Tại sao có người lại MAY MẮN SUNG TÚC có người LẠI LẬN ĐẬN cả đời VẬN CỨT CHÓ là có thật

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Comments are disabled for this video.
Duyên phận thật sự là do trời định sẵn sào.
Kỳ thực, ông trời đã sớm an bài mọi thứ rồi.
Ai sẽ cùng bạn nắm tay đi đến hết cuộc đời?
Tất cả đều đã được định trước.
Không tin ư? Vậy thì hãy nghe câu chuyện sau đây.
Nghe xong, có lẽ bạn sẽ bừng tỉnh ngộ.
Chuyện xảy ra vào thời Minh Triều, niên hiệu chính Đức.
Tại huyện Diên Khánh, một nơi hẻo lánh ở phía Bắc Kinh Thành,
có một người quá phụ họ Vương, sống cùng con trai duy nhất, tên là Vương Mẫn.
Gia cảnh tuy nghèo khó, nhưng mẹ con hòa thuận, nương tựa lẫn nhau.
Vương Mẫn tuổi đã ngoài 20, từ nhỏ đã nổi tiếng, thông minh hiếu học.
Mới 16, đã đỗ tú tải.
19 tuổi lại thi đỗ cử nhân.
Được người trong vùng xem là niềm hy vọng đổi đời.
Nhưng dù văn hay chữ tốt đến đâu, không có tiền thì vẫn là vô vọng.
Năm đó lại đến kỳ thi hội, 3 năm mới tổ chức một lần,
là con đường duy nhất để bước vào quan trường.
Vương Mẫn biết rõ đây là cơ hội nghìn vàng không thể bỏ lỡ.
Ngày đêm đèn sách, ăn không ngon, ngủ không yên.
Thế nhưng gia kinh ứng thí, đâu phải chỉ cần bút mực.
Tiền lộ phí, tiền ăn ở, tiền lo toan mọi sự,
tất cả như núi lớn đèn nặng lên vai mẹ con họ Vương.
Trong tay họ, đến cả nửa đồng cũng không còn.
Biết con trai ôm hoài bão mà lực bất tòng tâm,
bà mẹ không nói lời nào, lặng lẽ gạt nước mắt,
quyết định đem bán căn nhà duy nhất mà hai mẹ con đang ở.
Dẫu đó là nơi che nắng, trú mưa suốt mười mấy năm qua,
dẫu có bao kỷ niệm đong đầy,
bà vẫn cắn răng bán đi không do dự.
Số tiền chẳng được bao nhiêu,
nhưng là tất cả những gì bà có thể dành cho con.
Cầm nắm bạc trên tay,
bà trao cho con trai mà không kìm được nước mắt.
Bà không khóc vì mất nhà,
mà khóc vì không thể cho con một tương lai xứng đáng hơn.
Sau đó, bà khăn gói đến làm thuê cho nhà lý viên ngoại.
Một nơi nổi tiếng nghiêm khắc,
chỉ để đổi lấy ba bữa cơm qua ngày,
và cũng để con yên tâm mà đi.
Vương Mẫn biết tất cả,
lòng đau như cắt.
Người ta nói,
công cha như núi Thái Sơn,
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy da.
Hôm nay anh mới thật sự thấm thiế.
Anh quỷ lại mẹ ba cái,
khóc nghẹn không thành tiếng.
Nhưng rồi cũng phải lau nước mắt mà lên đường,
bởi trí lớn không thể lui,
lòng hiếu không thể phụ.
Trước khi chia tay,
người mẹ lấy phần bột mì còn sót lại trong bếp,
tự tay, nhào nặn,
hông lửa nướng lên ba chiếc bánh khô.
Không phải vì ngon,
mà vì có thể giữ được lâu.
Bà đưa cho con và dặn,
đường đi xa,
chẳng biết gặp phải gió mưa thế nào.
Hãy giữ lấy mà dùng khi đói.
Bánh không thơm,
nhưng trong đó là cả tấm lòng của người mẹ.
Mỗi một miếng,
đều là máu thịt của bà.
Vương Mẫn nâng ba chiếc bánh lên như báu vật.
Không phải vì đói,
mà vì biết,
sau lưng mình là người mẹ đang dốc cạn sinh mệnh,
để dựng cho con một tương lai.
Không quay đầu lại nữa,
vì nếu quay lại,
anh sợ mình sẽ không thể đi tiếp.
Thế rồi anh bước đi.
Một mình,
nhưng trên vai là cả trời yêu thương.
Vương Mẫn lầm lũi theo con đường nhỏ,
ánh hoàng hôn dần khuất sau rạng núi xa.
Bụng đói,
chân mỏi,
người mệt dã rời.
Anh ghé qua vài quán trọ bên đường,
nhưng mỗi nơi đều hết giá quá cao.
Tiền mẹ đưa chỉ đủ ăn uống dọc đường
và đóng lệ phí dự thi.
Trọ lại vài đêm là coi như hết sạch.
Anh đành lắc đầu từ chối,
lặng lẽ rời đi.
Một ông chủ quán trọ tuổi trung niên
thấy bộ rạng anh lăm lũ,
gầy gò,
ánh mắt chân chất
mà vẫn toát lên vẻ trí thức,
thi mùi lòng.
Ông kéo anh lại,
thấp rộng chỉ tay.
Cậu nhìn con đường đất nhỏ cạnh góc cây kia kìa,
đi theo chừng ba dặm sẽ tới một ngôi miếu cũ.
Dẫu hoang phế,
nhưng bên trong còn sạch sẽ.
Nếu không chê thì vào đó ngủ tạm một đêm cũng được.
Vườn mẫn nghe thế
như vớ được vàng.
Anh cuối đầu cảm ơn dối dít,
rồi lập tức men theo đường mòn mà đi.
Quả nhiên,
trời vừa sập tối
thì anh thấy ngôi miếu hiện ra trong bóng nhá nhem.
Cổng gỗ nghiêng lệch,
mái ngói rụng lừa thừa,
rêu phủ đầy bậc tam cấp.
Nhưng bên trong miếu
vẫn có mái che và vách tường vững chắc.
Anh gom ít cỏ khô
và lá rụng xung quanh,
lót xuống góc miếu,
rồi nằm xuống.
Mệt quá,
chưa kịp nghĩ ngợi gì,
anh đã thiếp đi trong cơn đói.
Nửa đêm,
gió lạnh lùa qua khe tường
làm anh rùng mình tỉnh giấc.
Anh mở mắt,
sững sờ nhận ra trong miếu
đã có thêm một người.
Một ông láo ăn mày tóc tai dối bù,
ngồi co ro cạnh một đống lửa nhỏ
đang cháy lập lệ.
Lửa ấm,
nhưng người láo vẫn run run vì lạnh.
Thấy vườn mẫn thức dậy,
ông láo chậm dãi quay sang,
giọng khản đặc vì khát và mệt.
Chàng trai trẻ,
cậu có gì ăn không?
Ta đã ba ngày chưa có gì vào bụng rồi.
Nếu có thể,
xin chia cho ta một miếng thôi cũng được.
Vườn mẫn ngồi dậy,
nhìn người đối diện.
Một thân hình gầy guộc,
áo rách tả tơi,
ánh mắt hằn rõ vẻ đói khát cùng tận.
Dù bản thân cũng chẳng dư giả gì,
nhưng lòng anh không đành.
Anh mở tay nải,
lấy ra một chiếc bánh,
mẹ anh đã làm từ phần bột cuối cùng trong nhà
và đưa cho láo.
Cụ ăn đi,
cháo chỉ còn mấy cái,
nhưng nhìn cụ thế này,
thì không đành lòng.
Ông láo đón lấy,
không nói thêm lời nào,
chỉ ba miếng là hết sạch chiếc bánh.
Vẻ mặt dường như vẫn chưa đủ.
Láo ngầng lên nhìn anh,
ánh mắt như muốn nói còn muốn ăn nữa.
Vương mẫn khượng lại.
Mẹ chỉ làm được ba cái bánh,
một cái anh đã ăn trước khi ngủ,
cái vừa rồi đã đưa đi,
chỉ còn lại một cái cuối cùng,
để dành cho chặng đường dài ngày mai,
chưa biết sẽ ra sao.
Nhưng rồi anh lại cúi đầu mở tay nải,
lấy chiếc cuối cùng đưa ra,
đặt vào tay ông láo.
Cháu chỉ còn cái này nữa thôi,
cụ ăn nốt đi.
Dọc đường rồi, cháu tính sao vậy?
Ông láo nhìn anh,
trong mắt thoáng hiện một tia xúc động.
Láo chậm dãi cầm lấy chiếc bánh,
không vội ăn ngay mà nói.
Chàng trai trẻ,
chiếc bánh này của cậu,
ta không ăn uổng phí đâu.
Nhờ chiếc bánh này,
ta sẽ bảo vệ vợ cậu.
Sau này, dù có tai họa gì,
ta cũng sẽ không để người ta làm tổn thương nảng.
Vương mẫn ngần ra vài giây,
rồi bật cười ha ha.
Cụ ơi, cháu còn chưa có vợ nữa là.
Cụ bảo vệ vợ cháu chi cho sớm,
chẳng bằng bảo vệ chính cháu.
Cháu còn phải đi thi,
cụ mà linh thiêng thật thì phù hộ cho cháu thi đỗ cái đá.
Ông láo nhòe miệng cười,
mắt nheo lại như biết rõ mọi chuyện sắp tới.
Thi cử của cháu không cần ta giúp,
cháu nhất định sẽ đỗ,
đó là số.
Nhưng vợ cháu,
thì lại không may mắn như vậy.
Sắp tới nàng sẽ gặp nạn,
có kẻ định bắt nạt nàng.
Ta đã ăn bánh của cháu,
Vương Mẫn ngẩn ra,
một kẻ hành khất trong đêm đông giá Z
đói đến mức xin bánh,
lại mở miệng nói chuyện tương lai.
Mà lại là chuyện vợ con,
điều anh còn chưa từng nghĩ tới.
Trong bụng,
anh bật cười,
có lẽ láo ăn no rồi mê sảng.
Anh cũng chẳng buồn đáp lời,
chỉ im lặng kéo đống cỏ khô lại gần đống lửa hơn,
rồi quay lưng,
khép mắt ngủ tiếp.
Trời còn chưa sáng,
đường vẫn dài,
nghĩ nhiều cũng chẳng ít gì.
Sáng hôm sau,
mặt trời chưa ló dạng,
anh đã rời khỏi miếu,
tiếp tục cuộc hành trình ra kinh ứng thí.
Đường xa,
bụng đói,
người mệt,
nhưng lòng vẫn còn lấp lánh chút hy vọng mong manh.
Nhưng số phận đâu dễ cho người an ổn.
Đến một nơi gọi là Bạch Hổ Giản,
một thung lũng hẹp hai bên vách đá dựng đứng,
Vương Mẫn bỗng nghe tiếng gió lạ sau lưng.
Chưa kịp quay lại,
đã thấy hai ba tên lực lưỡng ập tới,
gậy gột trong tay,
mặt đầy sát khí.
Không kịp chống đỡ,
anh bị đánh ngã lăn xuống vệ cỏ.
Tiền bạc,
hành lý,
cả chiếc tay nải cũ,
chúng không tha thứ gì.
Áo ngoài bị lột,
giày dép cũng bị xe mất.
Chỉ trong khoảnh khắc,
một kẻ sĩ mang trí lớn lên kinh
đã hóa thành một kẻ lang thang rách dưới.
Ngồi bệt bên đường,
Vương Mẫn mặt không còn giọt máu,
tài sản mất sạch,
áo quần không còn,
thi cử gì nữa.
Lộ phí đâu?
Ăn gì mà đi tiếp?
Rồi trở về gặp mẹ thì biết nói sao?
Mẹ bán cả nhà cho anh đi thi,
nỗi tuyệt vọng dâng lên cuồn cuồn.
Trong đầu anh chỉ còn một suy nghĩ duy nhất,
chết đi cho rồi.
Không còn gì để giữ,
không còn ai để đối mặt.
Gần đó,
có một cây cổ thụ gốc lệch nghiêng ra vệ đường.
Cảnh ngang thấp,
gió lai động.
Vương Mẫn chậm dãi đứng dậy,
cởi chiếc dây vải còn xót lại trong đai quần,
vắt lên cảnh cây rồi thắt nút.
Anh chưa kịp bước lên gốc rễ
thì từ phía sau vang lên tiếng gọi vội vã.
Khoan đã!
Công tử!
Anh làm gì vậy?
Tiếng chân rồn dập chạy tới,
rồi một cô gái khoảng đôi mươi,
áo vải lam,
lưng đeo giỏ thuốc,
thở rốc vì chạy nhanh.
Tay cô kéo anh lại,
mắt đầy lo lắng.
Trời ơi!
Anh còn trẻ thế này,
sao lại làm điều dại ruột?
Có chuyện gì khó khăn đến mức phải tìm đến cái chết vậy?
Vương Mẫn gục xuống,
như vỡ ỏa,
kể lại hết mọi chuyện từ đầu đến cuối.
Từ cảnh nhà nghèo,
mẹ bán nhà,
đưa tiền đi thi,
đến chuyện gặp cướp,
mất sạch,
rồi tuyệt vọng muốn tìm cái chết.
Nghe xong,
cô gái không khóc cũng không trách.
Chỉ bật cười,
giọng nhẹ mà vững.
Người ta hay nói,
trời sinh muôn loại,
không để ai tuyệt đường sống.
Mới gặp chút hoạn nạn,
đã đòi buông xuôi,
vậy còn đâu là trí sĩ?
Anh đọc sách,
lẽ ra càng phải vững hơn bọn tôi.
Những người không biết chữ,
gặp nạn thì nghĩ cách mà vượt,
chứ không phải tìm đến cái chết để trốn.
Vương Mẫn cúi đầu,
giọng như tắc nghẹn.
Tôi thân không còn một đồng su,
áo quần cũng chẳng ra gì.
Giờ biết sống sao đây?
Cô gái nhìn anh,
ánh mắt không có lấy một tia thương hại,
chỉ nhẹ nhàng nói.
Tôi mới hái được một ít thuốc trên núi.
Nếu không chê,
anh cùng tôi xuống thị trấn bán thuốc nhé.
Bán được bao nhiêu,
tôi đưa hết cho anh dùng làm lộ phí.
Vương Mẫn trần trừ,
nhìn gánh thuốc trong tay cô,
nhưng chỉ một gánh thuốc nhỏ như vậy,
làm sao đủ?
Cô bật cười,
giọng trong trẻo như gió sớm.
Không đủ hôm nay,
thì mai hái tiếp.
Mai chưa đủ,
thì mốt lại đi.
Mỗi ngày một chút,
rồi sẽ đủ thôi.
Vương Mẫn nghe vậy,
trong lòng như được thắp sáng một đốm lửa.
Anh đỏ mặt,
khẽ gật đầu.
Cô gái lại nói,
tôi không cần gì cả,
chỉ cần giữ lại đôi giày
để tiện lên núi.
Anh giúp tôi một tay,
nếu sau này thi đỗ,
nhớ quay lại báo đáp là được rồi.
Hai người cùng xuống núi.
Cô đưa Vương Mẫn đến hiệu thuốc,
bán hết gánh thuốc được 300 văn tiền.
Sau đó dẫn anh sang tiệm may,
chọn cho anh một bộ trường sam mới
và một đôi giày vải tươm tất.
Trời nhá nhem tối,
cô gái quay sang nói,
đêm đã khuya,
hay là anh về nhà tôi
nghỉ tạm một đêm cho lại sức.
Vương Mẫn không tiện từ chối.
Về đến nhà cô gái,
anh được mời một bữa cơm nóng,
lần đầu tiên sau nhiều ngày
chỉ sống bằng bánh khô.
Tối đó,
anh ngủ lại trong căn nhà nhỏ
đơn sơ nơi thôn giã,
lòng yên tĩnh như mặt nước sau rồng.
Sáng hôm sau,
cô gái dậy từ lúc gà gái
gọi Vương Mẫn cùng lên núi hái thuốc.
Ngày thứ nhất,
họ hái được một giỏ đầy.
Ngày thứ hai,
lại nhiều hơn.
Ngày thứ ba,
trời đổ mưa rừng,
họ vẫn cùng nhau đội lá mà đi.
Trong ba ngày đó,
Vương Mẫn không chỉ được nuôi dưỡng thể xác,
mà tâm hồn cũng được sửa ấm.
Cô gái ấy khỏe khoắn,
tháo vát,
không than vãn lấy một câu.
Anh nhìn cô,
trong lòng dâng lên một cảm giác
mà chính anh cũng không gọi tên được.
Sáng ngày thứ tư,
Vương Mẫn đứng lặng dưới gốc cây,
nhìn về con đường dẫn ra Kinh Thành.
Anh trần trừ thật lâu rồi
mới quay lại nói với cô gái.
Xuân Lan, nàng hãy đợi ta.
Nếu ta đổ tiến sĩ,
nhất định sẽ quay về cưới nàng làm vợ.
Cô bật cười,
tay vẫn không ngừng xếp thuốc.
Thi đổ rồi sẽ làm quan.
Quan rồi sẽ bận trăm công nghìn việc,
nào còn nhớ đến một kẻ hái thuốc như tôi.
Vương Mẫn lắc đầu,
nhìn thẳng vào mắt cô.
Dù đổ hay không,
lời ta đã hứa,
nhất định sẽ giữ.
Xuân Lan không nói nữa,
chỉ lặng lẽ lấy từ trong tay áo
ra một túi tiền gồm số bạc bán thuốc mấy ngày qua,
rồi tháo chiếc nhẫn vàng cũ,
đeo nơi ngón tay út.
Vật duy nhất mẹ để lại cho cô,
trao cho anh.
Không khóc, không cười.
Vương Mẫn xếp chặt tay,
cúi đầu thật sâu,
rồi quay lưng đi,
bóng dáng hòa vào con đường dẫn đến Kinh Kỳ.
Thời gian trôi qua như nước chảy qua khe đá.
Đã hơn nửa năm kể từ ngày Vương Mẫn rời khỏi.
Một ngày nọ,
Xuân Lan một mình vào sâu trong rừng hái thuốc,
thì bất ngờ phát hiện một ông lão
nằm dưới gốc cây,
mặt tái xanh,
miệng theo thảo.
Cứu!
Cứu với!
Bị rắn độc cắn.
Không chút trần trừ,
cô quỳ xuống kiểm tra vết thương,
rồi nhanh tay lấy thuốc trong giỏ,
bôi vào chỗ xương tím,
sau đó dùng vải sạch băng lại.
Đợi ông lão hồi tỉnh,
cô dìu ông xuống núi,
từng bước một.
Trước khi dẽ lối,
ông lão lấy từ trong lưng ra một đoạn dây cỏ nhỏ,
mong cô nhận lấy.
Tuy trong tầm thường,
nhưng lúc nguy cấp,
sẽ có công dụng kỳ lạ.
Xuân Lan nhìn sợi dây,
lặng lẽ gật đầu,
không từ chối.
Cô giấu kỹ dây trong áo,
như giữ lấy một lời nhắc của trời cao.
Ngày hôm sau,
khi cô vừa về đến nhà,
sân đã đông nghiệt người.
Chú tím đều có mặt,
nhưng ánh mắt né tránh.
Chưa kịp hỏi gì,
tím cô đã bước tới kéo tay,
cười nhạt.
Đây chính là đứa cháu gái tôi.
Các người cứ mang nó đi.
Xuân Lan bàng hoảng.
Một người đàn ông mặt mày,
sắc lạnh tiến lại,
định kéo cô đi.
Cô dãy rùa, gạo lên.
Chuyện gì vậy?
Các người làm gì thế?
Chú cô cúi đầu im lặng.
Tím cô lạnh lùng nói.
Em trai cô đánh bạc thua sạch,
nợ không trả nổi.
Còn gì trong nhà nữa đâu.
Bán cô đi,
ít ra còn vớt vát được chút đỉnh.
Người ta là tôn lão gia ở trấn trên,
nhà giàu quyền thế,
muốn cưới cô làm thiếp.
Có gì mà cô phải phản kháng?
Chúng tôi nuôi cô bao nhiêu năm,
giờ cô phải báo đáp.
Người ta không lấy làm vợ chính,
đã là phúc phần rồi.
Bất chấp lời văn xin,
mặc nước mắt rơi như suối,
bọn người kia vẫn thô bạo
trói tay Xuân Lan,
lôi cô đi giữa tiếng cười nhạo của đám đông.
Ngay lúc ấy,
chiếc dây cỏ dưới áo cô bỗng
nóng gian như có lửa.
Họ kéo Xuân Lan về phủ tôn lão gia
như lôi một món hàng.
Tôn lão gia năm nay đã gần lục tuần,
mặt nhanh nhau như chiếc túi da phơi nắng,
hai mắt hiếp lại lấp ló vẻ thèm khát.
Vừa thấy Xuân Lan,
hắn cười nhe răng,
rượu thịt vương nơi mép,
ráng vẻ chẳng khác gì,
lão giã thú.
Xuân Lan quỳ xuống,
dập đầu đến tói máu,
văn xin không chịu làm thiếp.
Nhưng tôn lão gia đâu phải kẻ có lòng thương.
Hắn nổi trận lôi đỉnh,
sai người lôi cô ra đánh,
rồi giam vào phòng củi tối ôm,
ẩm mốc.
Mấy ngày liền không cho ăn uống,
chỉ chờ cô đói đến lạ người
thì mới ra lệnh.
Lôi nó ra, khoác áo cưới vào,
đêm nay phải thành người của ta.
Người hầu không dám chậm trễ,
ép Xuân Lan thay lễ phục đỏ,
tô son chát phấn như dân vật tế thần.
Tối đó, rượu vào đầy bụng,
tôn lão gia khệnh khạng
bước vào phòng tân hồn.
Vừa đặt tay lên thắt lưng cô gái,
một tia sáng vàng lói lên.
Cả thân hình lão bị hất bay,
đập mạnh vào tường như túi rẻ rách.
Lão chưa kịp hiểu chuyện gì,
lại lão đào bò dậy,
lao đến lần nữa.
Lại bị bắn ngược ra,
đầu đập vào cột nhà,
miệng bật máu.
Tôn lão gia kinh hãi,
mặt trắng như tờ giấy hét lên thất thanh.
Yêu nữ, ngươi là yêu nữ,
không cưới nữa,
trả xính lễ cho ta.
Nếu không, đừng trách bản da trở mặt.
Nhà Xuân Lan bị mắng nhục đến ê trẻ,
thím nàng giận dữ,
như chút hết xỉ nhục lên đầu cô,
nghiến răng nghiến lợi.
Đồ sao trội,
làm xấu mặt cả nhà,
biến đi,
từ giờ không được bước chân vào cửa nữa.
Bị đuổi khỏi nhà,
Xuân Lan không còn trốn nương thân,
đành lê bước lên ngôi miễu hoang trên núi.
Mái rột,
vách mục,
gió lùa thấu xương.
Hằng ngày,
cô hái thuốc,
nhặt dao dại,
đổi lấy chút tiền nuôi thân qua ngày.
Mùa đông đến,
gió rét,
như dao cắt.
Xuân Lan co ro trong chiếc áo mỏng dách vai,
chịu không nổi,
lần mò về cổng nhà khẩn cầu.
Xin thím cho cháu lấy lại chiếc chăn cũ,
chỉ một chiếc thôi,
cháu không vào nhà,
không đụng gì hết.
Nhưng thím nàng đứng trong sân,
như thấy quỷ.
Yêu nữ,
đừng hòng bén mảng đến cái cổng này nữa.
Cút.
Đúng lúc ấy,
từ đầu làng vang lên tiếng trống kèn rộn giá,
tiếng vó ngựa rồn dập như sấm.
Hai nhà sai ăn mặc chỉnh tề,
theo sau là một bà mối già,
dạo bước vào sân,
giọng sang sảng.
Phụ mệnh tân tri huyện Tam Hà,
vương đại nhân.
Ngài đặc biệt ghé lại đây một ngày
để cầu hôn Xuân Lan cô nương.
Cả làng não động,
người thì há hốc,
người thì bán tín, bán nghi.
Một cô gái nghèo sống trong miếu hoang,
làm sao lọt mắt quan lớn?
Chưa để ai kịp phản ứng,
một nhà sai bước tới,
kỉnh cẩn dâng lên một chiếc nhẫn vàng.
Xuân Lan vừa nhìn thấy,
cả người như hóa đá.
Đó là chiếc nhẫn của mẹ nàng,
nàng đã tặng cho vương mẫn khi chia tay.
Cô run rộng.
Lạ là thật,
anh ấy thật sự quay lại cưới mình rồi.
Nước mắt trào ra,
cô theo đoàn người lên đường,
lòng như mộng.
Thì ra,
sau khi vào kinh ứng thí,
vương mẫn đã đỗ tiến sĩ,
được bổ nhiệm làm huyện lệnh mới của huyện Tam Hà.
Trên đường đi nhậm chức,
điều đầu tiên anh làm không phải là dân biểu mừng,
không phải mở tiệc khao quan,
mà là quay lại tìm mẹ,
tìm Xuân Lan.
Cô gái năm xưa từng cho anh cơm ăn áo mặc,
từng cùng anh trèo đèo lội suối hải thuốc,
từng tháo nhẫn mẹ để lại mà tặng anh.
Làm sao anh quên được?
Họ gặp nhau giữa bao ánh mắt kinh ngạc.
Không cần lời thề hoa lệ,
không cần xính lễ vàng bạc,
chỉ một ánh mắt thôi cũng đủ nói thay tất cả.
Đêm tân hôn,
khi chỉ còn hai người trong phòng,
họ kể lại những chuyện mình đã trải qua.
Khi Xuân Lan kể đến lão ăn mày bị rắn cắn,
vương mẫn bỗng khựng lại.
Lão ăn mày?
Rắn cắn?
Ta cũng từng cứu một lão như thế,
ngay trước cổng Thái học viện.
Hai người nhìn nhau sừng sốt,
thì ra đó cùng là một người.
Không phải lão ăn mày,
mà là thần nhân thừ lòng.
Cứu người,
hóa ra là cứu chính mình.
Bỏ ơn,
là bỏ mất cơ duyên.
Cuối cùng,
mọi khổ nạn đã qua.
Họ dắt tay nhau,
cùng người mẹ già,
ngồi trên xe ngựa phủ quan,
thông thả về huyện đường.
Xuân Lan không còn là cô gái bị rẻ rúng nữa,
mà là thê tử của một vị quang thanh liêm,
người phụ nữ từng bị vùi trong bùn,
giờ lại tỏa hương ngắt nhất.
Quả nhiên,
tất cả đều là thiên ý.
Câu chuyện kết thúc tại đây,
nhưng đạo lý mà nó để lại,
thì sâu sắc vô cùng.
Vạn pháp do duyên sinh,
vạn sự do tâm tạo.
Duyên phận trên đời,
tưởng là ngẫu nhiên,
nhưng thực chất đều do nhân duyên đời trước,
và tâm hạnh đời này dẫn dắt.
Vương mẫn giữ chữ tín,
không phụ lòng người giúp đỡ lúc cơ hàn,
chính là chi ân báo ẩn,
đạo lý làm người tối thượng.
Xuân Lan giữa trốn bấp binh,
vẫn một lòng giúp người không cầu báo đáp.
Ấy là,
vô ngã từ bi,
là gốc rễ của Phúc Đức.
Cả hai đều lựa chọn cái thiện giữa nghịch cảnh,
vì vậy mà trời cao cảm động,
nhân duyên khép tròn,
phúc báo viên mãn.
Kết cục không phải ngẫu nhiên,
mà là kết quả từ từng suy nghĩ,
từng hành động nhỏ đã dèo.
Tâm thế nào?
Cảnh đời thế ấy?
Người có lòng thiện,
dù lạc vào bóng tối,
vẫn sẽ có ánh sáng dẫn đường.
Người giữ được tín nghĩa,
dù nghèo hèn hôm nay,
cũng sẽ có ngày vinh hiển.
Phật dạy,
muốn biết nhân đời trước,
hãy xem quả đời này.
Muốn biết quả đời sau,
hãy xem nhân đời này.
Câu chuyện này không chỉ là một chuyện tình,
mà là một minh chứng
sống động cho đạo lý nhân quả.
Không có phúc phần nào từ trên trời rơi xuống,
tất cả đều là phần thường
dành cho người gieo đúng hạt giống.
Mong bạn sống với thiện tâm,
nói lời chân thật,
hành sự tử bi.
Phúc báo rồi sẽ đến,
đúng lúc,
đúng người,
như Xuân Lan,
như Vương Mẫn.
Nam Mô A Di Đà Phận.
