Truyền Thống Lễ Thành Nhân Ở Nhật Bản, Hàn Quốc Và Trung Quốc | Uyên Nhân Kiệt
#htu, #reviewvungtau , #vanhoatruyenthong, #giaoduc Khi nói đến văn hóa phương Đông, văn hóa sâu xa của Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ khu vực Đông Á. Mặc dù văn hóa Trung Quốc đại lục thời cận đại bị đứt gãy, nhưng chúng ta vẫn có thể thấy bóng dáng văn hóa cổ xưa Trung Quốc vẫn y nguyên trong nền văn hóa của Nhật Bản và Hàn Quốc. Trước tiên chúng ta hãy xem qua một chút văn hóa Lễ Thành nhân của đất nước Nhật Bản, cứ đến ngày thứ Hai của tuần thứ 2 trong tháng Giêng hàng năm, người Nhật Bản lại tổ chức Lễ Thành nhân cho nam nữ thanh niên tròn 20 tuổi.
Chào mừng quý khán thính giả.
Quý vị đã nghe lễ thành nhân bao giờ chưa?
Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về lễ thành nhân nhé.
Khi nói đến văn hóa phương Đông, văn hóa sâu xa của Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ khu vực Đông Á.
Mặc dù văn hóa Trung Quốc đại lục thời cận đại bị đít gãy, nhưng chúng ta vẫn có thể thấy móng dáng văn hóa cổ xưa Trung Quốc vẫn y nguyên trong nền văn hóa của Nhật Bản và Hàn Quốc.
Trước tiên, chúng ta hãy xem qua một chút văn hóa lễ thành nhân của đất nước Nhật Bản.
Cứ đến ngày thứ hai của tuần thứ hai trong tháng riêng hàng năm, người Nhật Bản lại tổ chức lễ thành nhân cho nam nữ thanh niên tròn 20 tuổi.
Tại Đại học Quốc gia Đông Kinh, Tokyo, Nhật Bản, vẫn còn liên xử phong tục lễ thành nhân có từ thời hề giàn.
Vào ngày này, nam thanh niên 20 tuổi sẽ được làm quan lễ, lễ đội mũ còn gọi là lễ sa quan.
Nữ thanh niên được làm cây lễ, lễ cài châm, vật trang trí phía trên trán còn gọi là cấp lễ.
Sau lễ đội mũ, các nam thanh niên sẽ mặc một bộ phục sức thành nhân hoàn chỉnh, đại diện cho việc hoàn thành quá trình chuyển đổi quan trọng từ thiếu niên sang thân phận người trưởng thành.
Giáo sư bộ môn văn hóa của Trường Đại học Quốc gia Tokyo cho biết, lễ thành nhân là nghi thức đã được lưu truyền từ hàng ngàn năm trước,
ngay cả đến trang phục, nghi lễ tổ chức cũng giống như thời xưa.
Vào ngày hôm đó, những thanh niên trưởng thành sẽ đi bộ từ giảng đường đến tự viện, nhà thờ, nơi thờ cúng của trường.
Tại đó, phục cáo, xin báo với thần thánh và cầu được thần.
Hàng năm, ở Okohama, Nhật Bản đều tổ chức các buổi lễ thành nhân quy mô lớn.
Chẳng hạn như, lễ thành nhân tổ chức vào năm 2021 đã có hơn 30.000 người.
Các cô gái mặc kimono, các chàng trai mặc âu phục, nghi lễ trọng đại, đánh dấu giai đoạn quan trọng của đời người.
Cô Ume Sakai đã thay mặt cho những thanh niên Nhật Bản tham gia buổi lễ thành nhân nói,
hi vọng rằng đối diện với tương lai có thể có sức phán đoán chính xác,
đồng thời có thể kiên trì đi trên con đường mình đã quyết định lựa chọn.
Đây là lời tuyên bố của tôi khi đã là một người trưởng thành mới.
Ở Tokyo, Nhật Bản, có một ngôi đền cổ tên là Sannu Sanchendo,
vào tháng riêng hàng năm đều tổ chức các cuộc thi bắn cung.
Cũng có các nam nữ thanh niên sắp thành niên mặc kimono truyền thống đến bắn cung để ăn mừng ngày thành nhân.
Lễ thành nhân mang ý nghĩa một người bước vào tuổi thanh niên thành một thành viên của xã hội,
mà đối với mỗi người mà nói cũng là tiến nhập vào giai đoạn quan trọng trong cuộc.
Sau khi trưởng thành thì đã có thể nói chuyện cưới bà,
cho nên lễ thành nhân rất được xem trọng trong văn hóa phương đông bà.
Chúng ta lại xem qua một chút về lễ thành nhân ở Hàn Quốc.
Chính phủ Hàn Quốc quy định,
Ngày thứ hai của tuần thứ ba của tháng năm hàng năm là ngày thành niên nhật.
Ngày thành niên, nam nữ thanh niên 20 tuổi vào ngày này sẽ tuyên bố bản thân đã bước vào tuổi trưởng thành.
Và tại lễ thành nhân, trước tiên sẽ cử hành nghi thức hướng lên trời trình báo bắt đầu lễ thành nhân,
đồng thời cầu thiên thượng, ban phúc.
Kế tiếp đó, nam nữ thanh niên mặc trang phục truyền thống để nhập lễ.
Cũng là nam vào quan lễ, lễ đội mũ ra quan, nữ vào cây lễ, lễ cài trăng ra cấp.
Trong cây lễ của các cô gái, mái cấp của họ sẽ được trường bối, bối lên rồi cài thêm một cây trăng.
Sau đó đội một chiếc mũ nhỏ màu sắc lên đầu.
Cũng thay một bộ hàn phục có màu sắc và kiểu dáng khác, đánh dấu thời thiếu nữ từ đây kết thúc, có thể nói chuyện cưới gà.
Sau khi hoàn thành các nghi lễ kể trên, mỗi người uống một ly rượu.
Nếu tổ chức ngoài trời thì lấy trà thay rượu.
Hàn Quốc quy định trẻ vị thanh niên, người chưa trưởng thành không được uống rượu.
Sau khi trưởng thành thì mới có quyền uống rượu.
Đồng thời còn phải gánh pháp nghĩa vụ xã hội, hết sức tham gia nghĩa vụ quân sự, v.v.
Nghi thức cuối cùng, cần phải hướng đến bề trên, thực hiện đại lễ quỳ bái, quỳ lại,
đồng thời dùng tiếng Hàn, đồng thanh đọc bài Thùy Huấn của Ngài Dương Góp Lật Cóc Thiên Sinh.
Tức là Ngài Lật Cóc Thiên Sinh, xem như là chuẩn tắc hành vi của người Hàn Quốc khi bước vào tuổi trưởng thành.
Nhập tắc hiếu, xuất tắc đẻ, đọc thư dĩ tư cùng lý, hành thiện dĩ cầu phục tính,
tĩnh tắc kính trực hồ trung, động tắc nghĩa phương vu ngoại,
sách chi dĩ rũ mãnh, chỉ chi dĩ du kiểu, như tư nhí dĩ,
tức là đề tử ở nhà phải hiếu thuận, ra ngoài tôn kính người,
đọc sách để hiểu biết lý lẽ tận cùng, hành thiện để mong quay về với bản tính vốn có,
thu tĩnh bên trong thì kính trực, hành động thì hợp nghĩa với bên ngoài,
biện pháp phải rũ mãnh, duy trì, bền bỉ, lâu dài, như vậy mà thôi.
Đoạn văn này tràn đầy tư tưởng nho ra.
Lật Cốc Thiên Sinh, tên thật là Lý Nhị, là một học giả nho ra nổi tiếng ở thời tiền Triều Tiên.
Trong đó, Lật Cốc là biệt hiệu của ông, gọi hiệu mà không gọi tên để tỏ lòng tôn trọng.
Chân Dung, in trên tờ tiền 5.000 đồng Hàn Quốc, phát hành năm 2006, chính là Lý Nhị.
Văn hóa Hàn Quốc chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa truyền thống Trung Quốc.
Thành niên lễ ở thời đại Cao Ly, 918-1392 của Hàn Quốc,
bắt đầu có sự phân biệt làn thiếu nam, thiếu nữ cử hành truyền thống, quan lễ và cây lễ.
Sau đó bị gián đoạn, năm 1973 lại bắt đầu xuất hiện và kéo dài cho đến ngày nay.
Văn hóa Nhật Bản và Hàn Quốc từng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.
Vậy lễ thành nhân dành cho phái nữ trong văn hóa Trung Quốc thì như thế nào?
Cây lễ, cấp lễ trong văn hóa Trung Quốc bắt nguồn từ thời nhà Chu.
Trong sách lễ ký viết rằng, nữ tử thập hữu ngũ nhi cấp,
đức là cô gái xưa 15 tuổi thì đã trưởng thành rồi và có thể thực hiện cấp lễ.
Cấp là một loại châm cài đầu mà lễ thành nhân trưởng bối sẽ tháo bỏ kiểu tóc thời bé gái,
rồi dùng châm để cài lên búi tóc của cô gái.
Trước đây chúng ta đã từng chia sẻ với nhau,
thời xưa bé gái chưa trưởng thành sẽ được kết tóc hai bên giống chữ nha,
y cho nên mới có cách gọi thiếu nữ là nha đầu.
Trong bài ký tặng tiểu phiền của Lưu Vũ Tích,
thời đường có câu,
hoa diện nha đầu thập tam tứ, xuân lai xước ước hướng nhân thì,
tức là nha đầu mặt hoa 13-14, xuân tới yêu kiều sóc thành nhân.
Những cô gái sau kê lễ sẽ búi tóc,
từ kiều tóc có thể biết đã trưởng thành, từ đây có thể kết hôn.
Sau kê lễ, trưởng bối còn sẽ cấp cho cô một cái tên,
đại diện cho tuổi trưởng thành.
Trong Hồng Lâu Mộng, khi giả Bảo Ngọc hỏi Lâm Đại Ngọc rằng,
mụi mụi có tự là gì?
Nàng đáp vô tự,
đó là bởi vì Lâm Đại Ngọc vẫn chưa làm lễ thành nhân,
vì nàng chưa tròn 15 tuổi.
Kê lễ cho các công chúa trong Hoàng cung sẽ được tổ chức rất long trọng.
Trong Tống Sử Chí, ghi chắc rằng,
kê lễ của công chúa được tổ chức trong cung,
Hoàng đế sẽ đích thân đến tham dự.
Công chúa không những đeo chiếc châm cải đầu,
mà còn đội thêm nhiều trang sức khác,
như mũ phượng, phượng quan v.v.
Sau kê lễ, công chúa sẽ bái kiến Vua Cha,
sau đó nhận những lời chúc phúc từ Hoàng hậu và Phi Tần.
Công chúa còn phải nghe theo lời giáo huấn
Sự thân, dĩ hiếu, tiếp hạ, dĩ từ,
hòa nhu, chính thuận, cung kiệm, khiêm nghi,
bất giật, bất kiêu, vô bí, vô khi.
Đức là lấy hiếu, phụng dưỡng cha mẹ,
hiền lành, tiếp đãi kẻ dưới,
nhu hòa, chính thuận, ráng vẻ, khiêm tốn,
cần kiệm, cung kính, không quá lố, kêu căng,
không gian tà ức thiếp.
Lễ thành nhân ở Nhật Bản được tổ chức vào tháng Giêng,
Hàn Quốc tổ chức vào tháng Năm,
vậy lễ thành nhân trong văn hóa truyền thống Trung Quốc
được tổ chức khi nào?
Ngày 1 tháng Giêng của Hoàng lịch là năm mới,
ngày 2 tháng 2 là ngày Long Sĩ đầu,
ngày Dồng ngừng đầu,
còn ngày 3 tháng 3 sẽ là ngày tổ chức
lễ thành nhân cho phái nữ thời cổ đại.
Ngày 3 tháng 3 cũng được gọi là tiết thượng tị,
tiết nữ nhi, tiết đảo hoa,
ngày 3 tháng 3 là thời điểm trăm hoa đua nở,
cảnh xuân tươi đẹp,
mọi người đều ra ngoài dạo chơi tiết thanh minh,
hơn nữa ở ven sông dùng hoa lan ngâm trong nước tắm gội,
hy vọng làm vậy trừ được sơ bẩn, gạt bỏ điềm xấu.
Rất nhiều bé gái xa bờ sông sung ngoại,
chẳng hạn như trong bài thơ lệ nhân hành
của đại Thi Hào Động Phủ Đời Đường viết rằng
Tam Nguyệt Tam Nhật Thiên Khí Tân,
Trường An Thủy Biên Đa Lệ Nhân,
tức là ngày 3 tháng 3 khí trời trong,
mép nước Trường An nhiều mỹ nhân.
Sau chiều đại Nguy Tấn vào mùng 3 tháng 3,
người ta ngoài việc tắm gội ở mép nước,
trừ khử tà khí ra ngoài, du ngoạn ngắm xuân,
hàm ý gửi gắm tình cảm nơi non nước ngày càng nồng đập.
Thời Đông Tấn vào mùng 3 tháng 3,
Vương Hi Chi và những người bạn đã tụ hội với nhau
ở bờ nước Chùa Lan Đình.
Họ đem chén rượu thả vào trong sòng nước.
Chén rượu rừng vào trước mặt ai,
thì người đó sẽ làm một bài thơ.
Sinh hoạt này của giới văn nhân gọi là Khúc Thủy Liêu Thương.
Thời Nhà Đường, những tập tục vào mùng 3 tháng 3
bước lan truyền sang Nhật Bản.
Thế là từ đó, Nhật Bản cũng có lễ hội mùng 3 tháng 3.
Đến thời Edo, mùng 3 tháng 3 trở thành
một trong năm lễ hội lớn quan trọng nhất ở Nhật Bản.
Sau thời Minh Trị Duy Tân,
lễ hội mùng 3 tháng 3 Hoàng Lịch
được đổi thành ngày mùng 3 tháng 3 Công Lịch.
Vào ngày này, văn hóa Trung Quốc có tập tục
tắm gội trên mép sông để trừ khử dơ bẩn và điểm xấu.
Còn ở Nhật Bản, vào ngày 3 tháng 3,
người ta cắt giấy hình người rồi thả xuống biển.
Mọi người cho rằng người giấy có thể thay thế mình
chuyển rời bệnh tật tai họa.
Tập tục truyền thống này đã được ghi chép lại
trong cuốn tiểu thuyết Nguyên thị vật ngữ
và thời bình an của Nhật Bản.
Những đời sau này, vào ngày 3 tháng 3,
họ cử hành nghi thức lưu sổ, bút bê giấy.
Tập tục này được lưu truyền cho tới ngày nay,
ngày 3 tháng 3 ở Nhật Bản cũng gọi là
tiết nữ hài bé gái, tiết lưu sổ, tiết nhân ngẫu tựa người.
Trong văn hóa Trung Quốc,
việc tổ chức lễ thành nhân cho các cô gái
không chỉ là một loại nghi thức
mang ý nghĩa là người này đã trưởng thành.
Điều quan trọng hơn là trước khi tổ chức lễ thành nhân,
họ phải học hỏi rất nhiều chi thức và kỹ năng
mà một người phụ nữ trưởng thành cần phải có.
Trong xã hội truyền thống,
phân chia rõ ràng nhiệm vụ của từng giới.
Đàn ông làm ruộng, còn phụ nữ dệt vải.
Đàn ông chủ ngoại, còn phụ nữ chủ nội.
Nên những kiến thức mà hai giới phải học
cũng hoàn toàn khác nhau.
Vào thời Tây Chu, nam từ 8 tuổi đã bắt đầu đi học.
Phân làm hai cấp tiểu học và đại học.
Trong đó, tiểu học là học những kỹ năng nhỏ nhặt
trong cuộc sống như vẩy nước quét nhà,
đối đáp tới nuôi, vân vân.
Sau đó lên đại học thì bắt đầu học tu dưỡng đạo đức
thông qua các kiến thức về thành ý chính tín.
Tức là muốn tu dưỡng tốt phẩm đức bản thân mình.
Trước hết, phải làm cho tâm tư của mình ngay thẳng, đoan chính.
Ví dụ đến đại học,
các nho sinh sẽ học cách sống thế nào cho phải lẽ.
Trong đại học Trung Dung, biết rằng
Đại học chi đạo tại minh minh đức,
tại thân dân, tại chi ư chí thiện.
Ý tứ là đạo học làm việc lớn
là ở chỗ làm sáng tỏ cái đức sáng của mình.
Thương yêu người dân đạt tới chỗ chí thiện,
vô cùng hoàn thiện.
Ngoài ra, nam tử cũng cần phải học
lễ nhạc, xạ ngư, thư số
hay còn gọi là lục nghệ của người quân tử.
Tức là người nam tử phải nắm vững 6 môn học
bao gồm lễ nghĩa, âm nhạc, bán cung,
cưới ngựa, thư pháp và toán học.
Nếu ở độ tuổi thiếu điên
đã nắm vững các kiến thức và kỹ năng này,
đợi đến 20 tuổi họ sẽ tổ chức lễ thành nhân,
chứng minh bản thân đã thực sự trưởng thành.
Còn nữ tử thời xưa cần học tập về nội trị
bao gồm 3 tầng tứ đức,
cách tề gia, nội trợ.
Nói về đức tính của người phụ nữ,
một cuốn sách nổi tiếng Trung Quốc
khiến độc giả phải thay đổi cách nhìn
về trí tuệ trong việc tề gia,
nội trợ của người phụ nữ.
Trong cuốn Hồng Lâu Mộng,
Phượng Thư đã thông minh,
khéo léo cai quản được nội vụ
của cả phủ trên dưới mấy trăm người.
Tài năng chủ nội của nàng
được phản ánh một cách sinh động
trong việc giúp ninh quốc phủ
lo liệu tăng lễ của tầng Khả Khanh.
Trước tiên, nàng đã lập danh sách người nhà,
xác định chức vị của từng người,
phân phó từng nhiệm vụ cụ thể,
phân cấp rõ ràng.
Hết thầy đều phải theo lệnh Phượng Thư,
nếu làm sai một chút,
đều nhất luật chừng trị.
20 người này chia làm hai ban,
mỗi ban 10 người,
chuyên việc pha nước tiếp các tân khách.
20 người này chia làm hai ban,
chuyên việc cơm nước phục dịch cọ hàng
và những người trong nhà.
40 người này chia làm hai ban,
chuyên việc thắp hương,
rót dầu, kéo màng, cúng cơm, cúng nước.
Có khách đến viếng,
thì cử ai chất linh sàng.
4 người này chuyên ở phòng trà,
coi sự ấm, chén,
mất mát cái nào,
phải chia nhau đền.
Một hôm, Phượng Thư mang sổ ra gọi tên,
mọi người đều có mặt cả,
chỉ trừ một người chưa thấy đến.
Phượng Thư sai đi gọi ngay,
rồi cười nhạt nói,
ngỡ là ai, hóa ra chính là mụ.
Mụ trong mình có thể duyện hơn người,
nên không nghe lời ta.
Người kia, vội vàng dài thích,
đã dậy từ lâu,
thấy trời còn sớm,
lại ngủ mất,
thành ra đi chậm một bước,
xin nàng tha cho lần đầu.
Nhưng nàng rất cứng rắn quát,
mang mụ này ra đánh 20 roi,
ngày mai còn chậm,
sẽ đánh 40 roi,
ngày kia đánh 60 roi,
đứa nào muốn đòn thì cứ chậm.
Phượng Thư phân phó công việc
rất rõ ràng, mạch lạc,
nhưng tính tình lại hà khắc,
nên gia nhân trong nhà
đều răm rắp nghe theo,
chăm chỉ làm việc,
không dám lơ là.
Tuy nhiên, thái độ cứng rắn của nàng
lại khiến một số người
trong tâm không phục,
ôm bụng tức, làm việc.
So với Phượng Thư,
các tiểu thư chưa xuất các
ở đại quan viên xử lý sự vụ
càng khiến người ta
tâm phục khẩu phục.
Có một đợt, Phượng Thư đổ bệnh nặng,
nên giao lại công việc
quản lý nội phù
cho tiết bảo thoa và giả thám xuân.
Hai vị tiểu thư này
mới đầu bị các quản sự
phu nhân chế diễu,
bắt nạt, gây khó dễ.
Nhưng sau sự kiện này,
mọi người đều thấy họ
đúng là giỏi quản việc
gia đình, tài sản,
chẳng kém cạnh Phượng Thư,
thậm chí còn xuất sắc hơn.
Ví dụ, trong vấn đề
quản lý đại quan viên
sao cho phải lẽ,
trước đây, quản lý đại quan viên
vẫn luôn tốn rất nhiều tiền của.
Hai nàng nghĩ ra một cách,
giao khu vườn
cho các quản gia ma ma quản lý
từng khu. Bằng cách này,
nội phù không phải tốn nhiều
chi phí thuê người chăm non.
Các ma ma nhận khoán
có thể tự do trồng
hoa quả, cây cối.
Lại thêm, có khoản thu nhập
đáng kể. Bảo Thoa
còn đề xuất rằng, phần lợi nhuận
từ việc nhận khoán
sẽ chia đều cho các phu nhân.
Thế nên, những người không được
nhận khoán cũng rất hài lòng,
không gây thêm chuyện.
Như vậy, chúng hạ nhân
đều rất vui vẻ làm việc,
nguyện ý trong coi nội phù.
Hai vị cô nương
không mất một xu mà vẫn lo
liệu ổn thỏa công việc
quản lý đạn quân viên.
Còn khiến kẻ hầu người hạ
rất biết ơn. Đây quả
là một công ba việc.
Những vị tiểu thư chưa từng
rời nội các, nhưng lại
rất có kiến thức và tài năng.
Họ không sắc xảo, nghiêm khắc
như phượng thư, cũng không
dung túng kẻ hầu như viêu thị.
Cuối cùng vẫn khiến
gia nhân tâm phục, khẩu phục, biết
ơn khôn nguê. Từ đó
có thể thấy tài năng và
học thức sâu rộng của các nàng.
Những tài năng của
các tiểu thư khuây các này từ đâu
mà có được. Ngoài
việc sinh ra trong gia đình cao
quý, học tập từ trường bối,
thì nguyên nhân sâu xa
bồi dưỡng ra những người phụ nữ
giỏi giang, tháo pháp
thời xưa đã được ghi chép
trong lễ ký như sau
Nữ tử thập nghiên
bất xuất, mẫu giáo
huyển vãn, thính tòng. Nghĩa là
nữ tử từ sau 10 tuổi
không được tùy tuyện
ra khỏi cửa, cần phải
có phó mẫu đến nhà dạy bào
sao cho cử chỉ,
dịu dàng, lễ độ. Còn
phải học cách rệt vài,
mây áo, xe sợi, và
rất nhiều quy tắc về
hiến tế, điển lễ.