THẾ GIỚI CHÚNG TA ĐANG SỐNG - Thánh Đức Đalai Lama khai thị

Audio Sunshine (Đọc bằng AI)
12 người theo dõi
Nguồn : https://youtu.be/ip3SAmGDKSY?si=hOjTOTplhJuN9R1x
💗 Video mang lại giá trị, ý nghĩa cho bạn, hãy chia sẻ nó cho 1 người bạn của bạn, "like & subcribe" để ủng hộ phát triển kênh. Chân thành cảm ơn!
#tâmlinh #sachnoi #khoahocvutru #thuctinh #tỉnhthức #audiobook #chualanh #bíẩn #linhhon #dinhmenh #dinhmenhcualinhhon #dalailama
Chúng ta cần phải tìm ra một ngôn ngữ chung để tâm linh không còn bị coi là mê tính
và vật chất không còn bị coi là vô tri.
Chúng ta sẽ cùng nhau mổ sẻ những khái niệm cốt lõi nhất.
Vật chất có thực sự cứng chắc và tồn tại độc lập như vật lý cổ điển Newton đã dạy?
Hay nó cũng rỗng không và duyên sinh như bác nhã tâm kinh đã tuyên bố?
Tâm có phải chỉ là sản phẩm phụ của não bộ?
Chết là hết!
Hay tâm có khả năng tác động ngược lại?
Kiến tạo lại cấu trúc vật lý của não bộ.
Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ bắt đầu đập dỡ tảng băng đầu tiên.
Một tảng băng mà chúng ta dẫn tin là chân lý dẫn chắc nhất.
Đó là sự tồn tại của vật chất.
Các bạn hãy nhìn cái bàn trước mặt.
Nhìn bức tường xung quanh.
Các bạn nghĩ nó là thật.
Là sẵn chắc.
Là bất biến.
Nhưng a thờ gia dong.
Một nhà vật lý lượng tử hàng đầu.
Sẽ nói cho các bạn biết một sự thật chấn động.
99,999% cái bàn đó là khoảng trống.
Và cái mà các bạn gọi là vật chất thực ra chỉ là một ảo ảnh của sự giao động năng lượng.
Điều này nghe có vẻ điên rồ và phản trực giác.
Nhưng nó lại trùng khớp một cách kỳ lạ với những gì Đức Phật đã nhìn thấy dưới gốc cây Bồ Đề.
Sắc tức thì không?
Hãy chuẩn bị tinh thần.
Vì thế giới quan cũ kỹ của các bạn sắp sửa bị đảo lộn hoàn toàn.
Thưa chư dị.
Sau khi chúng ta đã cùng nhau thiết lập một cây cầu nối khái niệm giữa hai nền giăng Minh Đông và Tây.
Bây giờ là lúc chúng ta bắt đầu bước những bước chân đầu tiên lên cây cầu ấy để đi vào dùng lãnh thổ cốt lõi nhất của thực tại.
Và chứng ngại vật đầu tiên.
Bức tường thành kiên cố nhất mà chúng ta cần phải phá dở.
Không phải là một lý thuyết cao siêu nào đó.
Mà chính là cái cảm nhận đời thường của chúng ta về thế giới xung quanh.
Hãy nhìn vào cái bàn trước mặt các bạn.
Hãy chạm tay vào chiếc ghế các bạn đang ngồi.
Các bạn cảm thấy gì?
Nó cứng.
Nó rắn chắc.
Nó lạnh.
Và nó có vẻ như đang đứng yên ở đó một cách lù lù.
Bất động.
Trực giác thông thường và cả nền vật lý cổ điển của Isaac Newton đều nói với chúng ta rằng
thế giới này được xây dựng từ những khối vật chất cứng chắc.
Giống như những viên gạch Lego xếp chồng lên nhau.
Chúng ta tin rằng vật chất là thật.
Là nền tảng.
Còn tâm thức chỉ là cái bóng mờ nhạc đi kèm.
Nhưng hôm nay.
Arthur Gayon.
Một nhà vật lý lượng tử lỗi là có mặt tại đây.
Sẽ nói với chúng ta một sự thật chấn động.
Một sự thật có thể làm sụt đổ hoàn toàn thế giới quan của các bạn.
Cái bàn đó không có thật theo cách mà bạn nghĩ.
Sự rắn chắc đó chỉ là một ảo giác dĩ đại của các giác quan.
Tại sao ông ấy lại dám tuyên bố như vậy?
Hãy cùng ta đi vào cuộc hành trình thám hiểm vào bên trong lòng của vật chất.
Đi sâu xuống cấp độ di mô nhất mà con mắt trần tục không thể nhìn thấy.
Nếu chúng ta lấy một cái kính hiển di siêu hạn để phóng to cái bàn này lên hàng tỷ lần.
Chúng ta sẽ thấy gì?
Chúng ta sẽ thấy các phân tử gỗ.
Phóng to tiếp.
Chúng ta thấy các nguyên tử.
Và đây là lúc điều kỳ lạ bắt đầu xuất hiện.
Trong mô hình vật lý cũ.
Chúng ta tưởng nguyên tử giống như một hệ mặt trời thu nhỏ.
Giới hạt nhân ở giữa và các electron bay xung quanh như những hành tinh.
Nhưng Arthur cho biết.
Mô hình đó vẫn còn quá đặc.
Sự thật là.
Nguyên tử gần như hoàn toàn rỗng không?
Hãy tưởng tượng hạt nhân nguyên tử to bằng một quả nho đặc ở giữa sân dận đồng bóng đá.
Thì các electron sẽ nằm ở đâu?
Chúng sẽ nằm tích tận hàng ghế kháng giả trên cùng.
Quay cuồng với tốc độ ánh sáng.
Còn khoảng không gian giữa quả nho và hàng ghế kháng giả là gì?
Là hư không?
Là khoảng trống tuyệt đối.
Các nhà dịch lý đã tính toán rằng 99,9999999% thể tích của một nguyên tử là khoảng trống.
Điều này có nghĩa là gì?
Có nghĩa là cơ thể của các bạn.
Cái bàn này.
Tòa nhà này.
Và cả trái đất này.
Về mặt bản chất.
Là rỗng tuyết.
Nếu chúng ta rút hết khoảng trống trong các nguyên tử của toàn bộ nhân loại, 7 tỷ người, ra.
Thì phần dịch chất còn lại chỉ bé bằng một diên đường.
Vậy câu hỏi Hóc Búa đặt ra là.
Nếu tôi rỗng tuyết như vậy.
Tại sao tôi không đi xuyên qua bức tường?
Tại sao khi tôi đấm tay xuống bàn.
Tay tôi lại đau?
Đây là chỗ mà sự hiểu lầm lớn nhất phát sinh.
Arthur giải thích rằng.
Cái mà chúng ta cảm nhận là rắn chất.
Thực ra không phải là dịch chất.
Mà là sự gia chạm của các trường năng lượng.
Energy field.
Khi ngón tay các bạn chạm vào bàn.
Không phải là dịch chất chạm vào dịch chất.
Mà là lớp vỏ electron của ngón tay đẩy lớp vỏ electron của cái bàn.
Lực đẩy điện từ đó tạo ra tín hiệu thần kinh chạy lên não.
Và não bộ diễn dịch tín hiệu đó thành cảm giác cứng.
Nói một cách triết học.
Thế giới dịch chất mà chúng ta đang bám díu vào.
Thực chất chỉ là một vũ điệu của năng lượng và ánh sáng.
Nó không có thực thể cố định.
Điều này nghe có vẻ giống như khoa học diễn tưởng.
Nhưng thưa chư dị.
Hãy lắng lòng lại và suy ngẩm.
Chẳng phải điều này trùng khớp một cách kỳ lạ với tuyên bố nổi tiếng nhất trong bác nhã tâm kinh của Phật giáo hay sao?
Sắc tức thì không.
Không tức thì sắc.
Form is emptiness.
Emptiness is form.
Trong suốt 2.500 năm.
Người phương Tây nghĩ rằng câu kinh này chỉ là những lời triết lý mơ hồ.
Mang tính biểu tượng về sự vô thường.
Nhưng hôm nay.
Giật lý lượng tử đã đứng ra làm nhân chứng.
Khẳng định rằng đó là một mô tả chính xác về cấu trúc giật lý của thực tại.
Sắc, giật chất form, bản chất của nó là không, rộng emptiness.
Cái không ở đây không phải là hư vô, nothingness.
Mà là không có tự tính.
Không có cái loại cứng nhắc.
Nó chỉ là sự biểu hiện của các mối quan hệ năng lượng.
Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó.
Arthur Gaion còn dẫn chúng ta đi sâu hơn vào một nghịch lý lượng tử khác.
Nơi mà giai trò của tâm thức bắt đầu lộ diện một cách không thể chối cãi.
Đó là vấn đề về người quan sát.
Trong giật lý cổ điển điêu tơn.
Thế giới tồn tại khách quan độc lập.
Mặt trăng dẫn ở đó dù có ai nhìn nó hay không.
Nhưng trong thế giới lượng tử.
Các hạt di mô như Electron.
Phô tông.
Tồn tại ở một trạng thái rất kỳ quái gọi là sóng sát xuất.
Nó không ở điểm A.
Cũng không ở điểm B.
Nó ở khắp mọi nơi cùng một lúc.
Nó chỉ sụt đổ.
Collapse.
Thành một hạt giật chất cụ thể tại một vị trí cụ thể.
Khi và chỉ khi có một người quan sát.
Hoặc một thiết bị đo đà.
Nhìn vào nó.
Điều này có ý nghĩa gì?
Có nghĩa là.
Giật chất không có tự tính.
Intrinsic nature.
Sự tồn tại của nó phụ thuộc hoàn toàn vào sự tương tác với tâm thức người quan sát.
Nếu không có tâm thức tham gia vào quá trình nhận thức.
Thế giới chỉ là một đại dương năng lượng tiềm năng vô định hình.
Chính tâm thức là kẻ đã đốt khuôn năng lượng đó thành cái bàn.
Cái ghế.
Thành bông hoa.
Thành con người.
Đây chính là điểm gặp gỡ rực rỡ nhất giữa khoa học hiện đại và giáo lý duyên khởi.
Đức Phật dạy rằng.
Cái này có gì cái kia có.
Cái này sinh gì cái kia sinh.
Không có pháp nào tồn tại độc lập.
Biệt lập.
Sự giật.
Khách thể.
Và tâm thức.
Chủ thể.
Xoắn suýt lấy nhau.
Nương tựa vào nhau mà hiện hữu.
Các bạn không thể tách rời người nhìn ra khỏi giật bị nhìn.
Chúng là một cặp song sinh dính liền.
Sự sụt đổ của quan niệm giật chất cứng nhắc có ý nghĩa đạo đức và tâm linh vô cùng to lớn.
Chứ không chỉ là chuyện trong phòng thí nghiệm.
Tại sao chúng ta tham nam.
Vì chúng ta tin rằng tiền bạc.
Kim cương là những giật chất thật.
Có giá trị nội tại dĩnh cửu.
Tại sao chúng ta sợ chết.
Vì chúng ta tin rằng thân xác này là một khối giật chất rắn chắc.
Và khi nó tan rã là hết.
Nhưng nếu chúng ta hiểu được rằng thân xác này.
Tiền bạc kia chỉ là những đám mây năng lượng tụ tán theo duyên.
Là quyển hóa như bọt nước.
Như sương mai.
Thì sự bám chấp sẽ tự động rơi rụng.
Khoa học đang nói với chúng ta rằng.
Đừng tin vào mắt thấy tai nghe.
Cái các bạn thấy chỉ là giao diện người dùng.
User interface.
Không phải là mã nguồn.
Source code.
Của vũ trụ.
Mã nguồn của vũ trụ là sự rỗng lặng và sự liên kết.
Chúng ta không phải là những hòn đảo cô độc cách biệt nhau bằng da thịt.
Ở cấp độ lượng tử.
Biên giới giữa tôi và bạn.
Giữa trong và ngoài hoàn toàn bị xóa nhòa.
Các hạt nguyên tử trong cơ thể tôi đang giao thoá với các hạt nguyên tử trong không khí.
Và trong cơ thể các bạn.
Tuy nhiên.
Sự rỗng lặng này không phải là cái rỗng lặng chết chóc.
Ngược lại.
Chính vì nó rỗng.
Không có tự tính cố định.
Nên nó mới có khả năng chứa đựng tất cả.
Biến hóa thành tất cả.
A Thờ Gia Yon đã dùng một hình ảnh rất đẹp.
Ánh sáng trắng vốn dĩ vô sắc.
Nhưng khi đi qua lan kính.
Nó biến thành 7 sát cầu dòng rực rỡ.
Thế giới lượng tử chính là ánh sáng trắng đó.
Còn tâm thức chúng ta là lan kính.
Thế giới hiện ra muôn màu muôn vẻ là do lan kính tâm thức của chúng ta nhào nặng.
Vậy câu hỏi tiếp theo.
Một câu hỏi sẽ dẫn chúng ta đi từ sự kinh ngạc này đến sự kinh ngạc khác là.
Nếu mọi thứ đều rỗng và liên kết với nhau bằng năng lượng.
Thì sự liên kết đó mạnh mẽ đến mức nào.
Liệu một ý nghĩ khởi lên trong đầu tôi ở đây.
Có thể tác động tức thời đến một người ở bên kia bán cầu không.
Vật lý lượng tử có một hiện tượng gọi là rối lượng tử.
Entanglement.
Cái mà Einstein từng gọi là tác động ma quái từ xa.
Hiện tượng này sẽ chứng minh cho chúng ta thấy rằng.
Trong vũ trụ này.
Quảng cách không gian cũng chỉ là một ảo giác.
Và chúng ta đang sống trong một lưới trời dĩ đại của sự tương tác tức thì.
Hãy cùng ta khám phá bí mật này trong phần tiếp theo.
Thưa chưa dị.
Chúng ta vừa cùng nhau đi qua một cú sốc về nhận thức.
Khi biết rằng thực tại vật chất cứng nhắc này.
Thực chất chỉ là một ảo ảnh của các trường năng lượng và sự rỗng rang.
Tuy nhiên.
Nếu dừng lại ở đó.
Chúng ta có thể rơi vào một hiểu lầm tai hại khác.
Đó là coi thế giới này là một tập hợp của những mảnh dụng năng lượng rời rạc.
Cô độc và ngẫu nhiên.
Nhưng không.
Arthur Gayon và các nhà dịch lý lượng tử hiện đại còn mang đến cho chúng ta một bí mật còn kinh ngạc hơn gấp bội.
Một bí mật sẽ phá tan hoàn toàn tư duy về sự tách biệt của chúng ta.
Đó là hiện tượng rối lượng tử.
Quang từng entanglement.
Hay như cách gọi đầy kinh ngạc của Albert Einstein.
Tác động ma quái từ xa.
Hãy tưởng tượng một thí nghiệm thực tế đã được khoa học chứng minh.
Các nhà dịch lý lấy hai hạt hạ nguyên tử.
Ví dụ như hai electron.
Và cho chúng tương tác với nhau để chúng trở nên rối entangled.
Sau đó.
Họ tách hai hạt này ra và đưa chúng đến hai đầu của vũ trụ.
Cách nhau hàng tỷ năm ánh sáng.
Bây giờ.
Một điều kỳ diệu xảy ra.
Nếu các nhà khoa học tác động làm thay đổi trạng thái của hạt ở đầu này.
Thì hạt ở đầu kia.
Dù cách xa nữa dòng vũ trụ.
Cũng sẽ thay đổi trạng thái ngay lập tức.
Tôi muốn các bạn nhấn mạnh vào từ ngay lập tức.
Nó nhanh đến mức không có một tín hiệu ánh sáng hay sóng vô tuyến nào có thể truyền đi kiệt.
Nó dường như nằm ngoài quy luật của thời gian và không gian thông thường.
Điều này có ý nghĩa gì đối với hiểu biết của chúng ta về thế giới.
Nó có nghĩa là.
Ở cấp độ sâu thẳm nhất của thực tại.
Không có cái gọi là khoảng cách.
Vũ trụ không phải là một tập hợp các vật thể riêng biệt.
Mà là một thực thể duy nhất.
Thống nhất và liên kết với nhau một cách tuyệt đối.
Sự phát hiện này của vật lý hiện đại đã làm nứt lòng những hành giả Phật giáo chúng ta.
Tại sao?
Bởi vì đây chính là bằng chứng vật lý thực nghiệm cho giáo lý duyên khởi.
Dipendent Tarisin.
Hoàng Ngọc quý giá nhất trong kho tàn trí tuệ của Đức Phật.
Đức Thế Tôn đã từng dạy rằng.
Cái này có gì cái kia có.
Cái này sinh gì cái kia sinh.
Nếu không có cái kia.
Cái này không thể tồn tại.
Trong suốt hàng ngàn năm.
Chúng ta thường hiểu duyên khởi theo nghĩa đạo đức hoặc triết học đơn thuần.
Tôi giúp anh vì anh và tôi có mối quan hệ nhân quả.
Nhưng hôm nay.
Khoa học lượng tử nói với chúng ta rằng sự liên kết này mang tính bản thể học.
Bạn và tôi.
Chúng ta không chỉ liên quan đến nhau.
Chúng ta là những phần không thể tách rời của cùng một lưới trời dĩ đại.
A Thờ Gia Yon đã chỉ ra rằng.
Vũ trụ giống như một tấm lưới pha lê khổng lồ của đế thích.
Indra Eshnet.
Nơi mỗi nút lưới là một viên ngọc.
Mỗi viên ngọc phản chiếu hình ảnh của tất cả các viên ngọc khác.
Và trong hình ảnh phản chiếu đó lại chứa được hình ảnh của toàn bộ tấm lưới.
Sự liên kết này mang lại một cuộc cách mạng về đạo đức học thế tục.
Hãy suy ngẩm kỹ điều này.
Nếu mọi thứ đều rối với nhau.
Nếu tôi và bạn đều thuộc về một hệ thống lượng tử thống nhất.
Thì sự phân biệt giữa tôi và kẻ khác.
Sẽ bao giờ bỗng trở nên vô nghĩa.
Khi tôi khởi lên một ý niệm sân hận hướng về phía bạn.
Hay khi tôi quỷ hoại môi trường xung quanh.
Thực chất tôi đang tác động trực tiếp lên chính hệ thống năng lượng của mình.
Làm hại người khác.
Về mặt giật lý lượng tử.
Chính là một hành động tự sát chậm chạp.
Đây chính là lý do tại sao lòng bi mẫn, kompassion, trong Phật giáo không phải là một sự ban phát từ trên xuống.
Cũng không phải là một nghĩa dụ đạo đức nặng nề.
Lòng bi mẫn là sự tỉnh thức trước thực tại.
Khi các bạn nhận ra mình và muôn loài là một mạng lưới tương thuộc.
Tình yêu thương sẽ tự động tôn chảy như một lẻ tự nhiên.
Giống như tay trái tự động xoa dịu khi tay phải bị đau mà không cần ai ra lệnh.
Giật lý lượng tử đang dần xóa bỏ ảo tưởng về cái tôi độc lập, The Independent Cell.
Chúng ta thường tự nhốt mình trong nhà tù của lớp gia thịt này.
Tin rằng những gì xảy ra bên ngoài biên giới cơ thể không liên quan đến mình.
Nhưng thực tế lượng tử bảo rằng biên giới đó là giả.
Ý nghĩ của các bạn.
Hơi thở của các bạn.
Những hành động nhỏ nhất của các bạn đang gửi đi những gợn sóng tác động đến toàn bộ lưới trời của vũ trụ.
Chúng ta là những người đồng kiến tạo thực tại chứ không phải là những nạn nhân thụ động của định mệnh.
Tuy nhiên, thưa chư dị, có một câu hỏi lớn nảy xin.
Nếu thế giới rỗng rang và liên kết như vậy, tại sao chúng ta lại không cảm nhận được điều đó hàng ngày?
Tại sao khi ta thức dậy, ta vẫn thấy mình đơn độc trong cái thân sắc này?
Vẫn thấy cái bàn cứng chắc và tách biệt?
Câu trả lời nằm ở bộ máy nhận thức của chúng ta.
Bộ não.
A Thờ Gia Yon và các nhà vật lý đã chạm đến tánh không.
Nhưng họ vẫn gặp khó khăn khi giải thích làm thế nào cái tánh không ấy lại cô đặt lại thành những trải nghiệm rắn chắc trong não bộ.
Đó là lúc chúng ta cần đến sự lên tiếng của các nhà thần kinh học, Neuroscientists, có mặt tại hội thảo này.
Yon Durang sẽ dẫn chúng ta đi ngược dòng lịch sử để xem các nhà khoa học đã từng hiểu sai về bộ não như thế nào.
Họ đã từng coi con người chỉ là một cỗ máy cơ khí vô tri ra sao.
Và Wendy Hassenkamp sẽ cho chúng ta thấy những khám phá mới nhất về tính dẻo của thần kinh.
Chứng minh rằng tâm thức không phải là nô lệ của não bộ.
Mà chính tâm thức mới là người chỉ huy tối cao có khả năng kiến tạo lại vật chất.
Cuộc hành trình của chúng ta sẽ đi từ những hạt hạ nguyên tử xa xôi.
Quay trở về ngay trong hột sọ của mỗi người.
Ở đó, chúng ta sẽ thấy cuộc chiến giữa thường kiến, coi não là cố định, và vô thường, não luôn thay đổi.
Hãy cùng ta khám phá bí mật của bộ não, cỗ máy phức tạp nhất hành tinh,
để thấy rằng sự tỉnh thức có thể thay đổi ngay cả cấu trúc của tế bào thần kinh.
Thưa chưa dị, chúng ta vừa thực hiện một chuyến du hành ngoạn mục vào thế giới của những hạt hạ nguyên tử,
nơi mà vật lý lượng tử đã chứng minh rằng thực tại là một lưới trời của sự liên kết và rỗng rang.
Thế nhưng, khi chúng ta quay trở về với thực tại đời thường,
có một vật thể hữu hình, nặng khoảng 1,3 kg nằm ngay trong hột sọ của chúng ta,
dường như đang thách thức tất cả những sự rỗng rang nó.
Đó chính là bộ não.
Trong suốt hàng thế kỷ, bộ não được coi là thánh đường của khoa học duy dật,
là nơi mà các nhà khoa học phương Tây tin rằng họ sẽ tìm thấy mọi câu trả lời về con người nếu họ mổ xẻ đủ sâu.
Hôm nay, John Durant sẽ dẫn chúng ta đi ngược dòng lịch sử để thấy rằng,
cách chúng ta hiểu về bộ não thực chất là một chuỗi những giả định đầy định kiến,
và nó đã định hình lên nỗi đau khổ của con người hiện đại như thế nào.
Hãy nhìn lại lịch sử khoa học phương Tây từ thời kỳ cách mạng công nghiệp.
Khi con người chế tạo ra những cỗ máy hơi nước, những chiếc đồng hồ tinh duy,
họ bắt đầu có xu hướng nhìn dạng dịch như những cỗ máy,
và bộ não con người cũng không ngoại lệ.
Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã tin vào một học thuyết mà ta gọi là
Họ quan niệm bộ não giống như một bảng di mạch điện tử phức tạp,
nơi các con đường thần kinh được thiết lập sẵn ngay từ khi chúng ta sinh ra,
hoặc định hình xong trong thời thơ ấu,
và sau đó nó trở nên sơ cứng, bất biến.
Theo góc nhìn này, con người chẳng khác gì một cỗ máy sinh học,
mang F-machine.
Nếu bộ não của các bạn có xu hướng giận dữ,
đó là do mạch điện của các bạn đã được nối như vậy.
Nếu các bạn già đi và trí nhớ giảm suốt,
đó là do các bánh răng của cỗ máy đã mòn và không thể sửa chữa.
Đây là một quan điểm mang tính thường kiến,
Eternalism, cực đoan trong khoa học.
Nó giao rắc một sự bi quan sâu sắc.
Chúng ta là nạn nhân của di truyền,
là tù nhân của cấu trúc sinh học chính mình.
Tôi muốn các bạn dừng lại một chút
để suy ngẩm về hệ quả của tư duy này.
Nếu chúng ta chỉ là những cỗ máy sinh học
bị điều khiển bởi các phản ứng hóa học và sung điện,
thì tự do ý chí nằm ở đâu?
Trách nhiệm đạo đức nằm ở đâu?
Nếu một người phạm tội chỉ
vì neuron của anh ta bắn tính hiệu sai,
liệu chúng ta có thể trách anh ta được không?
Lối suy nghĩ duy vật thô thiển này,
cái mà khoa học gọi là chủ nghĩa quy giảm,
redaction ni dừng,
đã tước đoạt đi phẩm giá
và khả năng tự chuyển hóa của con người.
Nó biến chúng ta thành những thực thể vô hồn,
dẫn hành theo các định luật vật lý khô khang.
Tuy nhiên,
thưa chư dị,
triết học Phật giáo với lý thuyết về vô thường,
impermanence,
đã đưa ra một cái nhìn hoàn toàn khác biệt
từ hàng ngàn năm trước.
Chúng ta không nhìn bộ não như một thực thể cố định,
mà nhìn tâm thức và cơ thể như một dòng chảy,
continuum,
liên tục.
Không có cái gì đứng yên một chỗ dù chỉ trong một sát na.
Và thật kỳ diệu khi thấy rằng,
khoa học thần kinh hiện đại trong dài thập kỷ gần đây
đã bắt đầu dứt bỏ mô hình cổ máy sơ cứng
để tiến gần hơn đến lý vô thường của chúng ta.
John Durant đã chỉ ra rằng,
những nhà khoa học tiên phong bắt đầu nhận ra
bộ não thực chất vô cùng sóng động và nhạy cảm.
Nó không phải là một bản mạch đã in sẵn,
mà nó giống như một dòng sông,
hoặc một khu giường đang không ngừng tự thiết kế lại
chính mình dựa trên những gì nó trải qua.
Đây là một sự chuyển dịch dĩ đại về thế giới quan.
Từ dịch chất quyết định tất cả sang một trạng thái mà ở đó.
Sanh giới giữa dịch chất và kinh nghiệm bắt đầu mờ nhòa.
Sự sụt đổ của quan điểm bộ não cố định
mang lại mục tiêu hy vọng cực lớn cho nhân loại.
Nó nói với chúng ta rằng
không bao giờ là quá muộn để thay đổi.
Các bạn không phải là nô lệ của bộ gen.
Các bạn không phải là nạn nhân của quá khứ.
Nếu bộ não có thể thay đổi,
nghĩa là tâm tính có thể thay đổi,
nỗi đau có thể được chuyển hóa,
và hạnh phúc có thể được rèn luyện.
Nhưng một câu hỏi hóc búa được đặt ra hòng thách thức các nhà khoa học duy dật.
Nếu bộ não có thể thay đổi,
thì cái gì là tác nhân làm nó thay đổi?
Liệu có phải chỉ là những tác động dật lý bên ngoài như thức ăn,
thuốc men,
hay chính cái tâm, mind,
vô hình kia mới là người thở điêu khắc đang cầm đục
để chạm trỗ lại các neuron thần kinh?
Đây chính là điểm mối chốt của cuộc đối thoại này.
Các nhà khoa học phương Tây thường có thói quen huy chiếu rằng
não tạo ra tâm,
nghĩa là khi neuron hoạt động thì ý thức mới xuất hiện.
Nhưng những khám phá mới nhất về tính dẻo của thần kinh,
neuroplasticity,
mà Wendy Hassenkamp sẽ trình bày tiếp sau đây,
dường như đang ám chỉ một chiều ngược lại đầy kinh ngạc.
Tâm tạo ra não.
Khi các bạn rèn luyện sự tập trung trong thiền định,
khi các bạn nuôi dưỡng lòng tự bi,
các neuron trong não các bạn thực sự bắt đầu kết nối lại với nhau theo một cách mới.
Dùng não điều khiển cảm xúc tích cực sẽ dày lên.
Dùng não gây ra sợ hãi sẽ thu nhỏ lại.
Điều này có nghĩa là gì?
Nghĩa là tâm thức không phải là sản phẩm vụ dô dụng của não bộ.
Tâm thức là một năng lượng chủ động có khả năng chỉ huy dịch chất.
Khoa học đang chạm đến ngưỡng cửa của giáo lý nhất thiết duy tâm tạo,
mọi sự đều do tâm tạo tác.
Chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào phòng thí nghiệm của Wendy
để xem những minh chứng thực nghiệm sống động nhất.
Chúng ta sẽ thấy bộ não của các thiền sư kỳ cựu khác biệt thế nào so với người thường.
Ở đó, chúng ta sẽ thấy rằng sự tỉnh thức không chỉ là một trạng thái tinh thần mơ hồ,
mà là một lực lượng vật lý mạnh mẽ có thể tái cấu trúc lại chính cổ máy sinh học đang chứa đựng nó.
Hãy chuẩn bị để thấy sức mạnh của tâm thức các bạn dĩ đại đến nhường nào.
Khi chúng ta bước vào thế giới có cuộc cách mạng dẻo.
Thưa chưa dị, chúng ta vừa cùng nhau lật lại những trang sử đầy định kiến của thần kinh học phương Tây,
nơi mà con người từng bị coi là một cổ máy sinh học vô hồn với bộ não sơ cứng và bất biến.
Nhưng giờ đây, Wendy Hassenkamp và các nhà khoa học đương đại đang mở ra cho chúng ta một chương mới uy hoàng,
một cuộc cách mạng thực sự trong cách chúng ta hiểu về bản thân mình.
Đó là khái niệm tính dẻo của thần kinh Neuroplasticity.
Đây không chỉ là một thuật ngữ khoa học khô khang,
mà là một thông điệp về sự giải thoát,
một minh chứng giật lý cho khả năng tự chuyển quá vô hạn của con người.
Tôi muốn các bạn hình dung lại hình ảnh bộ não mà chúng ta đã thảo luận ở phần trước.
Trong suốt một thời gian dài,
người ta tin rằng sau tuổi trưởng thành,
các tế bào thần kinh của chúng ta chỉ có chết đi chứ không sinh ra,
các kết nối đã hình thành thì không thể thay đổi.
Thế nhưng, những máy web não bộ hiện đại nhất đã cho thấy một thực tại hoàn toàn ngược lại.
Bộ não của chúng ta giống như một khu dường nhiệt nới đầy sức sống,
nơi các nhánh neuron liên tục dương xa,
kết nối với nhau hoặc đứt gãy tùy thuộc vào cách chúng ta sử dụng chúng mỗi ngày.
Cái gì được sử dụng thì sẽ phát triển,
cái gì bị lãng quên thì sẽ lụi tàn.
Đây chính là luật chơi của bộ não.
Cụ sốc lớn nhất đối với chủ nghĩa duy vật thô thiển nằm ở câu hỏi
Cái gì điều khiển sự thay đổi này?
Trước đây, người ta nghĩ chỉ có các tác động vật lý như thuốc men,
thức ăn hay chấn thương mới thay đổi được não bộ.
Nhưng thưa chư dị, Wendy và các cộng sự đã chứng minh được điều mà các thiền sư đã khẳng định từ hàng ngàn năm trước.
Chính tâm thức, thông qua sự tập trung và rèn luyện,
có khả năng trực tiếp kiến tạo lại cấu trúc vật lý của bộ não.
Hãy nhìn vào những bằng chứng thực nghiệm đầy thuyết phục từ phòng thí nghiệm.
Khi các nhà khoa học nghiên cứu bộ não của những hành giả thiền định kỳ cựu,
họ nhận thấy những sự thay đổi vật lý không thể chối cãi.
Võ não ở dùng liên quan đến sự chú ý và nhận thức cảm xúc dày lên một cách rõ rệt.
Dùng hành nhân, Amidala, trung tâm báo động của nỗi sợ hãi và căng thẳng, thu nhỏ lại và trở nên ít nhạy cảm hơn trước các kích động bên ngoài.
Điều này có nghĩa là gì?
Nghĩa là sự an lạc không chỉ là một cảm giác tâm lý mơ hồ.
Sự an lạc đã được khắc vào trong cấu trúc neuron thần kinh.
Các thiền sư không phải là người kiềm chế cân giận,
mà bộ não của họ đã được rèn luyện để không còn sẵn sinh ra cân giận theo cách cũ nữa.
Đây chính là sự giao thoa rực rỡ giữa khoa học và lý thuyết về tập khí của Phật giáo.
Chúng ta thường nói về nghiệp hay thói quen, Yasana.
Mỗi khi các bạn nỗi giận,
các bạn đang cày sâu thêm một con đường mòn của sự sân hận trong não bộ,
khiến lần sau cân giận sẽ trôi đi dễ dàng hơn.
Nhưng mỗi khi các bạn thực hành tránh niệm,
các bạn đang bắt đầu xây dựng một con đường mới, con đường của sự điềm tĩnh.
Tính dẻo của thần kinh chính là cơ chế giật lý giúp chúng ta chuyển nghiệp.
Chúng ta không chỉ thay đổi cách nghĩ.
Chúng ta đang thay đổi chính phần cứng của mình.
Nhưng thưa chưa dị, tính dẻo này là một con dao hai lưỡi.
Nó không phân biệt tốt hay xấu.
Nếu các bạn dành 10 tiếng mỗi ngày để lo lắng,
để ganh tị, để lướt mạng xã hội trong sự sao nhãn,
bộ não của các bạn sẽ trở nên cực kỳ điêu luyện trong việc lo lắng và sao nhãn.
Các neuron sẽ kết nối với nhau để phục vụ cho sự tiêu cực đó một cách hiệu quả nhất.
Chúng ta đang tự điêu khắc nên một bộ não khổ đau mà không hề hay biết.
Vì vậy, sự cẩn trọng,
trong từng ý niệm không còn là lời khuyên đạo đức sáo rỗng,
mà là một mệnh lệnh sinh học để bảo vệ bộ não của chính mình.
Tính dẻo của thần kinh mang lại một niềm hy vọng lớn lao cho những người đang bị bổ dây bởi trầm cảm,
bởi chấn thương tâm lý,
hay bởi những thói quen xấu tưởng chừng không thể bỏ.
Khoa học đang nói với các bạn rằng,
hệ thống của bạn không bị hỏng dĩ nhiễn,
nó chỉ đang được nối dây sai cách,
và bạn hoàn toàn có quyền năng để nối dây lại.
Đây chính là sự khẳng định cho Phật tính tiềm ẩn trong mỗi con người,
khả năng thức tỉnh và chuyển quá luôn hiện diện,
chỉ chờ được kích hoạt bằng sự luyện tập kiên trì.
Tuy nhiên,
cuộc cách mạng này cũng đẩy các nhà khoa học vào một ngõ cuộc đầy thách thức.
Nếu tâm thức có thể thay đổi não bộ,
thì tâm thức là cái gì mà lại có quyền năng lớn đến thế?
Nếu chúng ta nói nơron tạo ra ý thức,
thì làm sao ý thức, sản phẩm, lại quay lại thay đổi nơron, người tạo ra nó?
Điều này giống như nói rằng bức tranh có thể quay lại thay đổi nét dẻ của người họa sĩ.
Sự mâu thuẫn này dẫn chúng ta đến một vấn đề nang giải nhất của mọi thời đại.
Một vấn đề mà các nhà khoa học lỗi lạc nhất cũng phải dò đầu bức tai.
Vấn đề nang giải về ý thức,
The Heart of the Problem of Consciousness.
Làm thế nào mà những sung điện vô tri,
những phản ứng hóa học khô khăn trong bộ não lại có thể tạo ra những trải nghiệm sống động,
những cảm xúc sâu sắc và sự nhận biết chủ quan về thực tại?
Liệu ý thức thực sự là một sản phẩm phụ có dật chất?
Hay nó là một dòng chảy độc lập?
Di tế và xuyên suốt mà não bộ chỉ đóng giai trò là một bộ phận thu phát tín hiệu.
Chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào điểm mù lớn nhất của khoa học duy dật trong phần tiếp theo.
Ở đó, chúng ta sẽ thấy sự lúng túng của những chiếc máy đo sóng não trước vẻ đẹp của sự tỉnh thức nội tâm.
Và chúng ta sẽ tìm hiểu xem tại sao Phật giáo lại khẳng định rằng ý thức không bao giờ chết,
mà nó là một dòng chảy không gián đoạn,
vượt qua cả giới hạn của thân xác vật lý này.
Hãy chuẩn bị tinh thần để đối mặt với bí ẩn lớn nhất của vũ trụ,
nằm ngay trong chính sự nhận biết của các bạn.
Thưa chưa dị,
sau khi chúng ta đã kinh ngạc trước sức mạnh của tính dẻo thần kinh,
thấy được cách mà tâm thức có thể chỉ huy neuron để tái cấu trúc bộ não,
chúng ta dường như đã tiến rất gần đến việc giải mã bản chất con người.
Thế nhưng,
chính tại đỉnh cao này,
khoa học phương Tây lại gia phải một bức tường đá khổng lồ.
Một việc thẩm mà các triết gia và nhà khoa học lỗi lạc nhất gọi là vấn đề năng giải về ý thức,
The Harder Problem of Consciousness.
Đây không phải là một vấn đề kỹ thuật mà chúng ta có thể giải quyết bằng cách chế tạo ra những chiếc máy web não mạnh hơn.
Đây là một lỗ hổng căn bản trong chính nền móng của thế giới quan duy dật.
Hãy cùng ta phân tích sự bế tắc này một cách logic.
Khoa học thần kinh hiện đại rất giỏi trong việc trả lời câu hỏi như thế nào, how?
Họ có thể giải thích chính xác làm thế nào ánh sáng đi vào giọng mạc,
chuyển thành sung điện,
chạy đến thủy chẩm và kích hoạt một chuỗi các neuron.
Nhưng thưa chư dị, có một câu hỏi mà khoa học vẫn hoàn toàn câm lặng.
Tại sao tất cả những hoạt động điện hóa khô khăn đó lại tạo ra một trải nghiệm sống động bên trong?
Tại sao khi các neuron bắn tín hiệu, các bạn lại cảm thấy màu đỏ rực rỡ của đóa hoa?
Lại cảm thấy vị ngọt liệm của mật ong?
Hay nỗi đau thắt lại của một trái tim tan dở?
Làm thế nào mà dật chất do tri như các phân tử carbon, hydro, oxy trong não
lại có thể nảy mầm ra sự nhận biết chủ quan?
Đây chính là khoảng cách không thể lấp đầy.
Các nhà khoa học nhìn thấy bản đồ, các sóng điện và phản ứng hóa học.
Nhưng họ hoàn toàn không nhìn thấy lãnh thổ, trải nghiệm nội tâm.
Một nhà khoa học có thể biết tất cả về cấu trúc vật lý của tình yêu,
về nông độ oxytocin trong máu,
nhưng cái kiến thức đó không bao giờ thay thế được cảm giác thực sự khi các bạn đang yêu.
Sự hiểu biết về dật chất là sự hiểu biết từ bên ngoài,
còn ý thức là sự chứng nghiệm từ bên trong.
Sự bế tắc này xảy ra vì khoa học phương Tây bế lâu nay vẫn mặc định một tiền đề chưa bao giờ được chứng minh.
Đó là dật chất có trước, ý thức có sau.
Họ tin rằng ý thức chỉ là một sản phẩm phụ,
một loại khói phát ra từ cổ máy não bộ.
Nhưng thưa chư dị, nếu ý thức chỉ là sản phẩm của não bộ,
thì khi não bộ chết đi, mọi thứ phải chấm dứt hoàn toàn.
Tuy nhiên, trong truyền thống Phật giáo,
dựa trên hàng ngàn năm thực chứng thiền định sâu,
chúng ta có một cái nhìn khác biệt và táo bạo hơn nhiều.
Ý thức không phải là nô lệ của dật chất,
và não bộ chỉ đóng giai trò là một bộ thu phát tín hiệu di tế mà thôi.
Hãy tưởng tượng ý thức của các bạn giống như một dòng điện vô hình,
còn bộ não giống như chiếc radio.
Khi chiếc radio bị hỏng, âm thanh biến mất.
Nhưng dòng điện và sóng phát thanh không hề mất đi.
Chúng chỉ không có công cụ để biểu hiện ra thế giới vật lý này mà thôi.
Phật giáo nhìn nhận ý thức là một dòng chảy, continue, liên tục.
Không có điểm bắt đầu và không có điểm kết thúc.
Ở cấp độ thô,
ý thức phụ thuộc vào não bộ và các giác quan.
Nhưng ở cấp độ sâu nhất,
cái mà ta gọi là quan minh tâm, mind of clear light,
ý thức tồn tại độc lập dưới các cấu trúc sinh học.
Trong các cuộc đối thoại tại hội thảo này,
ta đã nhiều lần thách thức các nhà khoa học phương Tây bằng hiện tượng Túc Đam,
một trạng thái mà các thiền sư kỳ cựu sau khi chết về mặt lâm sàng,
tim ngừng đập, não ngừng hoạt động,
nhưng cơ thể vẫn tươi tắng.
Không bị phân quỷ trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần.
Khoa học hiện đại không thể giải thích nổi hiện tượng này
bằng các định luật sinh hóa thông thường.
Tại sao?
Vì họ không biết rằng,
lúc đó,
một dòng chảy ý thức cực kỳ di tế vẫn đang hiện diện
và duy trì sự sống cho các tế bào ở mức độ năng lượng thâm sâu nhất.
Sự thừa nhận ý thức như một thực thể độc lập
sẽ thay đổi hoàn toàn cách chúng ta đối diện với sự sống và cái chết.
Nếu các bạn tin mình chỉ là bộ não,
các bạn sẽ sống trong nỗi sợ hãi tụt cùng về sự diệt dông.
Nhưng nếu các bạn hiểu mình là một dòng chảy ý thức vô tận,
các bạn sẽ thấy cái chết chỉ là sự thay đổi trang phục vật lý.
Sự hiểu biết này không mang tính an ủi tinh thần sáo rỗng,
mà nó dựa trên một sự phân tích biện chứng về bản chất của thực tại.
Tuy nhiên,
khoa học phương Tây vẫn đang ngần ngại bước qua ranh giới này.
Họ sợ rằng nếu thừa nhận ý thức có tính độc lập,
họ sẽ rơi vào mê tính hoặc tôn giáo.
Nhưng thưa chư dị,
sự thật không có tôn giáo.
Sự thật chỉ có sự thật.
Nếu các bằng chứng về tính dẻo thần kinh đã cho thấy tâm thức có thể chỉ huy não bộ,
thì tại sao chúng ta không dám tiến thêm một bước nữa để thừa nhận gì thế chủ đạo của tâm thức?
Khoa học hiện nay giống như một người mù màu đang cố gắng giải thích về vẻ đẹp của cầu dòng qua các con số và bớt sóng ánh sáng.
Họ có những con số đúng,
nhưng họ thiếu trải nghiệm về màu sắc.
Để thực sự hiểu về con người,
chúng ta cần một cuộc hôn phối giữa kính hiển di của phương Tây và thiền định của phương Đông.
Chúng ta cần một nền khoa học mà ở đó,
các nhà nghiên cứu không chỉ nhìn vào màn hình máy tính,
mà còn phải biết ngồi xuống,
nhắm mắt lại và quan sát chính dòng chảy ý thức của mình.
Khi chúng ta bắt đầu chấp nhận rằng tâm thức là nền tảng,
chúng ta sẽ thấy một mối liên hệ mật thiết giữa hiểu biết về thế giới và hành di đạo đức.
Một nền khoa học chỉ tập trung vào vật chất sẽ dẫn đến sự vô cảm,
coi con người chỉ là công cụ.
Nhưng một nền khoa học hiểu về sự liên kết của ý thức sẽ dẫn đến lòng trắc ẩn.
Bởi vì nếu ý thức của tôi và bạn liên kết với nhau trong một lưới trời dĩ đại,
thì làm hại ý thức của người khác chính là làm bẩn nguồn nước mà chính tôi đang uống.
Sự thấu hiểu này đưa chúng ta đến một chương quan trọng nhất của cuộc đối thoại, đạo đức.
Trong một kỷ nguyên mà công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt,
nếu chúng ta không có một nền tảng đạo đức dựa trên sự thấu hiểu về tâm thức,
chúng ta đang thực sự đùa giới lửa.
Làm thế nào để trí tuệ của khoa học phục vụ cho hạnh phúc thay vì sự quỷ diệt?
Hãy cùng ta bước vào phần tiếp theo để thảo luận về một nền đạo đức thế tục,
nơi mà lòng tự bi không còn là một khái niệm tôn giáo,
mà là một nhu cầu sinh học tất yếu để bảo vệ sự sống.
Thưa chư dị, chúng ta vừa cùng nhau đứng trước dựt thẩm của vấn đề nang giải về ý thức,
nơi mà khoa học duy dật bắt đầu chạm đến giới hạn của chính mình
khi cố gắng giải thích thế giới chỉ bằng những con số và neuron.
Tuy nhiên, cuộc đối thoại giữa Phật giáo và khoa học không chỉ dừng lại
ở những tranh luận triết học trừ tượng về bản chất thực tại.
Nó dẫn chúng ta đến một vấn đề cấp bách hơn, thực tế hơn,
liên quan trực tiếp đến sự tồn dông của nhân loại trong thế kỷ 21 này.
Đó là nền tảng đạo đức trong một kỷ nguyên mà sức mạnh công nghệ
đang dượt xa tầm kiểm soát của trí tuệ đạo đức.
Hãy nhìn vào bức tranh toàn cảnh của nhân loại hiện nay.
Chúng ta đang sống trong một thời đại rực rỡ nhất về mặt kỹ thuật.
Chúng ta có trí tuệ nhân tạo, AI, có thể tư duy nhanh hơn con người.
Có công nghệ chỉnh sửa gen có thể thay đổi bản đồ sinh học.
Và có những vũ khí hạt nhân có thể xóa sạch sự sống trên hành tinh này
chỉ trong một tích tác.
Khoa học đã trao cho chúng ta quyền năng của những dị thần.
Thế nhưng, thưa chư dị, quyền năng đó đang nằm trong tay ai?
Nó đang nằm trong tay những tâm thức vẫn còn đầy rảy sự sân hận,
tham lam và những định kiến chia rẽ của thời kỳ đồ đá.
Đây chính là bi kịch của sự mất cân bằng.
Khoa học phương Tây cực kỳ xuất sắc trong việc tìm ra câu trả lời
cho câu hỏi làm thế nào.
How?
Nhưng họ lại hoàn toàn lúng túng khi đối diện với câu hỏi
để làm gì?
What for?
Chúng ta biết cách chế tạo ra một thuật toán gây nghiện
để giữ chân người dùng trên mạng xã hội.
Nhưng chúng ta không hỏi liệu thuật toán đó
có làm gia tăng sự trầm cảm và thù ghét trong xã hội hay không.
Chúng ta biết cách tạo ra những vũ khí quỷ diệt chính xác hơn.
Nhưng chúng ta không hỏi liệu sự chính xác đó
có mang lại hòa bình chân thật hay không.
Trong hội thảo My Damn Life này,
ta đã nhiều lần nhấn mạnh rằng
trí tuệ thông minh, intelligence
mà thiếu đi lòng tự bi, compassion
là mối nguy hại lớn nhất đối với sự sống.
Một kẻ thông minh nhưng độc ác
sẽ tàn phá thế giới hiệu quả hơn gấp dạng lần một kẻ ngu ngốc.
Khoa học tự thân nó là trung tính.
Giống như một con dao sắt.
Con dao đó có thể nằm trong tay một bác sĩ để cứu người.
Nhưng cũng có thể nằm trong tay một kẻ sát nhân.
Cái quyết định hướng đi của con dao không phải là thép
mà là tâm thức của người cầm nó.
Chính vì vậy, ta đề xuất một khái niệm
mang tính cách mạng, đạo đức thế tục, Circular Ethics.
Đây không phải là một hệ thống đạo đức
dựa trên giáo điều tôn giáo
hay sự rang đe của một đấng thần linh nào đó.
Đây là một nền đạo đức dựa trên những bằng chứng khoa học
và sự thấu hiểu về bản chất tương thuộc của thực tại.
Khoa học ngày nay,
thông qua dật lý lượng tử
với sự liên kết dạng dật và thần kinh học
với tính dẻo của sự thấu cảm
đang cung cấp những lý lẽ đanh thép nhất cho lòng tốt.
Wendy Hassenkamp và các nhà khoa học đã chứng minh rằng
khi chúng ta nuôi dưỡng lòng từ bi
bộ não của chúng ta hoạt động hiệu quả hơn
hệ miễn dịch tốt hơn
và mức độ hạnh phúc chủ quan tăng cao.
Ngược lại,
sự di kỷ và thù hận
làm tàn phá các kết nối neuron
và gây ra những căn bệnh tâm thể.
Vậy thì,
lòng từ bi không còn là lời khuyên nên làm của các nhà sư
mà là một nhu cầu sinh học
để duy trì sức khỏe của cá nhân và cộng đồng.
Đạo đức chính là một dạng trí tuệ thực dụng để sinh tồn.
Chúng ta cần phải thay đổi cách giáo dục
trong các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu.
Một nhà khoa học không thể chỉ biết nhốt mình
trong phòng thí nghiệm và tuyên bố
tôi chỉ quan tâm đến sự thật hách quang.
Còn việc người ta dùng nó để làm gì
thì không phải việc của tôi.
Đó là một sự trốn tránh trách nhiệm đạo đức hèn nhát.
Trong một thế giới mà mọi hạt nguyên tử
đều rối với nhau như chúng ta đã thấy ở phần 3
thì không có hành động nào là riêng tư cả.
Mỗi phát minh,
mỗi công trình nghiên cứu đều gửi đi
những gợn sóng ảnh hưởng đến toàn bộ lưới trời của nhân loại.
Các nhà khoa học phải là những người đầu tiên thức tỉnh
trước lý duyên khởi.
Họ phải hiểu rằng sự tồn tại của họ
phụ thuộc vào xã hội
và sự an toàn của xã hội
phụ thuộc vào đạo đức của họ.
Một nhà thần kinh học khi hiểu về bộ não
phải dùng kiến thức đó để giúp
con người thoát khỏi trầm cảm và lo âu.
Chứ không phải để thiết kế ra những công cụ
thao túng tâm lý.
Một nhà vật lý khi hiểu về năng lượng
phải dùng nó để giải quyết khủng quản khí hậu
chứ không phải để chế tạo
những loại bom đạn tinh nghi hơn.
Thưa chư dị,
chúng ta đang đứng trước một ngưỡng cửa sinh tử.
Nếu chúng ta tiếp tục phát triển
sức mạnh vật chất mà bỏ quên
sự tu tập tâm thức,
chúng ta sẽ sớm bị chính những tạo vật
của mình ủy diệt.
Nhưng nếu chúng ta biết kết hợp kính hiển di
của phương Tây giới thiền định của phương Đông,
chúng ta sẽ tạo ra
một nền giăng minh mới.
Một nền giăng minh có sự hiểu biết
và lòng trắc ẩn.
Nơi mà công nghệ phục vụ cho phẩm giá con người
và tri thức phục vụ
cho sự sống.
Trách nhiệm này không chỉ thuộc về các nhà khoa học
mà thuộc về mỗi chúng ta,
những người đang sử dụng
các sản phẩm của khoa học hàng ngày.
Chúng ta phải trở thành những người tiêu dùng
có tránh niệm.
Chúng ta phải đòi hỏi một nền khoa học nhân dân hơn.
Và quan trọng nhất,
chúng ta phải tự rèn luyện
tâm thức của mình để không trở thành
nô lệ cho những công cụ mà chúng ta
đã tạo ra.
Sự hợp nhất giữa khoa học và tâm linh
không còn là một giấc mơ lãng mạn,
mà là một mệnh lệnh của thực tại.
Khi chúng ta nhận ra rằng tâm,
não và dịch chất
không phải là ba thực thể tách biệt,
mà là những khía cảnh khác nhau
của một thực tại trọn dạng và tương thuộc,
chúng ta sẽ thấy
một con đường đi tới hạnh phúc bền dững
cho cả hành tinh.
Hãy cùng ta bước vào phần cuối cùng
của cuộc đối thoại dĩ đại này.
Để tổng kết lại tất cả những gì
chúng ta đã học và thấy được bức tranh huy hoàng
về một nhân loại thức tỉnh.
Thưa chư dị,
chúng ta đã cùng nhau đi qua một cuộc hành trình
trí tuệ đầy kịch tính.
Từ những hạt hạ nguyên tử rộng ràng
của vật lý lượng tử,
xuyên qua những mạng lưới neuron
dẻo dai của bộ não,
cho đến vực thẳm sâu thẳm của ý thức
và nền tảng của đạo đức thế tục.
Bây giờ,
khi tất cả các mảnh ghép đã được đặt lên bàn,
chúng ta thấy hiện ra
một bức tranh toàn cảnh về thực tại.
Một bức tranh mà ở đó
không còn sự ngăn cách cứng nhất
giữa vật chất và tâm thức,
giữa khoa học và tâm linh.
Đây chính là thời khắc của sự hợp nhất,
integration, nơi nhân loại
tìm thấy một thực tại trọn dạng
để nương tựa.
Nhiều người thường hỏi ta rằng,
cuối cùng thì tôi nên tin vào ai?
Tin vào các nhà khoa học
hay tin vào lời dạy của Đức Phật?
Câu trả lời của ta luôn là,
các bạn không cần phải chọn lựa.
Việc chọn lựa giữa khoa học
và tâm linh giống như việc
một con chim phải chọn lựa
giữa cánh trái và cánh phải
để bay cao và đi xa
trên bầu trời của sự thật.
Con chim cần cả hai đôi cánh cân bằng.
Khoa học phương Tây cho chúng ta
đôi mắt để nhìn thấu cấu trúc
của thế giới bên ngoài.
Giúp chúng ta chế ngự thiên nhiên
và giảm bớt những nỗi đau thể sát.
Tâm linh phương Đông cho chúng ta
đôi mắt để nhìn thấu cấu trúc
của thế giới bên trong.
Giúp chúng ta chế ngự phiền não
và tìm thấy hạnh phúc chân thật.
Chiến thắng cuối cùng của cuộc đối thoại này
không phải là bên nào thuyết phục được bên nào,
mà là sự ra đời của một thế hệ
nhà khoa học nội tâm.
Đó chính là các bạn.
Ta kêu gọi mỗi người đang lắng nghe
ở đây hãy biến cơ thể mình thành
một phòng thí nghiệm.
Biến cuộc đời mình thành một công trình nghiên cứu.
Các bạn không cần những máy web
mri đắt tiền để quan sát
tâm thức.
Các bạn đã có một chiếc kính hiển di siêu hạn.
Đó chính là sự tỉnh thức
awareness.
Khi các bạn ngồi thiền,
các bạn đang thực hiện một thí nghiệm thần kinh học
trên chính mình.
Khi các bạn quan sát một cơn giận sinh khởi
và tan biến,
các bạn đang thực chứng lý
vô thường và tánh không một cách trực tiếp
hơn bất kỳ công thức vật lý nào.
Hãy nhìn vào sự hợp nhất
giữa tánh không và vật lý lượng tử.
Khi chúng ta hiểu rằng
mọi vật chất đều rộng ràng và tương thuộc,
chúng ta sẽ không còn bám chấp
vào những hình tướng bên ngoài.
Sự hiểu biết này giải phóng
chúng ta khỏi nổi sợ hãi
về sự mất mát và cái chết.
Hãy nhìn vào sự hợp nhất giữa
tính dẻo thần kinh và lý nghiệp quả.
Khi chúng ta biết rằng
mỗi suy nghĩ thiện lành đang kiến tạo
lại cấu trúc não bộ,
chúng ta sẽ có động lực mạnh liệt
để rèn luyện tâm thức mỗi ngày.
Đạo đức không còn là một gánh nặng
của lề luật, mà là một sự lựa chọn
thông minh để nâng cấp hệ điều hành
sinh học của chính mình.
Thế giới chúng ta đang sống đang đứng trước
những thử thách chưa từng có.
Biến đổi khí hậu,
sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo,
và nguy cơ của những cuộc
xung đột hạt nhân.
Những vấn đề này quá lớn để có thể
giải quyết chỉ bằng công nghệ thuần túy,
và cũng quá thực tế
để có thể giải quyết chỉ bằng những lời
cầu nguyện. Chúng ta cần
một sự hợp lực. Chúng ta
cần những nhà khoa học có trái tim
của Bồ Tát, và những hành giả
tâm linh có trí tuệ biện chứng của
các nhà khoa học. Thông điệp
cuối cùng mà ta muốn gửi gắm qua hội thảo
My Damn Life này là sự trách nhiệm
chung, Universal Responsibility.
Trong một vũ trụ
mà các hạt nguyên tử rối với nhau như
một lưới trời, thì không có
ai là người xa lạ.
Nỗi đau của một người ở bên kia đại dương
là nỗi đau của chúng ta.
Sự ô nhiễm của một dòng sông
là sự ô nhiễm trong quyết quản
của chúng ta. Khi các bạn thay đổi
tâm thức của chính mình từ dị kỷ
sang dị tha, các bạn
thực sự đang làm thay đổi tần số
của cả mạng lưới nhân loại.
Đây không phải là triết học lãng mạn.
Đây là hệ quả tất yếu
của lý duyên khởi.
Ta muốn các bạn hãy mang theo mình
3 báo dật sau khi kết thúc loạt bài này.
Thứ nhất là sự hoài nghi
lành mạnh, hãy luôn kiểm chứng
mọi sự thật bằng trải nghiệm của chính mình.
Thứ hai là sự tỉnh thức
dẻo dai, hãy luôn canh giữ
bộ não của mình khỏi những virus của
sự thù hận và sao nhãn.
Và thứ ba là lòng trắc ẩn
vô biên, hãy coi sự phục vụ
chúng sinh là mục đích cao cả nhất của
trí thức. Hãy nhớ rằng
bộ não tuyệt vời kia
chỉ là một công cụ
và vật chất rực rỡ kia chỉ là
một sân khấu. Người diễn
viên chính, người đạo diễn
thực sự của cuộc đời này chính là
tâm thức của các bạn. Đừng
để người đạo diễn ấy ngủ quên trong
vô minh. Hãy đánh thức
ông ta dậy bằng ánh sáng của trí tuệ
hợp nhất. Nguyện cho
tất cả những trí thức mà chúng ta đã
thảo luận ở đây sẽ không dừng lại
ở những khái niệm khô khang trên mặt
giấy. Nguyện cho chúng hóa
thành dòng máu nóng chạy trong huyết quản
hóa thành những kết nối
neuron mới mang lại sự an lạc
và hóa thành những hành động
từ bi cứu độ chúng sinh.
Nguyện cho sự gặp gỡ giữa khoa học
và tâm linh sẽ mở ra một kỷ nguyên
mới cho nhân loại, kỷ nguyên của một
thực tại trọn dẹn. Nơi
trí tuệ dẫn đường và tình thương
bao phủ. Chừng nào
không gian còn tồn tại
chừng nào chúng sinh còn khổ đau
ta nguyện sẽ luôn
ở lại để cùng các bạn khám phá
những bí ẩn của thực tại và soa
dịu nỗi đau của cuộc đời.
Chúc các bạn luôn tỉnh thức và bình an
trên con đường hợp nhất dĩ đại này.
Om Mani Padme Hum
