"Vào ngày 10 tháng 6 năm 2019, một cậu bé 6 tuổi tại Lhasa, Tây Tạng, khi đang ở trong hang động Thanh Phổ cách chùa Samye 13 km về phía Đông, đã nhớ lại quá trình tu hành của mình từ hàng trăm đến hàng nghìn năm trước và bỗng nhiên bật khóc nức nở. Đoàn tùy tùng đi cùng, bao gồm cả Thái hậu Bhutan, cũng bị xúc động bởi bầu không khí lúc đó và rơi nước mắt. Cậu bé nói rằng mình đã từng tu hành và ngồi thiền tại đây. Vậy rốt cuộc chuyện này là thế nào?
Cậu bé tên là Ngawang Jigme Jigten Wangchuck, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2013 trong hoàng gia Bhutan. Cậu là cháu ngoại của vị vua Bhutan đời thứ tư Jigme Singye Wangchuck, mẹ cậu là Công chúa Sonam Dechan Wangchuck. Khoảng từ năm 3 tuổi, cậu bắt đầu kể với gia đình về tiền kiếp của mình, thậm chí còn có thể nói ra tên các tu viện khác nhau ở Tây Tạng và vị trí địa lý của chúng, điều này vô cùng thần kỳ. Thông thường khi nhắc đến ""Linh đồng chuyển thế"", nhiều người sẽ nghĩ ngay đến Tây Tạng, nhưng ở Bhutan người dân cũng tin tưởng phổ biến vào việc luân hồi và rất tôn trọng các Linh đồng chuyển thế. Ngay cả hoàng gia Bhutan cũng hết sức kính trọng những Linh đồng được coi là hiện thân của các cao tăng."
Vào ngày 10 tháng 6 năm 2019,
một cậu bé 6 tuổi tại Lhasa, Tây Tạng
khi đang ở trong hang động Thanh Phổ, cách chùa Samye
13 km về phía đông, đã nhớ lại quá trình
tu hành của mình từ hàng trăm đến hàng nghìn năm trước
và bỗng nhiên bật khóc nức nở.
Đoàn tùy tùng đi cùng, bao gồm cả Thái hậu Bhutan
cũng bị xúc động bởi bầu không khí lúc đó và rơi nước mắt.
Cậu bé nói rằng, mình đã từng tu hành và ngồi thiền tại đây.
Vậy rốt cuộc chuyện này là thế nào?
Cậu bé tên là Ngawang Jigme Jigten Wangchuk
sinh ngày 23 tháng 6 năm 2013
trong Hoàng gia Bhutan.
Cậu là cháu ngoại của vị vua Bhutan đời thứ tư
Jigme Shinje Wangchuk.
Mẹ cậu là công chúa Sonam Dechan Wangchuk.
Khoảng từ năm 3 tuổi, cậu bắt đầu kể với gia đình
về tiền kiếp của mình, thậm chí còn có thể nói ra
tên các tu viện khác nhau ở Tây Tạng
và vị trí địa lý của chúng.
Điều này vô cùng thần kỳ.
Thông thường khi nhắc đến linh đồng chuyển thế
nhiều người sẽ nghĩ ngay đến Tây Tạng.
Nhưng ở Bhutan, người dân cũng tin tưởng phổ biến
vào việc luân hồi và rất tôn trọng các linh đồng chuyển thế.
Ngay cả Hoàng gia Bhutan cũng hết sức kính trọng
những linh đồng được coi là hiện thân của các cao tăng.
Linh đồng chuyển thế ở Bhutan được gọi là Tunku
bắt nguồn từ Phật giáo Tây Tạng.
Tại Bhutan, hai dòng phái Ninh Ma và Kha Nhi Cư
là những tông phái chính.
Trong bối cảnh văn hóa xã hội như vậy
Hoàng tử Bhutan Ngaoang Jigme
ngay sau khi sinh không lâu
đã được xác nhận là linh đồng chuyển thế
của đại dịch giả Vajrosana
từ hơn 1.000 năm trước.
Vajrosana là một nhân vật vô cùng quan trọng
vào giữa thế kỷ thứ 8.
Khi liên hòa sinh đại sư chuyển pháp
tại Tây Tạng, Ngài có 25 đại đệ tử
và Vajrosana chính là đệ tử
được liên sư sủng ái nhất.
Ngài là một bậc thầy mật tông nổi tiếng
xuất hiện trong thời kỳ tiền hồng của Phật giáo Tây Tạng.
Là một trong những dịch giả đầu tiên
đưa mật pháp từ Ấn Độ vào Tây Tạng.
Thời điểm đó, Ngài phụ trách
rất nhiều công việc dịch thuật kinh văn
và là dịch giả được tính trọng nhất Tây Tạng lúc bấy giờ.
Do những thành tựu vĩ lại
của quá khứ của Vajrosana
dù Ngaoang Jigme còn nhỏ tuổi
nhưng nhiều người đã tôn xưng cậu
là Rinpoche, nghĩa là bậc thầy tôn quý.
Tháng 6 năm 2019,
Rinpoche cùng bà noại,
Thái hậu Bhutan, mẹ,
anh trai và đoàn quay phim
khởi hành đến Lhasa, Tây Tạng
để tìm lại dấu chân của đại dịch giả
Vajrosana và trở về quê hương
của Ngài.
Ngày 5 tháng 6, họ bay từ sân bay quốc tế
duy nhất của Bhutan là Paro
đến Nepal, sau đó ngày 7
mới đến Lhasa.
Khi vừa đến khách sạn, Rinpoche kéo dèm
cửa ra, cậu giống như một người cũ
trở lại trốn xưa, nói rằng
Tây Tạng thay đổi quá nhiều, cậu đã
không còn nhận ra nơi này nữa.
Đúng lúc đó, trên bầu trời xuất hiện
một giải cầu vòng vàng kim.
Rinpoche nói với mọi người
rằng trong chuyến đi này, cậu sẽ hé lộ
5 phép mầu và giải cầu vòng
các tường này chính là phép mầu đầu tiên.
Sau đó, cậu chỉ tay về phía
cầu vòng và nói, ở cuối giải cầu
vòng có một hang động nơi đại dịch
giả Vajrosana từng tu hành.
Các quan chức ngoại giao Trung Quốc đi cùng
thấy cảnh này đều cảm thấy vô cùng khó tin.
Ngay cả cư dân địa phương cũng nói
cả đời họ chưa từng thấy cảnh tượng
như vậy. Nhìn từ phía cuối
cầu vòng, vị trí đó nằm trên một ngọn
núi gần chùa Samye. Đây cũng là
một trong những điểm đến trong hành trình của họ.
Ngày 8 tháng 6,
điểm dừng chân đầu tiên của Rinpoche
là cung điện Potala.
Cung điện này do Hoàng đế Tùng Sán Cán Bố
của Vương Triều Thổ Phồn xây dựng
vào thế kỷ thứ bảy. Vì Potala
là địa điểm hành hương của nhiều linh đồng
truyền thế, Rinpoche cũng được
sắp xếp đến đây tham bái theo lịch trình.
Ngày tiếp theo, cả đoàn đến chùa
Dragyepa, nơi Liên Hoa
sinh Đại sư từng tu hành.
Vì đường núi gập gành,
Rinpoche được các nhà sư cõng trên lưng.
Cả đoàn đi bộ theo lộ trình của hướng dẫn viên.
Bất ngờ, Rinpoche
như nhớ ra điều gì đó. Cậu chỉ
vào một con đường khác và nói
hàng động của Vairosana ở đằng kia
yêu cầu mọi người đi theo hướng đó.
Tuy nhiên, vì đoàn đông người,
có người bán tín bán nghi, bởi đây
là lần đầu cậu đến đây, nếu lạc đường
thì rất rắc rối. Ngay cả hướng
dẫn viên và quan chức Trung Quốc cũng nói
khu vực đó không có hàng động nào cả.
Tuy nhiên, Thái hậu Putan
vẫn tin lời cháu trai. Bà nói rằng
lát nữa khi quay lại, mọi người sẽ qua đó
xem sau. Cứ như vậy,
cả đoàn vẫn theo kế hoạch cũ đi đến
một hàng động khác. Khi đang leo núi
được nửa đường, Rinpoche vẫn chỉ tay
về hướng cũ và nói, chính là chỗ đó
phía sau bảo tháp dưới chân núi.
Đi xuống một đoạn sẽ có một hàng động.
Cậu có vẻ rất thông thuộc địa hình
nơi này và khăng khăng muốn đi.
Sau đó,
cả đoàn đến điểm dừng chân theo kế hoạch
ban đầu. Khi vào hàng,
Rinpoche hào hứng nói với bà ngoại rằng
đây là hàng động nơi tủng tán cán bố
tu hành. Còn một hàng khác nhìn
từ bên ngoài vào là giả.
Sau khi được người địa phương xác nhận,
những gì Rinpoche nói hoàn toàn chính xác.
Cậu thành thục dâng một giải
khata lên tượng thờ rồi
yêu cầu được ngồi thiền trong hang.
Khata là một loại giải lụa trong
văn hóa Tạng và Mông Cổ dùng
để bày tỏ sự kính trọng và chúc mừng.
Nó không chỉ là vật phẩm lễ nghi
mà còn tượng trưng cho sự thuần khiết,
cát tường và phước lành.
Cứ như thế, cậu bé 6 tuổi
ngồi tĩnh lặng trong hang suốt hơn nửa giờ đồng hồ.
Sau đó, mọi người
không thể chờ đợi thêm, lập tức tiến
về nơi Rinpoche đã chỉ để xem có
thực sự có hàng động nào không.
Đến chân núi, Rinpoche thay thế
hướng dẫn viên để dẫn đường. Tuy nhiên,
đi được nửa đường, nhân viên đi cùng thông báo
con đường phía trước đã bị phong tỏa,
không thể đi tiếp. Rinpoche nói
ở dưới chân ngọn núi đó có một
hàng động rất nhỏ. Cậu hỏi mọi người
các vị có biết Vairosana
đã vào cái hang nhỏ như thế để tu hành
bằng cách nào không? Cậu giải thích rằng
Vairosana có thể thu nhỏ cơ thể
nên mới vào được hang nhỏ đó để luyện tập.
Người bình thường không thể vào được.
Hơn nữa, hang động đã được giấu đi
nên mắt thường không thể thấy.
Vì đường bị chặn, Rinpoche hướng
về phía hang động lễ lại rồi đặt
một giải kháta lên một tảng đá lớn.
Từng cử chỉ của đứa trẻ này
trông giống như một vị lão tăng.
Ngày hôm đó, Rinpoche đã nhận ra
hai hang động cậu từng đến trong quá khứ.
Đây cũng là phép mầu thứ hai
trong hành trình. Tiếp theo,
đoàn đến một địa danh được quảng bá rộng rãi
là hang động tu hành của Vairosana.
Rinpoche nói thẳng
hang này là giả, rồi cậu
quay đầu chỉ vào một hang nhỏ khác nói
đó mới là thật. Cậu nói mình từng
đến đây vào năm 777, vì vậy
đối với hang động giả này cậu
không có gì để nói. Trên đường về,
Rinpoche nói với bà ngoại rằng
trong đoàn có một số người sẽ trở
đến xấu xa do nghiệp trướng nhặn nề,
vì vậy cậu muốn cầu nguyện cho mọi người,
hy vọng mọi người trở thành người vệnh toàn
đạo đức để không bị đoạ vào địa ngục
trong tương lai. Ngày
10 tháng 6, Rinpoche và đoàn
đến khu tu hành thành phố linh thiêng nhất
Tây Tạng. Truyền thuyết đề rằng
trong núi có 108 hang động tu hành.
Nhờ nạn diệt vật của vua Lang Dharma
dẫn đến thời kỳ tiền hồng kết thúc,
nhiều tăng ni bị bức hại đã
đem kinh sách và văn vật trôn giấu
trong núi, trở thành những phục tạng
quý giá được các cao tăng thời hậu hồng
khai quật. Nghe nói đến nay
vẫn còn nhiều phục tạng trôn sâu trong núi.
Đoàn đến đây không chỉ vì đây
là thánh địa, mà còn vì có nhiều
tôn giả từng tu hành tại đây như
tịch hộ đại sư, liên hoa sinh đại sư,
vua chi sông Đất Sen,
và tất nhiên là cả đại dịch giả Vairosana.
Năm xưa, liên hoa sinh đại sư
chính là tại thành phố đã
truyền dạy giáo pháp cho 25 đại đệ tử,
nên nơi này chắc chắn để lại
ấn tượng sâu đậm với Vairosana.
Sau 2 giờ đi bộ,
mọi người đến hang động nơi tôn giả
Nanamshyang ECD từng tu hành.
Ngài vốn là thị giả của vua chi sông Đất Sen
và là một trong những đệ tử
thân cận của liên hoa sinh.
Trong hang động này, Rinpoche
bất ngờ yêu cầu mọi người ra ngoài
chỉ để lại một linh đồng chuyển thế khác đi cùng.
Hai người cùng ngồi thiền trong hang.
Rinpoche còn thực hiện nhiều thủ ấn
giống như đang kết nối hoặc
giao tiếp với các đại sư quá khứ,
khiến người ta tự hỏi
liệu cậu có đang ôn chuyện với người bạn cũ hay không.
Trước khi rời đi,
người giữ hang sau khi biết Rinpoche là chuyển thế
của Vairosana đã cảm động
quì sụp xuống đất khóc nức nở
cầu xin cậu ban phúc cho mình.
Kế đến, đoàn cuối cùng đã tới nơi
mà ai cũng mong đợi, được cho là hang động
Vairosana từng tu hành tại thành phố.
Rinpoche vừa vào đã tỏ ra
quen thuộc, bước nhanh xuống dưới.
Khi đến trước tượng Vairosana,
cậu quì xuống lại. Bầu không khí
trong hang bóng trở nên thanh tịnh,
cảm xúc của Rinpoche cũng trở nên mạnh liệt.
Cậu vừa chắp tay vừa bắt đầu nức nở,
thậm chí có lúc từ chối quay phim
điều chưa từng xảy ra trong những ngày trước.
Mọi người nhất thời lúng túng.
Khi được hỏi tại sao khóc,
cậu bé xúc động không nói nên lời.
Tất cả những người có mặt đều bị lây lan nỗi buồn này.
Rinpoche chỉ có thể gượng vững lại
cảm xúc và nói là con là con
rồi mới thốt ra từng chữ
con là Vairosana.
Sau khi bình tĩnh lại, cậu dâng một giải
khata trắng lên bức tượng.
Anh trai cậu cố gắng hỏi tại sao cậu khóc
nhưng cậu không muốn nói thêm.
Anh trai chỉ biết ôm và an ủi cậu,
thề sẽ dùng cả đời để bảo vệ cậu.
Những người có mặt chứng kiến cảnh này
đều không cầm được nước mắt.
Sau khi rời hang, Rinpoche tiết lộ
cậu từng ngồi thiền ở đây trong một thời gian rất dài
đến mức cơ thể trở nên gầy yếu.
Có người cho rằng cậu xúc động
là vì nhớ lại nỗi khổ tu luyện xưa kia
hoặc do ký ức nghị năm ủa về
nên mới bùi ngùi.
Nhưng sau đó, cậu lại giải thích rằng
cậu nhận ra mình nhờ phúc báo và nhân duyên cực lớn
mới có thể trở lại đây.
Hang động này chính là hang ở cuối giải cầu vòng
mà cậu đã thấy khi vừa tới Lhasa.
Phép mầu thứ ba cậu hé lộ
chính là việc nhớ lại quá trình tu hành năm xưa.
Khu tu hành thanh phổ
tuy thánh địa nhưng cũng chỉ là một phần
trong cuộc đời Vairossana.
Điểm đến tiếp theo là chùa Samye,
chùa Phật giáo đầu tiên của Tây Tạng.
Chùa tọa lạc tại trấn Samye,
huyện Dranang, địa cấp thị Sơn Nam.
Cấu trúc chùa kết hợp giữa
bảo tháp Ấn Độ, điện đường Kiều Hán
và bố cục Kiều Tạng, tổng thể
thể hiện cấu trúc Mandala.
Điện chính ở giữa tượng trưng cho múi Tuzi,
trung tâm vũ trụ, xung quanh là bốn đại châu
thể hiện rõ thế giới quan mật giáo.
Là chùa sớm nhất Tây Tạng
xây dựng vào thế kỷ thứ 8 theo lệnh
của vua Chi sông Desen, Samye
đánh dấu việc Phật Pháp chính thức truyền vào
vùng cao nguyên suyết trắng.
Để Phật Pháp bén rễ, nhà vua đã thình mời
liên hoa sinh và tịch hộ đại sư
hỗ trợ truyền Pháp và xây chùa.
Vì vậy, Samye trở thành chùa đầu tiên
có chế độ tăng đoàn hoàn chỉnh.
Thất giác sĩ, 7 người đi tu đầu tiên
bao gồm Vai Rosana
đều xuất ra thọ giới tại đây.
Đại dịch giả cũng đã làm rất nhiều
công việc dịch kinh và truyền thừa
giáo Pháp tại nơi này, nên đây
là nơi Rinpoche nhất định phải đến.
Khi Rinpoche
đến chùa Samye, cậu nhận được
sự chào đón nồng nhiệt của tín đồ
địa phương. Đầu tiên, mọi người
đến học đường dịch thuật đầu tiên
của Vai Rosana. Vào
đại sảnh, Rinpoche quan sát
kỹ xung quanh, cậu nhận ra một nơi
đặt dầu hương chính là bản viết
của mình ở tiền kiếp.
Lên tầng cao nhất, nơi có điện thờ
đại dịch giả thờ nhiều pho tượng
khác nhau. Mặc dù tên các
pho tượng đều bị y phục che khuất,
nhưng Rinpoche ngay lập tức nhận ra
Sau đó, cậu chỉ vào bức họa
liên hoa sinh đại sư, và nói
đó là sư phụ mình. Rồi
chỉ vào một pho tượng bên cạnh, nói
đó là thầy của mình, tịch hộ
đại sư. Cậu nhớ lại ký ức
tiền kiếp rằng, năm xưa mình
vốn thiên tư thông tuệ. Mới
năm tuổi, thầy đã rất hài lòng về
biểu hiện của cậu, và nói cậu có thể
tốt nghiệp. Nhưng cậu cảm thấy
chưa đủ, phải học đến năm 51
tuổi mới được. Rinpoche còn
nói, pho tượng này tạc giống hệt
thầy của mình. Năm tuổi có thể
tốt nghiệp, chứng tỏ Vairosana
chắc chắn là một thiên tài.
Theo các cổ thư như Tiệp hỷ
Hiền Giả và Vương Thống Ký
Tây Tạng, Vairosana từ nhỏ
đã bộc lộ năng khiếu ngôn ngữ và
trí nhớ, thông thạo cả tiếng phạn
và tiếng tạng.
Khi ra sân ngoài, Rinpoche lập tức
nhận ra đây là nơi cậu và
liên hoa sinh đại sư gặp nhau lần đầu,
và giữa sân là chỗ gồi
của liên sư. Cậu nhớ
mình đã học ở đây từ nhỏ.
Rinpoche trông có vẻ cực kỳ thông thuộc
nơi này. Cậu vừa đi, vừa
giới thiệu cho mọi người, còn nhớ
cả học đường dịch thuật thứ hai,
thông tin mà ngay cả các nhà sư
địa phương cũng không rõ. Vì
sau hơn một nghìn năm, học đường thứ
hai nay đã trở thành Điện Thờ Phật
Dược Sư. Rinpoche nhớ lại
ban đầu ở đây có rất nhiều ghế,
tiền kiếp cậu thường xuyên đến đây
nghỉ ngơi. Tiếp đó, họ
đến một điện màu xanh. Theo
lời cậu thì đây là học đường dịch thuật
thứ ba, nơi hoàn thành nhiều công việc
dịch kinh, nhưng nay được dùng để
Thờ Phật nhiên đăng. Sau đó
cậu giải thích với bà ngoại rằng
thời đó dịch giả được chia làm ba cấp,
sơ cấp, trung cấp và
cao cấp. Dịch giả cao cấp
có kiến thức và kinh nghiệm vô cùng phong phú.
Cậu nói mình chính là dịch giả
cao cấp và là học sinh thông minh
nhất. Ngày hôm đó,
Rinpoche hé lộ phép mầu thứ tư
chính là nói ra ba cấp bậc dịch giả
và nhận ra nơi tu tập
của Vairosana. Ngày
12 tháng 6, đoàn đưa Rinpoche
đến huyện Nghê Mô, cách La Sa
140 km, nơi tương
truyền là nơi sinh của Vairosana,
một địa danh gọi là Agor.
Rinpoche nhớ, năm xưa
mình là con một trong nhà. Ở đây
có rất nhiều nhà và nhà cậu là
lớn nhất, nhưng giờ nhà cửa
không còn lại bao nhiêu. Trên
đường về, mẹ hỏi cậu hiện nay vị thần
bảo hộ Tây Tạng là ai? Cậu
nói đó là bí mật không thể tiết lộ
nhưng vẫn hé lộ một chút.
Vị thần đó trông giống một con quạ,
có ba mắt, lồng mi bốc lửa,
mặt màu xanh đen, cơ thể có thể
biến lớn, thu nhỏ tùy ý.
Ngày 17 tháng 6
là Ngày Dằm, một ngày đặc biệt
vì trong truyền thống Phật giáo Tạng truyền
và Hán truyền, Ngày Dằm hàng tháng
đều có ý nghĩa tôn giáo đặc thù
và được coi là Ngày Thiêng Liêng.
Rinpoche đến hành hương tại một nơi
gọi là Sava Rong, nơi
Vairosana từng bị lưu đẩy năm xưa.
Rinpoche nhớ lại
khi học dịch thuật ở chùa Samye
có một người bạn, người đó vì không
theo kịp tiến độ học tập nên cuối cùng
phải rời trường, từ đó luôn
ôn hận với Vairosana.
Năm 35 tuổi, Vairosana
bị lưu đẩy đến Sava Rong.
Người bạn này vì đố kị mà truy sát ngài.
Khi họ đến một hang núi
trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc,
Vairosana đang trốn trong góc hang
đã dùng thần thông đột ngột biến mất.
Trong chuyến đi này,
cậu lại trở về hang động năm xưa.
Rinpoche nhớ lại rất nhiều ký ức.
Hóa ra thầy của cậu cũng từng bị đẩy
đến đây. Cậu cùng Liên Hoa Sinh
và vài người bạn cũng ở đây.
Thực ra đây là một hang rắn.
Khi cậu ngồi thiền, cơ thể có thể bay
bỏng lên nên rắn không cắn được.
Cậu nhớ khi ngồi thiền, có thể
suốt một tuần không ăn, không uống.
Cậu còn nhớ khi tu hành tại đây
có một nữ ma từng muốn hại mình
nhưng bất ngờ có một âm thanh vang dội
như sư tử hống đã khuất phục nữ ma.
Từ đó không còn ma quỷ nào
đến quấy diếu nữa.
Trong suốt hành trình, mỗi khi Rinpoche
đặt chân đến nơi Vairosana
từng đi qua, cậu luôn đặc biệt
hứng thú và gợi lại rất nhiều ký ức.
Rinpoche nhớ mình đã ở
Savarong một thời gian và dạy
nhiều học trò. Theo cư dân địa phương,
Vairosana quả thực từng
sống ở đó. Vùng này vốn không
có học viện Phật giáo, chính sự
xuất hiện của Ngài đã giúp Phật giáo hưng thịnh.
Sau đó họ đến một
điện thờ. Rinpoche thận trọng nói
với bà ngoại rằng, đây chính là nơi
cậu từng bị giam cầm. Cậu chỉ
vào pho tượng trong điện, nói đó là
tượng của Vairosana.
Rinpoche giải thích, năm xưa
Vua Trisong Detzen lưu đài Ngài
thực chất cũng vì ý tốt, hy vọng Ngài
sau khi trải qua khổ nạn sẽ
trở thành một đại sư vĩ đại.
Lên lầu, Rinpoche chỉ về phía
ngọn núi xa và nói sau ngọn núi đó
có một nơi tu tập rất quan trọng của cậu.
Sau khi được các sư địa phương
xác nhận, phía sau núi thực sự có
một hang động Vairosana từng tu hành.
Đó là một nơi rất linh thiêng.
Không ngờ Rinpoche lần đầu
đến đây đã biết chỗ đó, khiến
mọi người kinh ngạc. Cậu còn nói
ngày mai muốn đến đó, nhưng cậu
không biết rằng hang động này không nằm
trong lịch trình lần này, họ đã sắp xếp
đi một nơi khác. Rinpoche
tiết lộ những ghi chép về Vairosana
không hoàn toàn chính xác. Ví dụ,
ghi chép nói ngài đi bộ đến hang
tu hành, nhưng thực tế ngài cưỡi
con ngựa vàng do hộ pháp biến thành
để bay đến. Khi đến hang động
trời đã tối, nhưng khi ngài bắt đầu
ngồi thiền thì mặt trời mọc lên
vô cùng thần kỳ. Theo lời cậu,
Vairosana khi thiền định
có thể biến cơ thể lớn nhỏ tùy ý.
Đây là năng lực có được sau khi
ngộ ra chân không, tức tính không
trong hang. Trước khi đi,
các sư địa phương đưa ra một bản kinh văn
cho cậu xem. Dù chưa biết đọc,
nhưng cậu nhận ra đây chính là
kinh văn tiền kiếp cậu tự tay viết,
còn bảo mọi người đặt lại chỗ cũ.
Mọi người rất vui mừng, rõ ràng
cậu bé lại nói đúng. Cậu còn
nhận ra dấu chân trên một tảng đá
và nói đó là dấu chân của mình.
Tất cả những chuyện xảy ra ngày hôm đó
chính là phép mầu thứ năm
và cũng là cuối cùng, thời gian
trùng hợp đúng vào ngày dầm.
Khi chuẩn bị về khách sạn, Rinpoche
không quên nhắc mọi người ngày mai
nhất định phải đến nơi tu tập phía sau núi
vì đó là nơi cậu thích nhất.
Nếu không được đi, cậu sẽ khóc
suốt một tuần. Sau đó khi biết
không thể đi, Rinpoche chỉ lặng lẽ
lau nước mắt, nhưng khi về khách sạn
cậu lại đau buồn khóc lớn suốt
một giờ. Cậu nói nơi đó quan trọng
hơn cả hang thanh phủ. Cậu muốn
đến đó cầu nguyện rồi hé lộ
hai phép mầu nữa. Ngày hôm
sau, họ đến một ngôi chùa do
Vairossana xây dựng. Rinpoche
đích thân xác nhận mình từng tu hành
trong một hang động tại đây. Cậu
không chỉ chỉ ra Yudra
Ningpu từng sống ở đây mà còn chỉ
chính xác căn phòng nào.
Yudra Ningpu là một đệ tử của
Liên Hoa Sinh. Trong thời gian bị lưu đầy
quả thực đã học tập với
Vairossana. Các sư địa phương
cũng xác nhận Yudra Ningpu
từng sống tại đó. Ở trạng cuối
hành trình, Rinpoche đến một hang
động khác của Vairossana. Cậu
yêu cầu được ngồi thiền và kể
với mọi người ở đây có mấy chỗ cậu
từng ngồi, tổng cộng 100 ngày.
Cuối cùng, Rinpoche tại đây
đã dùng hình thức khẩu truyền để
truyền dạy kim quang quyết tôn cho
những người có mặt để kết thúc chuyến đi
tìm lại nguồn gốc này.
Chuyến đi của Rinpoche quả thực đầy
phép màu, thông qua ký ức của Rinpoche
đã giúp thế giới thấy được những
sự tích chưa từng được biết đến từ hàng
nghìn năm trước của đại dịch giả
Vairossana, có thể nói là vô cùng
thần kỳ và quý giá.
Ngày chớp mắt hơn 6 năm đã trôi qua,
Rinpoche đã lớn thành một cậu bé
12 tuổi, thường xuyên giảng pháp
cho chúng sinh và tham dự các hoạt động
Phật giáo ở Bhutan.
Video xin được phép tạm dừng ở đây.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi Đông Tây Kim Cổ.
Xin chào và hẹn gặp lại
trong những video tiếp theo.