Thời Kỳ Nhà Hậu Trần (1407 - 1414) | Nỗi Đau Một Nước Hai Vua.

Đình Sự
538 người theo dõi
Năm 1406, non sông Đại Ngu chìm trong biển máu và sự lừa dối tàn bạo của nhà Minh.
Nhưng từ đóng cho tàn, ngọn lửa hậu trần vụt sáng với những chiến thắng, chấn động tâm can.
Thế nhưng, lịch sử lại chứng kiến bi kịch đau đớn nhất,
khi vua tự tay chém đầu tướng Tài hay vị tướng dũng cảm ăn óc kẻ thù rồi mắng rạc đến hơi thở cuối cùng.
Một bản hung ca bi tráng, đầy máu và nước mắt sắp được hé lộ.
Năm 1406, vó ngựa của quân xâm lực nhà Minh dưới ngọn cờ giả dối phù trần diệt hồ,
đã một lần nữa dày xéo lên non sông Đại Ngu.
Chiều đại nhà hồ, với những cuộc cải cách còn giang dở và lòng dân chưa kịp quý tụ,
đã sụp đổ nhanh chóng chỉ sau 7 năm tồn tại ngắn ngủi.
Đến khi cha con Hồ Quý Ly bị bắt và áp giải về phương Bắc,
người Minh đã lật bài ngửa phơi bày toàn bộ giã tâm xâm lực của mình.
Chúng cho treo những bảng văn lớn, giả vờ cho tìm con cháu Họ Trần để phục hồi lại ngôi vị.
Thế nhưng, cùng lúc đó, chúng lại ép buộc toàn bộ quân lại và các bố lão trong nước phải làm những tờ khai,
đồng thanh nói rằng con cháu Họ Trần đã không còn một ai và đất Việt vốn là đất giao châu của Thiên Triều ngày trước,
nay xin được đặt lại quận huyện như cũ để dễ bề cai trị.
Nhà Minh đã dùng chính sự giả dối, man kịch do chúng dựng nên,
để làm cái cơ hợp thức hóa cho việc chiếm giữ nước ta.
Ngay sau đó, chúng xóa bỏ quốc hiệu Đại Ngu,
chia đất nước ta ra làm 17 phủ Nam Châu,
rồi sai các quan lại người Hán sang cai trị một cách tàn bạo,
mở ra một chương đen tối trong lịch sử dân tộc,
được biết đến là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư.
Sau khi đã sắp đặt xong xuôi mọi việc,
hai viên tướng chủ chốt là Trương Phụ và Mộc Thạnh đem đại quân về Trung Quốc,
chỉ để lại lưỡng nghị và hoàng phúc, ở lại chân giữ giao trì.
Một màn đêm nô lệ dường như đã bao chùm lên toàn bộ đất nước.
Thế nhưng, dù Giặc Minh đã chiếm giữ được đất Việt,
dù châu đình nhà Hồ đã tan giã, ngọn lửa yêu nước
và ý chí độc lập của người Việt chưa bao giờ bị dập tắt.
Dòng máu lạc hồng, dòng máu của một dân tộc
đã từng ba lần đánh bại đế chế Nguyên Mông Hùng Mạnh
vẫn đang sục sôi trong huyết quản của mỗi người dân.
Con cháu nhà Trần, dù bị săn lùng,
vẫn nung nấu ý chí khôi phục lại cơ nghiệp của Tổ tiên.
Và người dân Đại Việt không một ai cam tâm
cuối đầu làm nô lệ cho nước Tàu.
Chính trong bối cảnh tăm tối đó,
một phong trào kháng chiến mới đã được nhen nhóm nhà Hậu Trần,
dù chỉ tồn tại được vài năm ngắn ngủi,
đã nổi lên như một ngọn đuốc sáng trong đêm dài nô lệ.
Lúc trước, khi Trương Phụ cho chào bảng tìm con cháu nhà Trần,
tuy bên ngoài miệng lưỡi nói là để phục vị,
nhưng thực chất đó là một cái bẫy thâm độc,
nhằm dụ những người còn xuất lại trong hoàng tộc ra mặt,
để chúng có thể ra tay giết hại, diệt cỏ tận gốc.
Bởi vậy, không một ai dám đứng ra.
Giữa lúc đó, có một vị hoàng thân tên là Trần Ngũi,
là con trai thứ của vua Trần Nghệ Tông,
đã may mắn trốn thoát và chạy về vùng đất Yên Mô,
Ninh Bình ngày nay, để tránh sự truy sát của quân mình.
Tại đây, ông đã gặp được một vị thổ hào yêu nước
tên là Trần Triệu Cơ.
Cảm phục trước khí phách của dòng dõi nhà Trần,
Trần Triệu Cơ đã tập hợp dân chúng trong vùng,
quyết đi theo Trần Ngũi để mưu đồ việc lớn.
Được lòng người ủng hộ, Trần Ngũi bèn tự xưng là giàn định hoàng đế,
đặt nên hiệu là Hưng Khánh, chính thức dựng cờ khởi nghĩa,
với mục tiêu cao cả là đánh đuổi quân mình,
nối lại cơ nghiệp của nhà Trần.
Những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa vô cùng gian năn.
Quân hậu Trần lúc này chỉ là một đội quân mới được tập hợp,
chủ yếu là nông dân trang bị thô sơ,
chưa được huấn luyện bài bản.
Do đó, khi quân minh kéo đến đàn áp,
nghĩa quân nhanh chóng bị tan vỡ.
Giàn định đế phải rút lui,
chạy vào vùng đất Nghệ An hiểm trở
để bảo toàn lực lượng.
Thế nhưng, chính cuộc rút lui chiến lược này
lại mở ra một bước ngoặt mới cho phong trào.
Tin tức về một vị hoàng thân nhà Trần
đã dựng cờ phục cuộc bay đi khắp nơi.
Tại Hóa Châu, một viên Tri Châu,
tên là Đặng Tất, một vị quan tài năng
và có uy tín lớn trong vùng
vốn không chịu khuất phục giặc minh,
đã nghe tin.
Ông lập tức ra tay hành động,
giết chết viên quan nhà minh,
được cử đến cai trị,
rồi tập hợp toàn bộ quân lính và dân chúng trong vùng
kéo ra Nghệ An để hội quân với giàn định đế.
Giàn định đế vô cùng mừng rỡ,
lập tức phòng cho Đặng Tất làm quốc công,
cùng nhau mưu tính việc khôi phục đất nước.
Sự gia nhập của Đặng Tất
và đội quân của ông đã mang lại
một luồng sinh khí mới,
một sức mạnh đáng kể cho Nghệ quân.
Cùng lúc đó, ở Bình Than,
một người khác tên là Trần Nguyệt Hồ cũng khởi binh
chống lại nhà minh, nhưng nhanh chóng bị quân
minh đến đánh, bắt giết.
Số quân còn lại của ông cũng chạy vào Nghệ An,
theo về với vua giàn định.
Nhờ vậy, binh thế của giàn định đế
ngày một mạnh lên, biến vùng đất thanh nghệ tĩnh
trở thành căn cứ địa vững chắc
của cuộc kháng chiến.
Để củng cố uy quyền
và thanh trừng những kẻ phản bội,
giàn định đế đã kéo quân đến Diễn Châu
và Nghệ An.
Tại đây, có hai người trong dòng dõi nhà Trần
là Trần Thúc Đao và Trần Nhật Triêu.
Trước đây, vì hẹn nhát đã đầu hàng
quân minh, được trương phụ giao cho
giữ chức cai quản hai châu này.
Vua giàn định đã ra lệnh bắt giết
cả hai kẻ phản quốc này cùng hơn
600 người trong đồng đảng của chúng.
Phạm Thế Căng, một người Việt khác
đã đầu hàng giặc, được trương phụ
cho giữ chức tri phủ Tân Bình
cũng trở thành mục tiêu tiếp theo.
Tháng 6 năm 1408,
Đặng Tất đã đích thân đem
quân vào đánh, phá tan quân
của Thế Căng ở cờ biển Nhật Lệ,
bắt sống hắn và đem về sư tử.
Sau những hành động quyết đoán này,
nhà Hậu Trần đã hoàn toàn
làm chủ được toàn bộ vùng đất đài rộng lớn
từ Nghệ An trở vào, tạo ra một thế
đối trọng thực sự với chính quyền đô hộ
của nhà Minh ở Đông Đô.
Thế thể cờ đã chín mùi,
tháng 12 năm 1408,
Giản Định Đế quyết định
mở một cuộc bắt tiến quy mô lớn.
Ông cho hội quân từ khắp
các nơi, từ Thuận Hóa, Tân Bình,
Nghệ An, Diễn Châu cho đến Thanh Hóa,
rồi rầm rộ tiến ra đánh Đông Đô.
Khi Đại quân Hậu Trần tiến đến Trường An,
Ninh Bình, khí thế của Nghĩa quân
đã làn tỏa khắp nơi.
Quản lại và các hảo kiệt ở các vùng bị chiếm đóng,
vốn đã cầm ghét ách thống trị
tàn bạo của giặc Minh,
đã nô nức nổi dậy hướng ứng,
đem quân về theo vua,
khiến cho lực lượng của Nghĩa quân ngày một đông đảo.
Tin tức về cuộc bắt tiến
của quân Hậu Trần bay về Đông Đô,
rồi cấp báo sang tận Trung Quốc.
Vua Minh hoảng sợ,
lập tức sai Mộc Thạnh,
một trong hai viên tướng chủ chốt trong cuộc xâm lược lần trước,
đem bốn vạn quân tinh nghệ
từ Vân Nam sang đề đán áp.
Đồng thời, Triều Đình Nhà Minh cũng điều động
hai vạn thủy quân sẵn sàng
ở các càng biển để sang tiếp chiến,
và trưng dụng thêm một vạn quân vận tải
từ Quảng Đông để tham gia phòng vệ.
Lực lượng quân Minh được tăng cường
một cách ô ạt, quyết tâm dập tắt
ngọn lửa kháng chiến của người Việt
ngay từ trong chứng nước.
Mộc Thạnh, với sự kiêu ngạo
của một viên tướng Thiên Triều,
đã kéo quân đến Bến Bô Cô, nay thuộc Nam Định,
thì gặp đại quân của Hậu Trần đang chờ sẵn.
Một trận chiến lịch sử,
một cuộc đối đầu không cân sức
giữa một bên là đội quân xâm lược nhà nghề
và một bên là những người nông dân yêu nước
đã diễn ra vô cùng quyết liệt.
Giàn Định Đế,
trong trận chiến này, đã thể hiện
khí phách phi thường của một vị vua nhà Trần.
Ông đã đích thân cầm trống,
đứng trên cao để thúc giục quân sĩ.
Tiếng trống của nhà vua
vang lên như sấm dậy,
hòa cùng tiếng gieo hò của hàng vạn quân,
tạo thành một bản hung ca vang dội.
Được khí thế của nhà vua cổ vũ,
các tướng sĩ Hậu Trần,
ai nấy đều dốc hết sức mình,
liều chết sông lên.
Họ đã chiến đấu với một sức mạnh
không thể tin nổi,
phá tan được đội hình của quân Minh.
Trong lúc hỗn chiến,
quân ta đã chém chết được tướng Minh là Lữ Nghị
ngay tại trận tiên.
Mộc Thạnh, thấy chủ tướng bị giết,
quân lính hoảng loạn đã kinh hoàng,
vội vàng dẫn tàn quân tháo chạy
về thành cổ lộng cấu thủ.
Trận bùa cổ kết thúc với một thắng lợi vang dội,
không thể tin nổi của quân Hậu Trần.
Đây là chiến thắng lớn đầu tiên
của người Việt trước quân Minh,
kể từ khi mất nước,
nó đã thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng trong lòng toàn dân.
Sau chiến thắng bộ cổ,
khí thế của quân Hậu Trần lên rất cao.
Giản định đế muốn thừa thắng,
đánh tràn ra
để giải phóng kinh thành đông quan.
Thế nhưng, quốc công đặng tất
với sự cẩn trọng của một nhà quân sự lạo luyện
đã can ngăn.
Ông cho rằng quân ta vừa thắng trận lớn,
nên củng cố lực lượng
vây hãm các thành trị của địch,
cắt đường tiếp tế,
rồi chờ thời cơ chín mũi
mới tiến đánh.
Vua và tôi đã có những mâu thuẫn đầu tiên
về chiến lược.
Hai bên bàn tính mãi mà không đi đến quyết định cuối cùng.
Chính sự do dự này
đã tạo ra một khoảng trống chết người.
Gặp lúc viện binh nhà Minh
từ đông quan kéo đến,
đón được Mộc Thạnh về thành an toàn.
Cơ hội ngàn vàng để tiêu diệt
hoàn toàn đạo quân của Mộc Thạnh
đã bị bỏ lỡ.
Sau đó, đặng tất bèn cho chia quân ra
và bao vây các thành trị của giặc
ở các châu phủ,
đồng thời cho truyền hịch đi khắp các lộ
để hội họp thêm binh sĩ,
rồi mới tính đến việc tiến đánh đông quan.
Giản định đế, vốn đã không hài lòng
với sự cẩn trọng của đặng tất,
lại nghe thêm những lời gem pha,
gem siểm của các gian thần xung quanh,
cho rằng đặng tất đang có ý cậy công,
muốn chuyên quyền.
Sự nghi ngờ, như một con rắn độc,
đã len lõi vào tâm trí của nhà vua.
Cuối cùng, một quyết định sai lầm
và bi kịch nhất đã được đưa ra.
Vua Giản định đã ra lệnh bắt đặng tất
và viên quan tham miều thân cận của ông
là Nguyễn Cảnh Trân,
hai vị công thần khai quốc,
hai bộ óc của cuộc kháng chiến,
đem đi giết hại.
Hành động tự chặt đi tay chân của mình này
đã ngay lập tức gây ra một sự giã nứt không thể hàn gắn,
khiến cho lòng người trong quân đội ly tán,
ngọn lửa hy vọng vừa được nhen nhóm
ở Bồ Cô, bỗng chốc đứng trước
nguy cơ bị dập tắt.
Hành động giết hại hai vị công thần khai quốc
là đặng tất và Nguyễn Cảnh Trân
của Giản định đế, không khác gì
một nhát dao tự đâm vào tim của cuộc kháng chiến.
Lòng người,
vốn vừa mới được hùn đúc bởi chiến thắng Bồ Cô,
giờ đây đã nguội lạnh
và ly tán.
Tin tức về cái chết oan khuất của hai vị tướng
nhanh chóng lan đi, gây ra một sự phẫn nộ
và thất vọng tột cùng trong hàng ngũ nghĩa quân.
Lúc ấy,
con trai của đặng tất là Đặng Dung
và con trai của Nguyễn Cảnh Trân là Nguyễn Cảnh Dị,
hai vị tướng trẻ tài năng và đầy nhiệt huyết
đang chỉ huy quân bản bộ
ở các mặt trận.
Khi nghe tin cha mình bị chính vị vua
mà họ hết lòng phò tá giết hại một cách oan uổng,
lòng căm phẫn và đau đớn
đã biến thành hành động.
Họ quyết định không thể tiếp tục phục vụ
dưới chướng một vị vua đa nghi
và tàn nhẫn như vậy.
Cả hai đã dẫn toàn bộ quân lính của mình
rời bỏ vua Giản định, tiến về Thanh Hóa.
Cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần
ngay trên đỉnh cao của chiến thắng
đã đứng trước bờ vực của sự sụp đổ
bởi bi kịch huynh đệ tương tàn.
Tại Thanh Hóa, Đặng Dung
và Nguyễn Cảnh Dị
với uy tín được kế thừa từ cha mình
và sự ủng hộ của quân lính
đã tìm kiếm một ngọn cờ mới
để quy tụ lòng người.
Họ đã tìm được Trần Quý Khoáng,
một người cháu gọi vua Trần Nghệ Tông bằng ông
cũng thuộc dòng dõi chính thống của nhà Trần.
Họ đã cùng nhau tôn
Trần Quý Khoáng lên làm hoàng đế
đặt niền hiệu là Trung Quang.
Một vương chiều hậu trần
giờ đây có đến hai vị vua
một sự chia rẽ báo hiệu một kết cục
bi thảm.
Bây giờ, Giản Định Đế vẫn đang đóng quân
ở thành Ngự Thiên, tiếp tục cuộc đối đầu
với quân mình.
Trung Quang Đế sau khi lên ngôi
đã sai một viên tướng tài là Nguyễn Xúy
mang quân đến đánh Úc.
Giản Định Đế lúc này đã mất hết lòng người
nhanh chóng bị bắt và bị giải vào Nghệ An.
Khi Giản Định Đế
trong thân phận của một tù binh
vào đến nơi, Trung Quang Đế đã thể hiện
một thái độ vừa kính trọng vừa khéo léo.
Ông không mặc long bào
mà chỉ mặc mũ áo thường ra đón tiếp.
Sau đó,
Trung Quang Đế đã tôn Giản Định Đế
lên làm Thái Thượng Hoàng, cùng nhau
mưu tính việc khôi phục.
Dù có sự hòa giải trên danh nghĩa
nhưng vết dạ nứt trong nội bộ của phong trào
kháng chiến đã là không thể hàn gắn.
Trong khi đó, ở Đông Quan
Mộc Thạnh sau trận đại bại
ở Bô Cô phải chạy về cấu thủ Trong Thành.
Tháng 7 năm 1409
Thái Thượng Hoàng Trần Ngũi
và Vua Trung Quang quyết định
tạm gác lại những bất đồng, chia quân
làm hai đường cùng tiến ra Bắc đánh quân Minh.
Thượng Hoàng Giản Định
đóng ở Hạ Hồng, nay là Ninh Giang
còn Vua Trung Quang đóng ở Bình Thàn.
Quân Minh bị vầy hãm
chỉ biết cấu thủ Trong Thành
không dám ra đánh.
Tưởng rằng thời cơ để giải phóng đất nước đã đến
nhưng tiến thức Mộc Thạnh thất trận
đã bay về Kim Lăng.
Triều Đình nhà Minh
với nguồn lực gần như vô tận
đã ngay lập tức điều động Trương Phụ
viên tướng hung hãn và tai giỏi nhất
mang thêm 5 vạn quân sang cứu viện.
Thế quân Minh lại một lần nữa nổi lên mạnh mẽ.
Trước sức mạnh áp đảo
Thái Thượng Hoàng Giản Định
đã bỏ thuyền lên bờ chạy về Trấn Thiên Quan.
Vua Trung Quang
có lẽ vẫn còn nghi ngờ Thượng Hoàng
có ý định tách ra để xây dựng lực lượng riêng
đã xài nguyện suý đuổi theo
nhưng không kịp.
Bi kịch lại tiếp diễn.
Trương Phụ với sự tàn nhẫn
của một con mạnh thú
đã mang quân đuổi theo gót Thượng Hoàng.
Cuối cùng Giản Định đế Trần Ngỗi
cùng các tướng trung thành là Trần Hy Cát
Nguyễn Như Lệ, Nguyễn Yến
đã bị bắt.
Trương Phụ sai người giải tất cả về Kim Lăng
và tất cả bọn họ đã bị sát hại
một cách dã man.
Vị vua đầu tiên của nhà hậu Trần
người đã dũng cảm dựng cơ khởi nghĩa
đã kết thúc cuộc đời mình trong bi kịch.
Tháng 8 năm 1409
vua Trùng Quang một mình
cầm cự với Trương Phụ ở Bình Than
lệnh cho Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử.
Bây giờ lương thực của nghĩa quân
vô cùng thiếu thốn.
Đặng Dung phải cho quân sĩ chia nhau
đi gặt lúa sớm của dân để lấy lương.
Quân Minh do biết được tin này
đã dùng thủy binh đánh úp
vào cửa Hàm Tử.
Quân của Đặng Dung bị đánh bất ngờ
tan vỡ.
Vua Trùng Quang thấy Đặng Dung đã thua
liệu thế không thể giữ nổi Bình Than
Đành phải bỏ chạy
một lần nữa lui về căn cứ địa Nghệ An.
Trương Phụ thắng trận
trên đường Truy Kích đã ra tay tàn sát
nhân dân vô cùng tàn bạo
máu chảy thành sông, xác chất thành núi
để lại một nỗi kinh hoàng
và căm thù tuột độ trong lòng người Việt.
Dù liên tiếp gặp thất bại và tổn thất
nhưng lực lượng nhà Hậu Trần vẫn tiếp tục
hoạt động mạnh mẽ và kiểm soát được
vùng đất từ Nghệ An trở vào.
Tháng 5 năm 1410
Vua Trùng Quang đế lại một lần nữa
tập hợp lực lượng tiến quân từ Nghệ An
ra đánh ở Hạ Hồng, giao chiến với quân Minh.
Quân Hậu Trần đã phá tan
được đạo quân của Đô Đốc Giang Hảo.
Nhân thế thắng
Nghĩa quân tiến thẳng đến Bình Than.
Bây giờ, hào kiệt
các nơi nghe tiếng, lại nhiều người
nổi dậy hưởng ứng, giết quan lại nhà Minh
để giành lại các châu phủ.
Thế nhưng, bi kịch của sự phân tán
lại tái diễn.
Các cuộc nổi dậy này không có người thống lĩnh chung
nhưng, hiệu lệnh không thống nhất
nên quân nhà Minh chỉ cần kéo đến đâu
thì quân sĩ ở nơi ấy liền bị tan vỡ.
Cuối cùng, vua Trùng Quang đế
lại phải dẫn quân rút về Nghệ An.
Nhà Minh
dù đã chiếm lại được Đồng bằng Bắc Bộ
nhưng vẫn không tài nào dập tắt được
ngọn lửa kháng chiến ở phía Nam.
Liên tục phải điều động quân từ Quảng Tây sang Tiếp Viện.
Đầu năm 1411
vua Minh lại một lần nữa
điều chương phụ dẫn thêm 8 vạn quân
sang Tiếp Viện cho Mộc Thạnh
quyết tâm tiêu diệt bằng được nhà Hậu Trần
một kế hoạch tấn công gọn kim
mới được vạch ra.
Quân Minh tiến về phía Nam
bằng cả 2 đường
đường Thủy do chương phụ chỉ huy
đường Bộ do Mộc Thạnh chỉ huy
định đánh kẹp quân nhà Trần lại
tại các căn cứ dọc các cửa sông đổ ra biển.
Tháng 6 năm đó
chương phụ và Mộc Thạnh đem quân đánh vào Nghệ An
gặp quân của Nguyễn Xúy,
Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung ở mô độ.
Một trận chiến vô cùng quyết liệt
đã diễn ra.
Quân Hậu Trần dù đã chiến đấu với tất cả
sự dũng cảm nhưng trước một lực lượng
địch quá đông và thiện chiến
cuối cùng đã không chống nổi.
Vua Trùng Quang phải rút chạy vào tận Hóa Châu.
Trong thế cùng
nhà vua đã sai một bề tôi trung nghĩa
là Nguyễn Biểu làm sứ giả
đến gặp chương phụ để cầu phong
một nỗ lực ngoại giao cuối cùng
để cứu vãn tỉnh thế.
Khi Nguyễn Biểu một mình một ngựa
đem phẩm vật đến doanh trại
của Giặc, ông đã bị chương phụ bắt giữ.
Trong bữa tiệc
mà chương phụ bày ra để thị uy
hắn đã cho dọn lên một cái đầu người.
Nguyễn Biểu không một chút sợ hãi
đã gắp lấy óc và mòi
lấy mắt ăn rồi đập vỡ cái đầu lâu
mà nói lớn rằng
sống làm tướng của Nam Triều
chết cũng làm quỷ hùng của Nam Triều
còn hơn là sống mà làm tướng đầu hàng
cho Giặc Bắc.
Sau đó ông đã đứng dậy chỉ thẳng vào mặt
chương phụ mà mắng rằng trong bụng
thì toan tính việc đánh chiếm nước người ta
ngoài mặt thì lại phô trương
là quân nhân nghĩa.
Trước nói là lập con cháu họ Trần
bây giờ lại đặt quận huyện
không những cướp bóc của cải
lại còn giết hại nhân dân.
May thật là thằng Giặc bạo ngược
chương phụ tức giận đến tím mặt
sai quân đem Nguyễn Biểu ra cột vào cầu
rồi cho dìm xuống sông cho đến chết.
Khí phách của Nguyễn Biểu đã trở thành
một tấm gương bất diệt về lòng dũng cảm
và tinh thần bất khuất của người Việt.
Tháng 6 năm 1413
quân của chương phụ
vào đến Nghệ An.
Quàn thái phó của nhà hậu Trần
là Phan Quý Hữu đã ra hàng giặc
nhưng chỉ được mấy hôm thì chết.
Chương phụ cho con của Quý Hữu
là Phan Liêu làm tri phủ Nghệ An.
Phan Liêu để lập công
với chủ mới đã đem toàn bộ
bí mật quân sự của nhà hậu Trần
từ số lượng tướng tá, quân số
cho đến các vị trí hiểm yếu
khai báo hết cho chương phụ.
Nắm được những thông tin tình báo
quý giá này, chương phụ quyết tâm
tiến vào Hóa Châu để tiêu diệt
tận gốc lực lượng kháng chiến.
Tháng 9 năm 1413
quân của chương phụ vào đến Thuận Châu.
Nguyễn Suý và Đặng Dùng
đã cho quần giữ sông Thái Gia
đặt phục binh nhận đêm tối
đánh Úc vào dinh của chương phụ.
Đặng Dùng đã dũng cảm
nhảy lên được thuyền của chương phụ
định bắt sống hắn nhưng vì trong đêm tối
không nhận ra mặt nên đã để cho
chương phụ nhảy xuống một chiếc thuyền nhỏ
mà chạy thoát.
Quân mình bị tổn thất rất nhiều.
Nhưng bây giờ quân Hậu Trần còn lại rất ít.
Chương phụ sau khi
ổn định lại lực lượng đã cho quân
đánh Úc lại, xoay chuyển cục diện.
Quân của Đặng Dùng địch không nổi
phải bỏ chạy.
Từ sau thất bại ở trận Thái Gia
quân Hậu Trần đã hoàn toàn yếu thế
không còn khả năng chống cự với quân mình nữa
phải rút vào ẩn núp trong các vùng
rừng núi. Chẳng được bao lâu
vua Trùng Quang, Nguyễn Cảnh Dị
Đặng Dùng, Nguyễn Xúy lần lượt
đều bị bắt và bị giải về yên kinh.
Trên đường đi, vua Trùng Quang
đã nhảy xuống biển tự vẫn để bảo toàn
khí tiết. Đặng Dùng
cũng tự sát. Nguyễn Cảnh Dị
thì chửi mắng chương phụ không ngớt
cho đến khi bị giết.
Nguyễn Xúy trong lúc bị áp giải
đã tìm cách làm thân với viên quan áp giải
được cùng người đó đánh cờ.
Nhân lúc thời cờ thuận lợi
ông đã cầm bàn cờ đập chết
tên quan áp giải rồi nhảy xuống sông
tự tận. Toàn bộ vua tôi
nhà Hậu Trần cuối cùng đều đã
tuận tiết một cách oanh liệt. Không
một ai chịu cúi đầu hàng giặc.
Nhà Hậu Trần chỉ truyền ngôi
được hai đời, tổng cộng kéo dài
bảy năm. Do cả
Trùng Quang đế và Giản Địch đế
đều là dòng dõi hoàng tộc nhà Trần
có công lao to lớn trong việc lãnh đạo nhân dân
chống ngoại xâm. Cho nên dù
thất bại, họ vẫn được xử sách và
nhân dân coi là hai vị vua chính thống.
Do vậy, sách sử và các đền thờ
thường ghi nhà Trần có 14 vị
vua, bao gồm 12 vua nhà Trần
và 2 vua nhà Hậu Trần.
Cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần
tùy thất bại nhưng đã thể hiện một cách
hung hồn tinh thần bất khuất, không chịu làm
nô lệ của dân tộc ta.
Ngọn lửa yêu nước mà họ thắp lên, dù
bị dập tắt nhưng những tàn trò của nó
vẫn còn âm ý. Để rồi chỉ
vài năm sau, từ mảnh đất Lam Sơn
một người anh hùng áo vải sẽ đứng lên
kế thừa ngọn lửa đó, tập hợp lại
lòng dân và lãnh đạo một cuộc
khởi nghĩa trường kỳ, viết nền một
trang sử mới trói lọi cho dân tộc.
