫn sai xứ đến hỏi ông.
Đôi khi có chuyện lớn, vua còn cho triệu ông về Kinh để hỏi ý.
Lịch Triều Hiến Trương Lại Trí có viết
Ông học rộng, hiểu sâu nghĩa lý kinh dịch, mưa nắng họa phúc, việc gì cũng biết trước.
Ở thời kỳ phong kiến Việt Nam,
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số những trường hợp rất hiếm trong các văn nhân nhòa xa điển hình,
tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng cầm quân ra trận
lại được phong tới Tước Công hay Quốc Công ngay từ lúc còn sống.
Trình Quốc Công là tiêu phòng chính thức cao nhất của Nguyễn Bỉnh Khiêm
do vua Nhà Mạc ban cho khoảng gần 20 năm trước khi ông mất.
Ngày 28 tháng 11 năm 1585, ông qua đời tại quê nhà, thọ 95 tuổi.
Đây là tuổi thọ hiếm thấy trong thời kỳ phong kiến.
Những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1. Lời tiên tri cho Nhà Mạc lên cao bằng
Thế kỷ thứ 16, Nhà Lê suy yếu, khủng hoảng.
Lê Uy Mục và Lê Tương Dực không còn quan tâm đến chiều chính,
chỉ lo ăn chơi xa đoạ, khiến cho các thế lực đứng lên, lật đổ, trong đó có Mạc Đăng Dung.
Vào năm 1527, Mạc Đăng Dung đã tập hợp lực lượng cướp ngôi Nhà Lê,
lập giết Triều Mạc ở phía Bắc Việt Nam, sử sách gọi là Bắc Triều.
Sau khi đội thành lập, Nhà Mạc có thi hành một số chính sách giúp đất nước bước đầu ổn định.
Nhưng Nhà Mạc lại bị cô lập từ hai phía.
Phía Bắc, Nhà Minh muốn sang xâm lượng.
Phía Nam thì các cựu thần Nhà Lê tập hợp lực lượng chống đối.
Trước tình cảnh đó, Nhà Mạc lại cắt đất và thần phục Nhà Minh.
Điều này khiến cho nhân dân ngày càng bất mãn.
Các cựu thần Nhà Lê phải chạy vào Thanh Hóa.
Vào năm 1533, Nguyễn Kim, một cựu thần Nhà Lê đã tập hợp lực lượng ở Thanh Hóa,
là một người họ Lê lên làm vua chuẩn bị ra Bắc đánh Nhà Mạc.
Sự cũ gọi đây là Nam Triều.
Nguyễn Kim kéo quân ra Bắc, lấy danh nghĩa là Phù Lê Diệt Mạc.
Sự cũ gọi là Chiến tranh Nam Bắc Triều.
Nam Triều đánh nhau với Bắc Triều liên miên, dài dẳng hơn 50 năm.
Cuối cùng, Nhà Mạc bị lật đổ, phải bỏ thăng long, chạy lên Cao Bằng.
Ngay đầu Triều Đại, Nguyễn Bình Khiêm đã dùng tài lý số của mình
để cứu vãn cho Triều Nhà Mạc tồn tại được một thời gian khá dài.
Lý do Nhà Mạc lựa chọn Cao Bằng để đến là vì lời khuyên của Nguyễn Bình Khiêm.
Khi Nhà Mạc sắp bị lật đổ, vua cho người đến hỏi ý kiến Nguyễn Bình Khiêm.
Khi đó, ông đã đưa ra một câu xấm
Nhà Mạc đã nghe theo lời khuyên của An Nam lý số hữu trình tuyển
và quả nhiên đúng như lời xấm ấy.
Nhà Mạc lên Cao Bằng thì tồn tại được thêm ba đời vua nữa là Mạc Kính Cung
chỉ vì từ năm 1593 đến năm 1625.
Mạc Kính Khoan chỉ vì từ năm 1623 đến năm 1625.
Mạc Kính Vũ chỉ vì từ năm 1638 đến năm 1677.
Như vậy, khi lên Cao Bằng, Nhà Mạc tồn tại được thêm hơn 80 năm
trong tổng cộng 150 năm tồn tại.
Chiến tranh Nam Bắc Triều kết thúc không lâu thì nước ta lại rơi vào một cuộc chiến tranh khác.
Vào năm 1545, Nguyễn Kim, người đứng đầu các cựu thần nhà Lê bị sát hại,
còn rể là Trịnh Kiểm lên thay.
Ngay sau khi lên thay, Trịnh Kiểm nổi lòng tham muốn nắm trọn binh quyền
nên đã cho đầu động giết con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông vào năm 1568.
Nguyễn Hoàng là con trai thứ của Nguyễn Kim,
thấy anh trai mình bị anh rể sát hại đã lấy làm lo lắng.
Khi đó, Nguyễn Hoàng nghe danh Nguyễn Bỉnh Kiêm đã lâu
liền cho người đến tìm Trạng Trình nhớ ông quân sư.
Lúc đó, Nguyễn Bỉnh Kiêm đã 77 tuổi và đang ở ẩn tại Am Bạch Vân.
Nguyễn Bỉnh Kiêm rất tử tốn, đưa viên quan mà Nguyễn Hoàng cử đến ra Hòn Non Bộ
và chỉ tay vào con kiến đọc một câu xấm
Hoành Sơn Nhất Đái Khả Dĩ Dung Thân.
Câu này có nghĩa là một dài hoành sơn có thể dung thân được.
Viên quan thấy vậy hiểu ý liền về báo lại cho Nguyễn Hoàng.
Nguyễn Hoàng bèn nhớ chị xin với anh rể là Trịnh Kiểm
cho vào chấn thủ đất Thuận Hóa từ Đéo Ngang trở vào.
Vì khi đó, vùng Thuận Hóa trở vào vừa sát sôi lại hẻo lánh,
nghèo nàn vô cùng nên Trịnh Kiểm đã đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào Nam.
Do đó khi vào Nam, Nguyễn Hoàng không chỉ giữ được mạng sống mà còn làm nền cơ nghiệp
đó là dựng nền lực lượng họ Nguyễn ở phương Nam.
Được sự ủng hộ của người dân Thuận Hóa,
Nguyễn Hoàng dần dần tập hợp lực lượng để ra đánh họ trịnh ở phía Bắc.
Sau nhiều năm đấu tranh trên các mặt ngoại giao,
xung đột thì đến năm 1627, chiến tranh giữa hai họ diễn ra thực sự.
Trận chiến không phần thắng bại nên đến năm 1672,
hai họ đã lấy sâm danh ở Quảng Bình làm giới tuyến tự nhiên.
Nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai đảng, đảng trong và đảng ngoài.
Từ đó, ở hai đảng thành lập hai chính quyền cùng tồn tại sam song.
Đúng theo lời tiên tri của Trạng trình Nguyễn Bình Khiêm,
dòng họ Nguyễn nắm quyền trong một thời gian dài.
Tuy có bị đất đoạn thời Vương Triều Tê Sơn,
nhưng nhà Nguyễn sau này do Nguyễn Ánh Gia Long thành lập
chính là sự nối tiếp của Chúa Nguyễn trước đó.
Như vậy, chúng ta thấy Việt Nam có hình dạng chữ S như ngày nay,
có đóng góp không nhỏ của Nguyễn Bình Khiêm.
Sau này, nhà Nguyễn đã đổi câu sấm của Trạng trình thành
Hoành Sơn Nhất Đái Vạn Đại Dung Thân,
nghĩa là một dài Hoành Sơn có thể tồn tại mãi mãi.
Với hy vọng tồn tại mãi mãi, nhưng đúng theo lời sấm,
nhà Nguyễn tồn tại dài, nhưng cũng chỉ có thể tồn tại đến năm 1945,
khi cách mạng tháng 8 thành công.
3. Lời tiên tri giúp Chúa Trịnh phò vua lê để cùng trị nước
Thời kỳ vua lê Chúa Trịnh là một hình thức nhà nước đặc biệt
của nước ta thời kỳ phong kiến.
Khi lê Trung Tông mất, lại không có con để nối ngôi,
Chúa Trịnh có ý định xoán ngôi của nhà lê,
nhưng vẫn chưa dám liểu lĩnh.
Trịnh Kiềm đã cho người đến hỏi ý kiến của Nguyễn Bình Khiêm.
Khi viên quan đến trình bày, Trạng trình không nói gì,
chỉ dẫn viên quan ra chùa Tháp Hương và nói một câu rằng
Mấy năm nay mất mùa, nên tìm giống cũ mà gieo.
Sau đó, Nguyễn Bình Khiêm bảo chú Tiểu ra quét dọn chùa và nói
Giữ chùa thờ Phật thì an toàn.
Ý của Nguyễn Bình Khiêm là Trịnh Kiềm vẫn nên giữ
làm bề tôi của họ lê thì hơn.
Ngay khi viên quan về báo lại, Trịnh Kiềm liên cho tìm tôn thất họ lê
thuộc chi lê trừ, quyết định đưa lên ngôi,
vì đó chính là lê Anh Tông.
Họ Trịnh tồn tại đằng sau họ lê.
Họ lê làm vua, nhưng quyền lực thực sự lại nằm trong tay họ Trịnh.
Tình trạng này tồn tại khoảng 200 năm,
nên người ta thường nói lê tồn, Trịnh tại.
Vào năm Minh Mạng thứ 14,
Nguyễn Công Trứ được vua Minh Mạng cử đi khai hoang ở vùng Hải Dương.
Vì Nguyễn Công Trứ thấy muốn phát triển vùng này
Nguyễn Công Trứ đã cho người phá đền để làm công trường xây dựng sông.
Nhưng khi sai người mang bát hương ra,
thì Nguyễn Công Trứ nhìn thấy dưới bát hương có một vật gì đó.
Tới xem, ông mới biết đó là một tấm bia đá nhỏ, phủ vải điều.
Nguyễn Công Trứ lau sạch và đọc được dòng chữ.
Minh Mạng thập tứ, thằng Trứ phá đền, phá đền phải làm đền.
Nào ai đụng đến doanh viên nhà bay?
Thế vậy, Công Trứ liền gửi sớ về xin vua bãi bỏ lệnh phá đền.
Sau đó, Nguyễn Công Trứ còn xin cho sửa lại đền thờ Nguyễn Bình Hiêm, Khang Trang hơn.
Cũng tương tự câu chuyện trên, nhân gian có kể lại câu chuyện
có hai bố con ông Khả đi bắt chuột để kiếm sống.
Khi đi qua mộ của trạng trình, đã vô tình làm đổ bia.
Dân làng thấy vậy, đã bắt cha con nhà Khả đền 3 quan tiền mới tha.
Khi xem tấm bia, thì dân làng thấy dòng chữ.
Cha con thằng Khả đánh ngã bia tao, làng xóm xôn xao, bắt đền tam quán.
Cha con ông Khả chạy về kiếm tiền đền, nhưng chỉ được quan 8.
Đúng như lời phạt của trạng trình, tam quán là quan 8.
Câu chuyện này chỉ do nhân dân kể lại, nên cũng chưa được xác định.
Trước lúc mất, trạng trình Nguyễn Bình Hiêm có giao cho con cháu
một ống tre được sơn son thép vàng rất đẹp.
Ống tre ấy được bịt kín hai đầu.
Nguyễn Bình Hiêm dặn con cháu, đúng năm tháng ấy,
ngày ấy giờ ấy phải để cái ống ấy vào kiệu
Ông cũng dặn con cháu không được mở ống ra xem trước thời hạn
và trừ quan tổng đốc ra thì không ai được mở ống.
Sau khi trạng trình bất, con cháu trạng trình rơi vào cảnh đói nghèo, xa xút.
Nhưng phải đến đời thứ 7, con cháu mới được rước ống tre
mà Nguyễn Bình Hiêm giao cho để đưa lên tổng đốc.
Vào ngày đã hẹn, con cháu trạng trình mang ống tre đến xin gặp.
Quan tổng đốc Hải Dương đang nằm nghỉ trong nhà rất ngạc nhiên,
nên cho truyền vào.
Vừa giất lời cho truyền, ông tổng đốc đứng dậy ra khỏi giường
thì trước xa nhà là bằng gỗ nặng, đã bị mọt, ăn hỏng,
rời ngay xuống chỗ giường ông vừa nằm.
Quan tổng đốc mở ống tre ra xem thì thấy có ghi hai câu thơ
Nghĩa là cứu người thoát nạn đổ nhà,
người nên cứu cháu con ta khỏi nghèo.
Từ đó ông đã giúp đỡ con cháu của trạng trình để đền ơn cứu mạng.
Khi nói về nhà Tây Sơn, Nguyễn Bình Hiêm có những câu thơ sau
Theo phân tích thì ý nghĩa của câu nói này là Nguyễn Bình Hiêm muốn nói đến Nguyễn Nhạc,
anh cả của ba anh em họ Nguyễn.
Lại có câu
Nghĩa là làm thế nào thời ấy tên biện lại làm vua,
lúc ấy bắc phải hết, nam cũng chạy.
Hai câu này dự đoán có người làm biện lại sau sẽ làm vua.
Đúng với Nguyễn Nhạc, trước khi xưng vường,
Nguyễn Nhạc làm chức biện lại ở huyện Văn Đồn.
Nguyễn Nhạc cùng hai em trai mình đã lật đổ tộc đoàn Lê Trịnh ở phía Bắc
và họ Nguyễn ở phía Nam.
Ngoài ra còn có sáu câu nữa là
Bao giờ trúc mọc qua sông, mặt trời sẽ lại đỏ hầm non tây.
Hai câu này nói đến việc Tôn Sĩ Nghị dẫn quân Thanh sang xâm lượng năm 1789.
Khi đó, Tôn Sĩ Nghị cho bắt một cây cầu tre ngang sông Hầm.
Sau cuộc kháng chiến chống Thanh,
Hoàng Trùng được nhà Thanh công nhận vào phong chức An Nam Quốc Vường.
Đoài cung một sớm đổi thay, chấn cung sao cũng xa ngay chẳng còn.
Hai câu này nói đến việc Quang Trung qua đời.
Sau khi Quang Trung qua đời, chấn cung,
nghĩa là người trên ở đây là Nguyễn Nhạc, cũng chết.
Đầu cha lộn xuống chân con 14 năm tròn hết số thì thôi.
Ý của hai câu này là sự đoán về tên của Quang Trung và con mình khi đó là Quang Toản
và cũng sự đoán rằng vương triều này chỉ tồn tại được 14 năm.
Như vậy, chỉ qua một bài thơ,
Nguyễn Bình Khiêm đã có thể khắc họa toàn cảnh một cách chính xác về thời Tây Sơn.
