Tết Nguyên Đán, hay Tết Cổ Truyền, là nhịp thở thiêng liêng nhất của người Việt. Đó là khoảnh khắc năm cũ khẽ buông tay, năm mới e ấp chào đón, mang theo khói hương ấm áp, tiếng pháo giao thừa và niềm sum vầy lặng lẽ.
Từ ngàn đời, Tết đã thấm sâu như nhựa trào trong cành lúa chín: con cháu quây quần bên mâm cơm dâng tổ tiên, kể lại chuyện xưa, để lòng biết ơn và hy vọng đan xen trong ánh mắt nhìn nhau.
Giữa dòng đời hối hả, khi phố thị che mờ vầng trăng và ánh đèn neon lấn át hương mai, liệu ta còn giữ được hồn cốt ngày xưa?
Tết Nguyên Đán hay Tết Cổ Truyền là nhịp thở thiêng liêng nhất của người Việt.
Đó là khoảnh khắc năm cũ khẽ buông tay, năm mới ẻ ớp chào đón,
mang theo khói hương ấm áp, tiếng pháo giao thừa và niềm xuông vầy lặng lẽ.
Từ ngàn đời, Tết đã thấm sâu như nhựa chào trong cảnh lúa chín,
con cháu quê quần bên mâm cơm dân tổ tiên kể lại chuyện xưa
để lòng biết ơn và hy vọng đan xen trong ánh mắt nhìn nhau.
Giữa dòng đời hối hạ, khi phố thị che mở vầng trăng
và ánh đèn nê âm lấn át hương mai, liệu ta còn giữ được hồn cốt ngày xưa?
Giữ gìn Tết quá ra là giữ lấy chính linh hồn mình, những điều giản dị mà thiêng liêng.
Để mai sau, con cháu vẫn còn một nơi để trở về,
một khoảng trời mãi gọi tên là nhà.
Tết Nguyên Đán Việt Nam đã có từ ngàn xửa ngàn xưa.
Quý vị thân mến, Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ thời kỳ dựng nước Văn Làng
gắn điển với chuyển thuyết Bánh Trưng, Bánh Giày thời Vua Hùng.
Theo các tài liệu lịch sử, Tết đã tồn tại từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên,
với ý nghĩa đánh dấu sự kết thúc năm cũ và chào đón năm mới,
đồng thời là dịp để cho con người hòa hợp với thiên nhiên.
Chữ Tết xuất phát từ tiết, nghĩa là khoảng thời gian,
còn Nguyên Đán là chỉ buổi đầu tiên của năm mới.
Trong văn hóa Việt, Tết kéo dài từ ngày 23 tháng Chạp,
cùng ông Công ông Táo đến mùng 7 tháng riêng, với các phong tục như dọn dẹp nhà cửa,
gói bánh trưng, thăm mộ tổ tiên, chúc tụng và sống đất.
Ý nghĩa của Tết vô cùng sâu sắc, về mặt tinh thần,
đây là dịp để con cháu bày tỏ lòng biết ơn với ông bà tổ tiên,
cầu mong bình an và thịnh vượng.
Tết còn là thời điểm để xóa bỏ hiềm khích, tha thứ và bắt đầu năm mới
với những điều mới mẻ.
Về mặt xã hội, Tết thúc đẩy sự đoàn kết cộng đồng
qua các hoạt động như là múa lân, hát bội và hội làng.
Trong nền kinh tế nông nghiệp xưa thì Tết đánh dấu sự kết thúc mùa vụ,
nông dân nghỉ ngơi, vui chơi và chuẩn bị cho vụ mới.
Ngày nay, dù xã hội chuyển dần sang công nghiệp,
Tết vẫn giữ vai trò là ngày hội của dân tộc, giúp cân bằng giữa lao động và nghỉ ngơi.
Diện giữ Tết mang lại vô vàn lợi ích, đầu tiên là những giá trị tinh thần.
Tết giúp các thế hệ bảo tồn truyền thống và tình cảm gia đình
giảm thiểu sự cô lập trong xã hội.
Nó giúp con người ta dễ gần nhau hơn và giảm các tác động cực đoan
của chủ nghĩa cá nhân mà xã hội hiện đại mang lại.
Người lao động sau một năm vất vả miêu sinh,
học sinh và sinh viên sau một năm miệt mải đèn sách,
người xa quê sau một năm bôn ba,
luôn trồng ngóng đến Tết để có dịp gặp gỡ,
xung vầy với người thân, về lại quê hương nơi mình được sinh ra và lớn lên.
Trước Tết, cả nhà cùng nhau dọn dẹp nhà cửa
và lao dọn bàn thờ tổ tiên,
chuẩn bị các cỗ bàn để cúng lễ tất niên và rước ông bà.
Trong Tết thì con cái chúc năm mới ông bà, cha mẹ,
các thành viên trong gia đình tươi cười
trong những bộ trang phục màu sắc tươi tắn, chỉnh tề nhất.
Nói chung thì ít có dịp nào trong năm mà toàn bộ các thành viên
trong gia đình có mặt đông đủ như vậy.
Dù thiếu đi một thành viên thôi, cũng đủ để mọi người cảm thấy chạnh lòng.
Sự ngăn cách khỏi hơi ấm gia đình thể hiện sâu lắng nhất
qua những ca khúc như là Xuân này con không về
do bộ ba nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân sáng tác,
hay hiện đại hơn thì có bài Tết xa của nhạc sĩ Nguyễn Văn Trung,
gợi nhớ đến nổi bánh chưng, cây đào, cây may hay là tiếng pháo giao thừa.
Tất cả là những ký ức không thể phai nhòa trong tâm hồn người con trong gia đình.
Bởi thế mà nhiều người dù bận công việc đến mấy, đi làm việc ở tận đâu
cũng nhất định phải thu xếp về nhà xung họp Tết là vậy.
TẾT TRUYỄN THỐNG ĐANG DẦN MAI MỘT TRĂNG
Vâng quý vị thân mến, có thể nhiều người cảm nhận Tết nay không còn đậm đà như Tết xưa.
Nhiều gia đình trẻ ở đô thị bỏ qua các nghĩ thức cổ xưa như cúng giao thừa,
làm mâm cổ thỉnh soạn hay là đi chúc Tết,
thay vào đó họ chọn đi du lịch hoặc là nghỉ dưỡng.
Ở chợ có bán rán các món ăn thường được bày trên mâm cúng truyền thống,
người ta chỉ cần mua về là để lên bàn thờ.
Điều này cũng dễ hiểu, nhịp sống quá căng thẳng ở một đất nước đang phát triển kinh tế như Việt Nam,
khi Nam cũng nhiều nữ đều đang tham gia vào quầng quay lao động khác điệt, cạnh tranh cao,
khiến cho một số người muốn bỏ qua các nghị lễ được cho là dườm già để dành thời gian để nghỉ ngơi nhiều hơn.
Thế nhưng nếu cứ để Tết dần mai một và mất đi hương vị nguyên bản của nó,
thì phan hóa dân tộc rồi sẽ mất dần bản sắc.
Tết sẽ không phải là Tết của người Việt nữa,
mà sẽ có hơi hướng thương mại ngày càng rõ, dễ dẫn đến đồng hóa với phương Tây,
khó có thể lưu truyền các giá trị phan hóa tinh thần đến các thế hệ tiếp theo.
Khi sự gắn bó giữa người với người lỏng lẻo đi, gia đình suy yếu,
các vấn đề tâm lý và xã hội như là cô đơn, trầm cảm, ly hôn xảy ra ngày càng nhiều hơn.
Có người nói giữ Tết lại để thúc đẩy tiêu dùng,
vì người Việt thường gom góp tích lưỡi cả năm cho dịp này,
nên có Tết tức là đóng góp nhiều vào GDP, thúc đẩy các ngành thực phẩm, du lịch và thủ công.
Các địa phương tổ chức lễ hội để thu hút du khách góp phần đóng thuế cho địa phương.
Ở chiều ngược lại thì cũng có người lại nói, còn giữ Tết để làm gì,
sao không ăn Tết Tây theo dương lịch để theo kịp nhịp kinh tế với phần lớn còn lại của thế giới.
Đúng là Tết sẽ thúc đẩy tiêu dùng,
mang lại lợi ích về kinh tế thật sự, đã được chứng minh qua các số điệu.
Thế nhưng giá trị thật sự của ngày Tết nằm ở chỗ phục hồi và vực dậy tinh thần cho con người,
đón sinh khí cho năm mới và hướng tới những điều may mắn, tốt đẹp nhất.
Lễ hội truyền thống xa đi, bản sắc tàn vỡ
Khi một dân tộc dần bỏ qua hoặc là mất đi các lễ hội, nghi thức truyền thống,
những biểu tượng gắn kết cộng đồng, tri ân tổ tiên và khẳng định bản sắc,
thì tinh thần dân tộc sẽ suy giảm, dẫn đến sự thiếu gắn bó,
chỉ rãi nội bộ và làm suy yếu sự đoàn kết quốc gia.
Lễ hội truyền thống không chỉ là dịp vui chơi mà còn là keo rán văn hóa,
giúp thế hệ sau duy trì ký ức tập thể, giá trị chung và cảm giác thuộc về một cộng đồng lớn hơn.
Chúng ta có thể thấy một ví dụ như các dân tộc bản địa Bắc Mỹ
bao gồm người da đỏ Mỹ và thổ dân Canada.
Sau quá trình thuộc địa hóa của châu Âu, đặc biệt từ thế kỷ thứ 19,
chính phủ Mỹ và Canada đã thực hiện chính sách đồng hóa cứng bức.
Các lễ hội truyền thống, nghị thức tôn giáo như là vũ điệu mặt trời
và ngày lễ tặng quà của họ đã bị luật pháp cấm đoán.
Thêm vào đó, trường nội chú bắt buộc trẻ em bản địa phải bỏ tiếng mẹ đẻ,
từ bỏ trang phục và lễ hội truyền thống để theo học văn hóa phương Tây.
Dần dần thì con cháu của các dân tộc này đã mất kết nối với cội nguồn đất mẹ thiên niêng,
tổ tiên và cộng đồng.
Một số người trong các cộng đồng thiếu số này mang theo cảm giác không biết mình thuộc về đâu,
không còn là người bản địa thuần túy, nhưng cũng không hòa nhập hoàn toàn vào xã hội phương Tây.
Điều tương tự cũng diễn ra ở những nơi từng bị biến thành thuộc địa như Mỹ Latin,
Châu Phi hay những nơi mà người bản địa bị lớn át như Hawaii.
Ở châu Á cũng có một ví dụ về Trung Quốc, một quốc gia có thịch sử đến 5.000 năm
đã trải qua đại cách mạng văn hóa kéo dài từ năm 1966 đến năm 1976.
Thời đó lễ thết truyền thống và các nghi thức thờ cúng bị coi là phản động và bị phá bỏ,
dẫn đến nhiều khủng hoảng bản sắc kéo dài cho đến ngày nay.
Một ví dụ khác ở châu Á là Nhật Bản, đất nước này chủ động tiếp thu các kiến thức của phương Tây
trong thời Minh Trị Duy Tân để bước trên con đường công nghiệp hiện đại từ những năm 1870.
Mọi thứ ở xứ sở phù tang đã thay đổi chóng mặt khi vào năm 1873,
triều đình chính thức bỏ thết nguyên đán để ăn thết Tây, bỏ địch âm để chuyển sang hoàn toàn
dùng địch Tây, tạo ra một cú sốc văn hóa lớn đối với người dân thời bấy giờ.
Trong thời khắc đất nước đứng trước một bước ngoặt lịch sử, xứ sở phù tang chuyển mình
sau hơn 200 năm đóng cửa để buộc phải giao thương với phương Tây, giới quý tộc lo rằng
nếu không thay đổi, đất nước sẽ bị họa thực dân giống như nhiều nước ở châu Á khác.
Từ đó khởi xướng một cuộc cải cách toàn diện, mà theo họ thứ ăn sâu bám dễ nhất
vào văn hóa dân tộc cần phải xóa bỏ chính là một cái Tết âm lịch kéo dài cả 1-2 tuần,
làm đình trệ công việc và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất.
Đã hơn 150 năm trôi qua, Nhật Bản phương mình có lúc trở thành cường quốc kinh tế chỉ đứng sau Hoa Kỳ,
nhưng sự chuyển hóa thành một đất nước phiên bản khác, ít Đông Á hơn, nhiều chất phương Tây hơn
đã tăng tính thực dụng và cá nhân hóa của mỗi người trong xã hội.
Sự cô đơn, chống trải, áp lực công việc và áp lực xã hội đã khiến cho nhiều người rơi vào vòng xoáy trầm cảm
và tệ hơn là văn hóa tự kích liễu nổi tiếng ở quốc gia này.
Điều này không khỏi khiến cho người ta sửng sốt vì sự hụt hớng tinh thần diễn ra tại một quốc gia giàu có vàn mình.
Ở châu Á là thế, ở Âu Mỹ, nơi mà tầm ảnh hưởng về khoa học, kinh tế, quân sự trên toàn thế giới
đã giúp văn hóa của họ lan tỏa rộng khắp, thì dịp lễ truyền thống quan trọng nhất của họ là Giáng sinh
và năm mới cũng đứng trước nguy cơ mất đi ý nghĩa trước làn sóng của chủ nghĩa tiêu dùng.
Tác giả Molly Angenhart phải thốt lên rằng dường như lễ Giáng sinh đã trở thành lễ hội của sự thiêu thụ,
trở thành một bài toán về logistics, trong ý nghĩa thật sự của ngày lễ này như chúng ta đã biết là một dịp đặc biệt
để người phương Tây tưởng nhớ đến sự kiện chú của họ, hạ thế, cứu rỗi con người.
Khoẻ Tự nhiên đã kể ra những ví dụ vừa rồi chỉ để nói lên rằng một nơi trên thế giới đã mất đi ngày lễ của dân tộc mình
hoặc để nó vai nhòa ý nghĩa tinh thần. Điều mất đi không chỉ là vài ngày nghỉ hay những nghị thức bể ngoài,
mà là sợi dây vô hình, kết nối với các thế hệ là nơi con người tìm thấy ý nghĩa sâu xa hơn ngoài lợi ích vật chất.
Nếu cứ tiếp tục xu hướng ấy thì chúng ta có thể trở thành một dân tộc giàu có về kinh tế,
nhưng nghèo nàn về ký ức tập thể, mạnh mẽ về vật chất, nhưng mong manh về tinh thần.
Chúng ta cần Tết, cần học cách giữ lấy những giá trị chân chính ấy,
để khi nhìn lại mỗi người vẫn còn biết mình thực sự thuộc về đâu.
Vâng quý vị thân mến, Tết nguyên đán là mạch nguồn trẻ suốt nghìn năm lịch sử,
từ thời vua hùng dưỡng nước đến hôm nay vẫn còn ấm trong từng nếp nhà.
Tết không chỉ mở ra một năm mới, mà mở lại lòng người, nhớ tổ tiên, thương gia đình, chân quý những người xung quanh.
Giữa đất trời giao hòa, con người học cách chậm lại, buông bỏ xấu xa, gieo mẩm thiệt đường.
Chúc quý vị năm mới bình an, mạnh khỏe, vạn sự hành thông.
Xin kính chào quý vị và hẹn gặp lại quý vị trong các chương trình tiếp theo.