NGHIỆP - PHƯỚC ĐỨC - CÔNG ĐỨC - Thánh Đức Đalai Lama khai thị

Audio Sunshine (Đọc bằng AI)
12 người theo dõi
Nguồn : https://www.youtube.com/watch?v=2_x_8tgzijg
💗 Video mang lại giá trị, ý nghĩa cho bạn, hãy chia sẻ nó cho 1 người bạn của bạn, "like & subcribe" để ủng hộ phát triển kênh. Chân thành cảm ơn!
#tâmlinh #sachnoi #khoahocvutru #thuctinh #tỉnhthức #audiobook #chualanh #bíẩn #linhhon #dinhmenh #dinhmenhcualinhhon #dalailama
Thưa chư dị, hôm nay tôi muốn nói về một điều mà mỗi người trong chúng ta đều mang theo.
Dù ta có tin hay không tin, hiểu hay không hiểu, đó là chủng tử nhân, tức là hạt giống nghiệp trong tâm.
Trong vũ trụ này, không có điều gì mất đi.
Mọi ý niệm, lời nói, hành động của hữu tình đều để lại một dấu vết năng lượng kinh duy thức gọi là chủng tử.
Mật giáo gọi là huyền ấn lực, khoa học gọi là thông tin lượng tử.
Các nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại đều xác nhận điều này.
Ít nhất trong một dòng đời của vũ trụ, thông tin sẽ dĩ nhiễn không mất đi.
Chủng tử không phải vật chất, nhưng nó lưu giữ thông tin chính xác về mọi tương tác như một hồ sơ nghiệp lực không thể sửa đổi.
Chủng tử không phải bóng ma vô hình.
Nó là dấu vết năng lượng được tạo ra bởi sự giao động chính ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta.
Chỉ một cái khởi tâm nhỏ cũng tạo ra chủng tử.
Một lời nói nhẹ cũng tạo ra chủng tử.
Một hành động thiện hoặc ác đều tạo ra chủng tử.
Và tất cả đều được ghi vào A Lại Gia Thức, kho tàng sâu thẳm nhất của tâm thức.
Nhân quả của nó sẽ tự động dẫn hành trên trường nền của Pháp giới, chính xác, không sai biệt, không thiên dị để đảm bảo sự cân bằng của dạng hữu.
Chủng tử không hề mất đi.
Giống như hạt giống rơi xuống đất.
Nó không mất đi.
Nó chỉ nằm đó chờ duyên.
Duyên đủ thì nảy mầm.
Duyên chưa đủ thì nằm im.
Nhưng không bao giờ biến mất.
Có người hỏi Phật.
Thưa Phật, kiếp trước con giao nhân gì mà đời này khổ sở như vậy?
Phật chỉ nói một câu.
Con đang gặt những hạt giống mà con đã từng gieo, không sót một hạt nào.
Có hai loại chủng tử.
Một, chủng tử thiện, như hạt giống quý giá vô cùng.
Hai, chủng tử ác, như hạt mầm độc hại.
Chủng tử thiện sẽ đem lại an lạc.
Chủng tử ác sẽ đem lại đau khổ.
Nhưng xin chư dị nghe kỹ điều này.
Nó rất quyền nghiệp.
Chủng tử ác không chỉ nằm trong tâm người gieo.
Nó còn được lưu vào trường Pháp giới.
Và nó huy lại đầy đủ.
Ai là người gây nghiệp?
Ai là người bị hại?
Ai chứng kiến?
Ai đứng ngoài?
Ai chia tay cứu giúp?
Ai im lặng mặc kệ?
Tất cả giai trò đều được ghi nhận không sót một ai.
Như ghi âm, như ghi hình, như lưu dữ liệu,
như im dấu vết trên đất.
Không che giấu được điều gì,
vì sao phải ghi hết như vậy?
Vì khi quả báo trổ ra,
Pháp giới phái trả đúng cho từng người.
Đúng giai trò, đúng nhân duyên.
Không để bất kỳ ai chịu thiệt thòi.
Cũng không để ai hưởng quá phận.
Đó là sự công bằng tuyệt đối.
Nông dân gieo giống thế nào thì gặp thế ấy.
Một niệm thiện cũng quá thành phước lành cho cả hội chúng.
Một niệm ác cũng đủ gieo đọa mình và liên đối đến người khác.
Nhưng xin nhớ điều này.
Một niệm thiện đôi lúc cứu được một thân mạng.
Một niệm ác đôi lúc sẽ mất cả đời người.
Thưa chư dị,
sai lầm lớn nhất của con người là nghĩ rằng
nghĩ xấu là không sao,
nói xấu là không sao,
làm ác không ai biết.
Nhưng Pháp giới biết, ghi lại.
Tâm thức biết, để lại dấu ấn.
Chủng tử biết, nhân quả dẫn hành làm nó xuất hiện.
Quý vị có thể qua mặt con người, luật pháp thế gian,
nhưng không thể qua mặt nhân quả.
Cho nên, giữ từng ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động
chính là giữ lấy dẫn mệnh của chính mình.
Pháp giới ghi lại,
không xót một ai,
không lệch một mảy.
Khi duyên đủ,
chủng tử trổ quả.
Quả trổ xong,
dấu vết tự tan biến.
duyên,
quả,
hoàn tất như một chu kỳ vũ trụ,
không cần ai phán xét,
rất kỳ diệu.
Đức Phật dạy trong Kinh Trung Aham,
nhân duyên hòa hợp,
quả báo tự sinh,
không thần linh trừng phạm.
Không thượng đế, thượng bang.
Chỉ có tánh biết dẫn hành chính mình qua luật nhân quả.
Pháp giới có cơ chế tự cân bằng nghiệp và phước rất duy diệu.
Khi nói đến nghiệp báo,
đa số mọi người đều hiểu lệch một điều.
Người đời cứ nghĩ rằng,
làm ác, trời phạt,
làm thiện, trời thưởng.
Nhưng Phật Pháp không bao giờ dạy như vậy.
Trong Phật Pháp không có ông trời nào ngồi đó thưởng phạt cả.
Chỉ có Pháp giới dẫn hành một cách tự nhiên và tuyệt đối chính xác.
Và điều tôi sắp nói,
có thể nó hữu ít đôi chút.
Nếu quý vị hiểu được,
thì cả đời quý vị sẽ không còn sợ nghiệp,
mà bắt đầu biết cách chuyển nghiệp.
Thứ nhất,
Pháp giới không trừng phạt.
Pháp giới chỉ tự cân bằng.
Hãy hình dung vũ trụ như một trường năng lượng hoàn hảo.
Hãy có dì lệch đi Pháp giới tự động điều chỉnh lại.
Một người làm ác
chỉ đơn giản là tạo ra một năng lượng xấu làm lệch sự cân bằng.
Pháp giới phải đưa người ấy vào hoàn cảnh tương ứng
để trả lại năng lượng đã gây ra
và trả phước đúng phần cho người bị hại.
Không thiêm gì,
không cảm tính,
không tha thứ,
cũng không thù hẳn.
Một sự công bằng tuyệt đối đến mức làm ta sợ hãi.
Thứ hai, khi một người gây đau khổ cho người khác,
chuyện gì diễn ra?
Xin quý vị nghe thật kỹ.
Vì đây là chìa khóa mở ra cánh cửa hiểu về nghiệp.
Khi ta làm khổ ai đó,
một chủng tử ác được tạo ra trong tâm ta.
Chủng tử này được lập tức ghi vào Pháp giới
như một thông tin năng lượng.
Trong thông tin này lưu lại đầy đủ
Người gây nghiệp là ai?
Người bị hại là ai?
Mức độ đau khổ bao nhiêu?
Ai chứng kiến?
Ai giúp nỡ?
Ai im lặng?
Ai hưởng lợi?
Không sót một chi tiết nào.
Và từ giây phút đó trở đi,
năng lượng đau khổ của nạn nhân sẽ được Pháp giới bù lại bằng phước lành.
Còn người gây nghiệp sẽ phái trải lại mức đau khổ tương ứng.
Dừa đủ, không hơn, không kém.
Đây gọi là nghiệp hoàng mãn.
Thứ ba, khổ đau của ta chính là trả phước cho người.
Điều di dịu nhất nằm ở đây.
Khi quả báo trổ, khi ta nhận khổ,
thì người từng bị ta hại sẽ nhận được phước nước.
Không phải phước của ai khác.
Không phải phước từ hư không.
Mà là phước được chuyển quá từ chính dòng nghiệp của ta.
Ta đào bao nhiêu họ được phước bấy nhiêu.
Đây là sự công bằng mà không một tòa án nào trên đời làm được.
Khoa học có thể dễ dàng chuyển vật chất thành năng lượng.
Nhưng muốn chuyển năng lượng thành vật chất thì khó khăn dạng lần.
Chỉ có Pháp giới dẫn hành điều này mà không một mảy may trở ngại.
Có rất nhiều điều mà chỉ có các hành giả cao thâm mới hiểu được.
Thứ bốn, vì sao người bị hại không bị thiệt thòi?
Vì Pháp giới dẫn hành rất công bằng.
Người bị hại nhận một phần khổ đau và một phần phước sẽ gieo trở lại.
Người gây nghiệp nhận đúng phần đau khổ tương ứng.
Và tất cả chủng tử năng lượng khi nghiệp trổ xong đều tan biến.
Không còn ai nợ ai.
Không còn ai gắn kết với ai.
Không còn dây ràng buộc trong đời sao.
Đó là lý do trong kinh dạy.
Quả báo đã trổ thì nhân duyên giữa hai bên sẽ chấm dứt.
Như vậy, nghiệp báo chính là cơ chế giải phóng.
Chứ gì đừng sợ nghiệp báo.
Vì nghiệp báo không phải hình phà,
mà là quá trình tẩy rửa.
Có nợ thì ác có trả.
Giống như gột rửa một vết bẩn.
Phải có nước, phải có lực, phải có trà sát.
Nhưng sau đó, vết bẩn biến mất.
Nghiệp cũng vậy.
Khi ta khổ, là nghiệp đang tan.
Là gánh nặng đang rời khỏi tâm thức ta.
Là dấu vết cũ đang được xóa.
Đó là lý do người trí không bao giờ oán trách khi mình gặp khổ.
Họ chỉ nói, tốt rồi, nghiệp đang trả.
Vì Pháp giới dẫn hành như một hệ thống đạo đức tự cân bằng.
Khi ta làm ai khổ, nạn nhân nhận khổ.
Chủng tử lưu lại.
Khi quả trổ, ta nhận khổ.
Phần năng lượng khổ ấy được chuyển thành phước cho nạn nhân.
Không dân lịch, kinh dạy, nhân gieo đâu, quả đến đó.
Khổ của kẻ gây, thành phước của kẻ thọ.
Đây là nền tảng phố công bằng vũ trụ.
Khi ta chịu khổ đau, chính là ta đang giúp chính mình và giúp cả người khác.
Điều này nghe qua có vẻ nghịch lý.
Nhưng là sự thật sâu xa.
Ta trả nghiệp, ta sạch nghiệp.
Nạn nhân được phước họ trưởng dưỡng thiện căng.
Pháp giới cân bằng mọi dòng năng lượng hai đầu nhân quả về lại trạng thái thanh tịnh.
Cho nên, một người chấp nhận trả nghiệp bằng tâm bình thẳng,
chính là người đang giải thoát chính mình.
Cho nên, hiểu được cơ chế Pháp giới,
chúng ta không còn quán người làm hại mình,
sợ quả báo, trốn tránh nghiệp cũ.
Ta chỉ thấy rõ, mọi khổ đau là phương tiện thanh lọc.
Mọi phước báo đều có nguồn gốc công bằng.
Mọi nhân gieo đều trở về đúng chủ.
Đây cũng chính là nền tảng cho việc hiểu rõ về sự khác nhau rất lớn giữa công đức và phước đức trong sự dận hành của nhân quả.
Có một chân lý mà cả nhân gian thường xuyên lẫn lộ.
Phước đức và công đức không giống nhau.
Chúng khác nhau một trời một dựt.
Nhầm lẫn hai thứ này giống như lấy vàng rồng đem so với thỏi đồng.
Giống như nhầm ánh chớp với cả bầu trời.
Nhiều người sống cả đời, tạo phước rất nhiều nhưng không hề mở được trí tuệ,
không hề chạm được vào Phật tánh, không hề thoát khỏi bánh xe luân hồi.
Lý do chỉ vì tưởng phước là công, tưởng bố thí là giải sạch nghiệp, tưởng làm thiện là sẽ giúp chứng đạo.
Hoàn toàn không như vậy.
Phước đức có giá trị nhưng phước đức không giải thoát được.
Phước đức là gì?
Chính là năng lượng mang tính vật chất của nhân quả.
Phước đức là loại nhân quả hữu lậu, thuộc về thế gian.
Phước đức là loại năng lượng nhân quả có hình, có tướng, thuộc về
điều kiện sống, tiền tài, sức khỏe, tuổi thọ, danh dọng, may mắn, cơ hội, các hoàn cảnh thuận lợi,
sự an lạc tạm thời, giảm khổ trong khi còn ở trong dòng luân hồi.
Nó giống như là tài khoản tiết kiệm trong ngân hàng.
Xài thì hết, nhìn xài thì cũng dần bị hao mòn theo thời gian.
Phước đức không chạm vào vô minh.
Nó không mở trí tuệ.
Không chuyển quá tham, sân, tri.
Nó chỉ tạo một đời sống dễ chịu nhưng không đưa ai ra khỏi khổ.
Một người giàu, khỏe, thông minh, nổi tiếng.
Đó là nhờ Phước đời trước.
Nhưng Phước ấy không giúp họ giác ngộ nếu họ không tu.
Thế nên, Phước đức là nhựa cây, công đức mới là gốc rễ.
Phước đức cho quả ngọt.
Nhưng công đức mới biến ta thành cái cây bất tử.
Phật dạy trong Kinh Phước đức.
Phước đức đưa đến an lạc đời này nhưng không thể đưa đến giải thoát.
Công đức là gì?
Công đức là năng lượng vô lậu có thể chuyển quá tâm thức.
Công đức thì hoàn toàn khác Phước đức.
Nó thuộc về tầng vô lậu, nghĩa là không rơi vào dòng sinh, diệt của nghiệp quả.
Công đức là năng lượng giác ngộ, thứ có khả năng.
Tình quá nghiệp nặng.
Nâng cấp dị cách tâm thức.
Xua tan vô minh.
Khai mở Phật tánh.
Tăng trưởng trí huệ.
Tích lũy báo thân, pháp thân.
Giúp ta đi trên đường của các Bồ Tát và chư Phật.
Công đức không bị nhân quả trói buộc theo kiểu cho bao nhiêu, nhận mấy nhiêu.
Công đức chuyển quá nhân quả, không bị nhân quả chi phối.
Đây là lý do mà.
Người có Phước thì giàu sang.
Người có Công đức thì giác ngộ.
Người có Phước thì hưởng nhiều.
Người có Công đức thì đổ đời.
Người có Phước hết Phước thì sa đoạ.
Người có Công đức hết thân thì thành thánh.
Đó là khác biệt.
Có ba điểm then chốt phân biệt Phước Đức và Công Đức.
Điểm thứ nhất.
Phước nuôi thân, Công Đức nuôi tâm.
Phước làm cuộc đời dễ thở.
Công Đức mở ra sự tỉnh thức.
Phước là con đường dẫn đến cõi lành.
Công Đức là con đường dẫn đến giải thoát.
Điểm thứ hai.
Phước Đức chịu nhân quả một hướng.
Công Đức chịu nhân quả đa hướng.
Phước giống như gieo hạt xoài, ra quả xoài.
Công Đức giống như trồng một cánh rừng.
Quả báo lan tỏa vô lượng, vô hình tướng.
Một hành động Công Đức vô lậu sẽ lan khắp Pháp giới.
Điểm thứ ba.
Phước Đức hết thì mất.
Công Đức hết thì thành.
Phước dùng thì tiêu.
Công Đức dùng thì lớn.
Công Đức giống như lửa, càng thổi càng mạnh.
Công Đức giống như ánh sáng, càng tỏa càng rộng.
Khi nào một hành động trở thành Phước Đức?
Khi nào trở thành Công Đức?
Cùng một hành động bố thí, cúng dường, cứu trợ, giúp nở, làm việc thiện.
Nhưng có khi thành Phước Đức, có khi thành Công Đức.
Sự khác biệt là nằm ở tâm.
Hành động ấy là Phước Nếu.
Còn phân biệt.
Còn chấp công.
Còn mong được báo đáp.
Còn mong đời sao sung sướng.
Còn muốn được biết ơn.
Còn nghĩ ta là người giúp họ.
Đây là hữu lậu.
Hành động ấy là Công Đức Nếu.
Không mong đáp đền.
Không chấp ngã.
Không mong thấy quả.
Không thấy người cho, người nhận, vật cho.
Hành động vì lòng từ, vì trí tuệ.
Không lưu lại dấu vết của ta.
Đây là vô lậu.
Một hành động giống nhau, nhưng tâm khác nhau, tạo ra.
Phước Đức hữu lậu, tạo ra đời sống tốt.
Công Đức vô lậu, xóa nghiệp, tăng trí, mở Phật tánh.
Đây là trí tuệ mà người bình dân không biết, mà các Bậc Thánh đều thấy.
Công Đức cũng sinh ra khi ta.
Giảng Pháp đúng tránh Pháp.
Hộ trì chân tu chân chính.
Truyền bá thiện Pháp.
Giúp người khác phá vô minh.
Giúp một sinh linh tăng cấp tâm thức.
Kinh hoa nghiêm dạy.
Một niệm khai mở cho hữu tình phá vô minh.
Công Đức hơn xây bảy báo tháp đầy tam thiên.
Đó là lý do.
Khi cúng dường tam bảo đúng nơi.
Xây chùa cho Bật chân tu hành trì đúng tránh Pháp.
Giảng Pháp độ sinh thì công Đức sẽ vô lượng.
Người đời hay thường hỏi.
Tu sao để giảm nghiệp?
Làm sao để trả nghiệp cho nhẹ?
Thưa Chư Dĩ!
Nghiệp xấu được quá giải bằng hai con đường.
Phước Đức giúp làm mềm quả báo nặng hoặc quá giải quả báo nhẹ.
Giúp bớt khổ.
Nhưng công Đức vô lậu có thể giúp xoa dứt tận gốc trụng tử nghiệp trong A Lại Gia Thức.
Phước giúp giảm đau.
Công Đức giúp chữa tận gốc.
Người đời cần Phước để sống.
Nhưng người tu cần Công Đức để thoát.
Phước là nền.
Công là đường.
Nếu con đi bằng Phước, ta sẽ sinh vào chỗ lành.
Nếu ta đi bằng Công Đức, ta sẽ thành Hánh, thành Bồ Tát, thành Phật.
Các bậc giác ngộ đều đi cả hai con đường.
Nhưng người trí phải phân biệt.
Làm gì để tạo Phước?
Làm gì để thành Công Đức?
Làm sao để hành thiện mà vô lậu?
Đó mới là con đường của người cứu đời, cứu người, và tự cứu chính mình.
Công Đức không chỉ có một loại.
Có hai loại Công Đức, Nội Công Đức và Ngoại Công Đức.
Cả hai loại đều là sự dận hành kỳ diệu của Pháp giới, là năng lượng để khai mở Tánh Biết.
Tất cả đều đến và đi tùy duyên, tùy nghiệp, khi tâm không cầu nó xuất hiện.
Khi tâm chấp ngã nó biến mất.
Giống như trạng thái giữa sống và hạt trong khoa học.
Khi ta quan sát nó là hạt, khi không quan sát nó biến thành sống.
Thưa Chư Dị, nếu Phước Đức giống như nước mưa tưới ruộng,
thì Công Đức giống như nguồn suối từ lòng đất chảy lên.
Mưa thì có lúc tác.
Nhưng suối nếu khơi đúng mạch, nó chảy cả một đời.
Mọi bậc thánh, mọi bậc giác ngộ, mọi gì Bồ Tát đều thành tựu được là nhờ khai mở Công Đức.
Mà Công Đức lại có hai loại hoàn toàn khác nhau,
nhưng cùng dẫn đến mục đích hiển lộ Phật Tánh.
Đó là nội Công Đức, Công Đức phát sinh từ bên trong chính tâm ta.
Ngoài Công Đức, Công Đức do Pháp giới hội đáp khi ta làm lợi ích hưởng tình.
Hai loại này như hai cánh cửa.
Mở một cánh thì sáng một nửa.
Mở cả hai thì tâm tự nhiên chiếu rọi bốn phương trời.
Loại thứ nhất, Nội Công Đức, Công Đức của Tự Tánh, của Giới, Định, Tuệ.
Chư dị nên nhớ, Nội Công Đức là phần quan trọng nhất.
Đó là Công Đức phát sinh khi ta giữ giới tâm trong sạch,
giọng niệm giảm, tu định tâm an trú, giọng tưởng lắng xuống.
Quán tuệ phá giỡn màn vô minh thấy thật tướng của các Pháp
và tinh tấn thấy rõ bản chất vô thường.
Muôn dần chấp ngã, xua tan vô minh từng phần.
Mỗi lần ta dược qua một giọng tưởng, một tham muốn, một sân hận, một chấp thủ
là một đốn vô minh tan đi.
Và chính ngay thời điểm vô minh tan đến đâu, Nội Công Đức sinh ra chừng đó.
Nó không cần ai chứng kiến, không cần ai tán dương, không cần ai ghi nhận.
Vì Tự Tánh đã ghi, Nội Công Đức phát sinh từ chính Phật Tánh của ta.
Nó là ánh sáng từ trong tỏa ra, không lệ thuộc bất kỳ hữu tình nào.
Nó nuôi lớn định lực, trí tuệ, tâm y, sự tự chủ, năng lực giải nghiệp, năng lực chứng đạo.
Nếu chỉ đi con đường này, chỉ tu giới, định, tuệ, không độ đời, không tạo lợi ích rộng lớn
thì thành tựu tối cao là.
Độc giác Phật, tự giác bằng trí, thấy đạo lý mà không cần Thầy chỉ dạy.
Đó là con đường giải thoát cá nhân.
Thù thắng, không sai, nhưng chưa phải con đường như lai.
Ngoại Công Đức, Công Đức do Pháp giới hội đáp.
Ngoại Công Đức là một thứ kỳ diệu, diệm màu, rộng lớn.
Nó sinh ra khi ta làm lợi lạc cho hữu tình, nhưng với tâm vô lộ, cứu người, giúp đỡ,
cúng dường, bố thí, hướng dẫn, khai thị, che chở, hiến thân, hiến sức, hiến tâm.
Làm mọi điều không vì ta, mà vì đời.
Nhưng phải nhớ, nếu còn chấp thì nó là Phước Đức.
Nếu không chấp thì nó thành Công Đức.
Rất kỳ diệu.
Khi Công Đức vô lộ được tạo ra, Pháp giới phản ứng lập tức như một hệ thống dận hành siêu diệt.
Năng lượng thiện lành lan tới tất cả hữu tình được ta chạm vào.
Dấu ấn được vi vào tâm thức của chính ta.
Và đồng thời, Pháp giới trả lại cho ta một dòng năng lượng ánh sáng tinh khiết.
Ấy gọi là Ngoại Công Đức.
Ngoại Công Đức mở nhanh trí tuệ, giải rất mạnh nghiệp lực, thanh lọc a lại gia,
nâng cao tầng rung của tâm, tạo duyên gặp Đại Thiện Tri Thức,
giúp ta phát sinh Đại Bi, giúp ta đi trên đường Bồ Tát Đạo.
Khác với Nội Công Đức, giống tăng trưởng từ từ,
thì Ngoại Công Đức tăng theo cấp số nhân, càng đổ nhiều người, công đức càng lớn.
Đây là con đường của Chư Đại Bồ Tát, Đức Quán Ân, Đức Giăng Thù, Đức Phổ Hiền, Đức Địa Tạng.
Và tất cả Chư Phật đã từng đi giúp một người thành tựu một phần,
giúp nhiều người, công đức vô lượng, giúp vô số hữu tình, cả Pháp giới nghiêng về phía ta.
Hai loại khác biệt như vậy nhưng Nội Công Đức và Ngoại Công Đức lại là hai dòng cùng chảy về một biển.
Nếu chỉ tu Nội Công Đức thành bậc giải thoát nhưng không đủ sức độ khắp hữu tình,
nếu chỉ tu Ngoại Công Đức đại bi lớn nhưng trí tuệ chưa viên mãn để chỉ đường,
thì hai dòng sông hội nhập, Nội Công Đức làm trí tuệ như kim can bất ngoại,
Ngoại Công Đức làm tự bi như biển cả vô biên,
thì hữu tình ấy bước vào con đường nhất thiết trí.
Con đường của Mười Phương Chư Phật là sự hợp nhất,
trí tuệ tự giác, Nội Công Đức, đại bi giác tha, Ngoại Công Đức.
Chỉ khi hai dòng hòa vào nhau, Phật tánh trở thành mặt trời, không phải chỉ là ngọn đèn.
Chư dĩ nên hiểu, Nội Công Đức là gốc, Ngoại Công Đức là cành,
Nội Công Đức giống như mài kiếm, Ngoại Công Đức giống như dùng kiếm ấy để cứu người,
Nội Công Đức làm ta không lầm đường, Ngoại Công Đức làm ta không thối trí,
Nội Công Đức sâu nhưng chậm, Ngoại Công Đức rộng và nhanh.
Ai đi một trong hai đường đều thấy được Miết Bàn.
Ở mức cao nhất, Nội Công Đức mở Phật tánh cho bản thân,
Ngoại Công Đức mở Phật tánh cho toàn Pháp giới.
Một dì Đại Bồ Tát sáng rực cả trong lẫn ngoài, như mặt trời chiếu rọi từ hai phía,
tự giác giác tha giác hành viên mãng, đó là lộ trình tối thượng.
Nhưng ai đi cả hai thì trở thành Bồ Tát,
có thể tích lũy công đức vô lượng để kết thành Báo Thân và Pháp Thân,
sẽ đạt viên mãng tam thân.
Khi Nội Công Đức đủ trí tuệ phát sáng,
khi Ngoại Công Đức đủ từ bi trở thành lực,
hai thứ tương tác tạo thành,
Pháp Thân tánh biết vô tướng,
Báo Thân sắc thân di dịu do công đức vô lượng kết tủ,
ứng thân quá hiện trong vô số thế giới để giáo hóa.
Không có Ngoại Công Đức không có Báo Thân,
không có Nội Công Đức không thấy Pháp Thân,
nên Phật thân tam thân đều từ công đức vô lậu viên mãng mà đến.
Vì vậy, tất cả chứ Phật đều đi đủ cả hai con đường.
Không dị nào chỉ tu một đường mà thành toàn giác,
khi chứ dị đi đủ xa, đúng đường.
Có rất nhiều dấu hiệu nhận biết công đức tăng trưởng.
Khi Nội Công Đức tăng, tâm ích dọng niệm,
sân không nổi mạnh, chấp ngã yếu đi,
tâm sáng, bình an, trí thấy rõ sự thật.
Khi Ngoại Công Đức tăng, người lạ tự nhiên quý mến,
gặp nhiều duyên lành, nghiệp nặng quá nhẹ,
lời nói có lực, hành động có ảnh hưởng,
đi đến đâu cũng giúp được ai đó,
đời sống tuy khó nhưng tâm lại nhẹ như mây.
Ngoại công mạnh thì ma chướng không dám đến gần,
nghiệp lực không dám trổ mạnh,
thiện tri thức tự tìm đến.
Cửa giác ngộ mở rộng.
Khi các dị muốn cứu người, muốn đổ đời,
muốn mở trí tuệ, muốn sạc nghiệp,
muốn chạm Phật Tánh, muốn bước lên con đường Bồ Tát,
thì phải đi cả hai đường.
Người Nội Công Đức bằng giới, định, tuệ.
Tăng ngoại công đức bằng lợi ích vô lậu cho hữu tình.
Đi một đường thi sáng một phần.
Đi cả hai, ta sẽ trở thành ánh đuốt giữa đêm,
khiến chúng sinh nhìn thấy liền rơi lệ vì thức tỉnh.
Nhưng làm sao để tạo công đức vô lậu như chư dị Bồ Tát?
Nên biết, công đức không phải cứ làm là có.
Nhiều người nghĩ rằng cứ làm điều thiện là có công đức.
Không phải vậy.
Làm điều thiện thì chắc chắn có phước đức.
Nhưng công đức chỉ sinh ra khi ba yếu tố hợp lại.
Lợi ích thật cho hữu tình.
Tâm không chấp công.
Không gì ngã.
Hành động ấy có khả năng giải nghiệp, khai tuệ giải thoát,
tăng trưởng Phật Tánh cho họ.
Nếu thiếu một trong ba điều,
phải biết ta chỉ có phước đức, không có công đức.
Công đức vô lậu là gì?
Là ánh sáng khiến tâm ta gần Phật hơn.
Là lực khiến nghiệp tan nhanh hơn.
Là nguồn năng lượng khiến trí tuệ bừng mở.
Là dấu ấn nâng đỡ do số đời.
Công đức vô lậu là vàng rồng của Pháp giới.
Muốn tạo được, phải đi đúng cách.
Điều thứ nhất, hành động phải thực sự lợi ích hữu tình.
Không phải việc gì cũng thành công đức.
Xây chùa có thể thành công đức,
nhưng cũng có thể chỉ là phước.
Cúng giường có thể là công đức,
nhưng cũng có khi chỉ là bố thí thế gian.
Giúp người có khi là công đức.
Nhưng nếu xuất phát từ danh tiếng,
vẫn chỉ là phước.
Công đức vô lậu chỉ sinh ra khi hành động đó
giúp hữu tình thoát khổ thật sự.
Giúp họ giảm nghiệp.
Tăng trí tuệ tu hành.
Tăng tâm từ bi.
Tăng tính tâm giới tam bảo.
Dẫn họ gần với con đường giải thoát.
Nếu ta giúp họ giật chất nhưng làm họ tăng tham,
chỉ là phước.
Nếu ta giúp họ mà khơi lên sân hận,
còn tạo nghiệp.
Nếu ta giúp họ mà làm họ dựa giảm,
phước giảm nữa.
Công đức chỉ sinh khi
tâm thức hữu tình được nâng lên,
tâm họ mở ra, khổ họ nhẹ đi.
Điều thứ hai, tâm không tham công,
không chấp ngã.
Đây là cửa ải lớn nhất.
Có người làm xong rồi muốn được ghi công.
Có người giúp xong muốn người ta biết ơn.
Có người cho rồi muốn được táng dương.
Thưa chư dị,
tâm như vậy thì phước có,
nhưng công đức không khởi.
Công đức vô lậu cần tâm,
vô điều kiện,
vô sở cầu,
không mong hội đáp,
không cần ghi danh,
không cần biết ai nhìn thấy,
không cần người khác nhớ ơn.
Giúp như ánh sáng mặt trời,
chiếu mà không cần ai tôn vinh mặt trời.
Giúp như gió,
nâng cánh chim lên mà không đòi chim biết ơn.
Giúp như đất,
chở muôn loài mà chưa từng khoe khoang.
Khi tâm không còn ta là người giúp,
thì lúc đó công đức vô lậu khởi lên mạnh như sấm nổ.
Điều thứ ba,
việc làm ấy phải tăng trưởng trí tuệ,
bi tâm, định lực.
Đây là dấu ấn đặc biệt của công đức vô lậu.
Một hành động có công đức vô lậu
sẽ khiến tâm ta và tâm người sáng ra,
sẽ khiến trí tuệ tăng lên,
sẽ làm tự bi sâu hơn,
sẽ làm định lực mạnh hơn.
Điều gì làm ta sáng trí,
điều đó có công đức.
Điều gì khiến ta bớt tham,
sân, ti,
điều đó có công đức.
Điều gì khiến ta thương người hơn,
điều đó có công đức.
Điều gì khiến tâm ta yên,
lòng ta rộng,
điều đó có công đức.
Không phải việc to mới có công đức.
Một lời khuyến tấn chân thành,
một câu khai thị nhỏ,
hay thậm chí một niệm vô ngã xuất phát tự bi,
đều có thể sinh công đức vô lậu.
Có bậc Thầy Giác Ngộ nhìn thấy giải pháp
dễ làm những công đức lớn như biển.
Cứu người trong lúc khổ tâm,
công đức lớn hơn cứu người trong khổ thân.
Vì khổ tâm là khổ sâu nhất,
giúp người hiểu đúng nhân quả.
Một người Giác Ngộ nhân quả,
thoát vô số nghiệp,
khai thị cho người đoạn ác, tu thiện.
Chỉ cần họ từ bỏ một niệm ác,
công đức bằng bố thí trăm nén vàng,
giúp người giữ giới.
Giữ được giới tới đâu,
công đức khởi từ đó.
Dạy người cách tu,
dù chỉ là cách hít thở tránh niệm,
công đức cũng vô lượng.
Hộ trì hành giả chân tu,
vì một dì chân tu mà được tồn tại,
cả trăm người được lợi.
Bảo vệ người yếu thế,
một lời can ngăn sân hận,
quá giải nghiệp của nhiều người.
Bố thí giới tâm vô ngã,
cho mà không thấy mình cho.
Giữ tâm khiêm cung,
vì khiêm cung là đất lành cho mọi công đức nảy mầm.
Tình tấn tu tập để vô minh tự tan.
Khi vô minh tan,
công đức vô lậu xuất hiện tức thì,
chư dị nên nhớ điều này.
Phước đức trả được nghiệp nhẹ,
công đức mới đủ lực trả nghiệp nặng.
Công đức vô lậu mới đủ để nghiệp tan ngay trong đời này.
Vì sao?
Vì công đức vô lậu chứa trí tuệ,
ánh sáng, năng lực thanh lọc,
vô ngã, từ bi, bản chất Phật tánh.
Nghiệp giốn là vô minh đóng lạc.
Khi gặp ánh sáng trí tuệ,
nó tan.
Nghiệp giốn là năng lượng thấp.
Khi gặp năng lượng công đức,
nó chuyển quá.
Nghiệp giốn là hạt giống khổ.
Khi gặp tâm từ bi,
nó mòn dần.
Pháp giới dẫn hành rất rõ.
Công đức vô lậu trả nghiệp bằng năng lượng ánh sáng,
không bằng khổ đau.
Đây là lý do các Bồ Tát không cần chịu khổ như phàm phu.
Nhưng nghiệp cũ vẫn sạch hẳn.
Vì các ngài trả nghiệp bằng công đức đại bi,
không phải bằng đau đớn.
Thưa Chư Dị,
công đức vô lậu không phải chuyển xa xôi.
Không cần phải đợi khi xuất gia.
Không cần phải thành thánh.
Công đức vô lậu có thể sinh ra ngay hôm nay.
Ngay khi ta mở tâm thương người,
bỏ xuống cái ta cứng ngắt,
làm một việc thiện vì lợi ích thật của đời
và giữ tâm khiêm, tâm tịnh,
tâm vô sở cầu,
khi ấy ta đã bước vào con đường của các Bồ Tát rồi.
Và khi bước lên con đường thuận thiên ấy,
Pháp giới sẽ đứng phía sau mà nâng đỡ ta.
Công đức tăng nhanh hay chậm,
tất cả phụ thuộc vào tâm.
Người đời thường hỏi,
Sư Phụ, con muốn Phật Tánh hiển lộ trong đời này,
con phải làm sao?
Họ không cần chờ nhiều kiếp,
không cần cầu may,
không cần nương vào người khác.
Tất cả đều là từ năng lượng công đức.
Tăng trưởng công đức chính là
tinh tấn tu hành,
tinh tấn ba la mật,
tất cả là lợi lạc cho mình và người.
Công đức không phải là chất tham.
Nó dẫn hành tự nhiên, vô ngã.
Đầu tiên, tăng nội công đức chính là ánh sáng tự thân bừng lên.
Nội công đức là công đức xuất phát từ Phật Tánh bên trong ta.
Là ánh sáng tự thân,
là lửa tinh thần,
là nền tảng giác ngộ.
Giữ giới còn hơn trăm ngàn pháp tu khác.
Giới không chỉ là luật, là hình tướng.
Giới là lá trắng bảo vệ tâm khỏi tham,
sân, tri.
Mỗi khi ta giữ giới,
nội công đức tăng lên từng phần.
Nghiệp xấu không trổ, trí tuệ nảy mầm.
Hãy chọn ngũ giới căn bản mà giữ nghiêm.
Không di phạm dù là một niệm.
Như vậy, công đức như hạt giống rơi vào đất tốt,
nảy mầm ngay.
Tu định chính là tập cách làm chủ tâm.
Hước thở tránh niệm.
Quán chiếu hơi thở, thân, tâm.
Tâm yên, vô ngã xuất hiện.
Mỗi phút tâm yên là nội công đức tăng.
Càng yên, càng sáng,
vô minh càng tan.
Phát huệ chính là khi trí tuệ lớn lên.
Xem tất cả vô thường.
Thấy tham sân si sinh ra từ vô minh.
Thấy khổ đau sinh ra từ chấp thủ.
Trí tuệ hiển lộ,
nội công đức tăng mạnh.
Đây là con đường tỉnh thức ngay đời này,
không cần chờ kiếp sau.
Thứ hai, tăng ngoại công đức
chính là lan tỏa ánh sáng ra bên ngoài.
Ngoại công đức là khi Pháp giới phản hồi trả lại công đức
từ hành động lợi ích hữu tình.
Làm lợi ích thật sự cho người khác.
Giúp người giảm khổ.
Tăng trí tuệ.
Mở lòng từ bi.
Giúp họ gần con đường giải thoát.
Một hành động nhỏ mà thật sự có hiệu quả.
Công đức vô lậu sinh ra không giới hạn.
Khi giúp vô ngã,
tâm không dướng lợi danh.
Không nhớ mình đã làm.
Không muốn được khen.
Không mong báo đáp.
Khi tâm vô ngã, Pháp giới hồi lại công đức
như lũ nước mạnh tuôn về biển.
Lan tỏa, tăng trưởng nhanh chóng,
tăng gấp trăm lần so giới phước thường tình.
Bố thí giới tâm từ bi.
Cho mà không nghĩ ta cho ai.
Cho như gió thổi, như ánh sáng chiếu.
Công đức sinh ra ngay lập tức,
tăng nhanh như lửa bùng.
Pháp giới dân hành như một bản nhạc vũ trụ hoàn hảo.
Nội công đức chiếu sáng tâm,
làm tăng vô minh, tăng trí tuệ,
tăng lực định như nắng ấm mặt trời.
Ngoài công đức, lan tỏa ra hữu tình,
tạo duyên lạnh, trả nghiệp, mở cửa Phật tánh
như mưa rào tưới đồng ruộng.
Khi kết hợp cả hai, công đức không chỉ tăng nhanh
mà còn vô hạn.
Nhanh hơn tất cả những hành thiện chỉ dựa vào phước hữu lậu.
Hãy hành trì hàng ngày như thế.
Ngày một niệm từ Bi cứu một người trong lòng,
từ xa hay gần.
Học và thực hành giới, đỉnh, tuệ, tịnh hóa tâm.
Giúp người hiểu nhân quả,
một người hiểu là hàng chục người được lợi.
Hộ trì hành giả chân tu,
tăng hiệu quả ngoại công.
Từ bỏ chất ngã, càng ít ta, công đức tăng mạnh.
Tinh tấn từng ngày,
mỗi niệm thiện vô ngã sinh ra công đức vô lượng.
Và phải biết kết hợp công đức, phước đức,
phước đức nuôi thân,
công đức nuôi tâm,
pháp giới tự tăng trưởng.
Nếu làm được như vậy thì chư dị đang đi trên
con đường Bồ Tát ngay trong đời này.
Nội công đức là năng lượng ánh sáng tự thân giúp thanh lọc tâm,
xua tàn vô minh.
Ngoài công đức là năng lượng ánh sáng
từ hành động lợi ích hữu tình,
lan tỏa khắp pháp giới.
Hai dòng công đức này khi cùng phát triển
đưa con ngay vào con đường Bồ Tát Đạo.
Không chờ kiếp sau,
không lệ thuộc duyên bên ngoài.
Hãy nhớ mỗi hành động, mỗi niệm,
mỗi hơi thở vô ngã đều có thể sinh công đức vô lậu.
Ai biết thực hành,
người ấy trở thành ánh sáng giữa đời.
Pháp giới tự hồi giúp trả nghiệp.
Mở trí, khai Phật tánh,
cứu mình và cứu chúng sinh.
Đức Phật chỉ là người truyền trí tuệ,
soi đường, còn ánh sáng giác ngộ thực sự
là nơi tâm mỗi hữu tình,
là nơi mọi hữu tình học hỏi và hành trì.
Khi ta dùng trí tuệ này cứu đổ chúng sinh,
chính ta mới là ngọn đuốc giữa đêm
là Bồ Tát trong đời này.
Hãy nhớ kỹ, ánh sáng Phật tánh
không ở đâu xa,
mà đang tỏa rạng nơi từng hành động,
từng niệm thiện, từng hơi thở của chư dị.
Khi ta hành thiện vô ngã,
công đức vô lậu sẽ lớn mạnh,
trả nghiệm, khai mở trí tuệ,
dẫn dắt chúng sinh thoát khổ.
Đây mới là giác ngộ chân thực,
không phải của ai khác,
mà của chư dị và của tất cả chúng sinh có duyên.
Nếu chư dị đã làm rất tốt,
hãy tiếp tục bước đi,
mỗi ngày một bước,
cứu đời, cứu mình,
gieo ánh sáng vô lượng trong nhân gian.
