Hiểu Rõ Về Ấn Độ Trong 30 Phút : Vì Sao Đất Nước Này Thờ Nhiều Vị Thần Đến Thế? | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
538 người theo dõi
Chào mừng khán tinh giả đã đến với kênh Thế Giới Cô Đại.
Tôi là MC Khương Duy, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Nói đến Ấn Độ, nhiều người thường mang theo những định kiến tiêu cực,
bởi quốc gia này luôn mang 2 gương mặt trái ngược kỳ lạ.
Một mặt là đất nước đồng dân thứ 2 thế giới, phát triển nhanh,
có những nhân tài Ấn Độ giữ vị trí cao cho các tập đoàn toàn cầu.
Nhưng mặt khác lại là nơi của chế độ đẳng cấp hà khắc,
những cuộc xung đột tổn giáo triển miên, và cả những vụ cưỡng hiếp gửi chấn động thế giới.
Chính sự đối lập tột cùng ấy đã phủ lên Ấn Độ một làng sương mù say đặc,
khiến những người khó lòng hiểu được đâu mới là bộ mặt thật của đất nước này.
Muốn lý giải tại sao Ấn Độ ngày nay lại có hình hài như vậy,
ta phải lặn ngược về quá khứ, tìm hiểu xem quốc gia cổ xưa ấy đã trải qua những gì.
Trong hành trình nghỉ năm ấy, điều gì đã khiến Phật giáo,
một thời từng rực rỡ, dần dần lùi tàn.
Vì sao lại có nhiều câu chuyện kỳ bí đến mức tưởng như hoàng đường xảy ra tại đây?
Trong video ngày hôm nay, chúng ta sẽ bước vào một hành trình khám phá không chỉ là lịch sử,
mà là những bí ẩn vượt khỏi cả lẽ thường.
Hãy chuẩn bị, vì những gì bạn sắp nghe,
có thể làm bạn nhìn Ấn Độ bằng một đôi mắt hoàn toàn khác.
Đầu tiên, cần phải phân biệt rõ,
Ấn Độ cổ đại không chỉ là Ấn Độ ngày nay,
mà bao gồm toàn bộ khu vực Nam Á,
gồm cả Pakistan, Nepal và Bangladesh.
Là một trong bốn nền văn minh cổ đại lớn của nhân loại,
lịch sử Ấn Độ cổ đại có thể truy ngược đến 5.000 năm trước,
thời kỳ văn hóa Harappa.
Nền văn hóa này phát triển bên lưu vực Sông Ấn,
ngay nay thuộc vùng rắp xanh giữa Pakistan và Ấn Độ,
và được kiến tạo bởi một nhóm cư dân bản địa cổ xưa,
gọi là người Dravidian.
Họ đã xây dựng nhiều quốc gia theo kiểu thành bang,
nổi bất nhất là Harappa và Mohenjo-daro.
Thật đáng kích ngạc khi biết rằng,
cách đây 4.000 đến 5.000 năm,
Mohenjo-daro đã có hệ thống thoát nước ngầm bằng gạch nung,
vượt xa cả ba nền văn minh còn lại,
Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc,
vốn vẫn còn ở giai đoạn sơ khai trong kỹ thuật gốm.
Không chỉ vậy, người Dravidian còn biết nhộm vải
và mặc trang phục nhiều màu sắc từ rất sớm.
Họ thậm chí đã phát minh ra chữ viết tượng hình,
gần như đồng thời với người Ai Cập cổ.
Tuy nhiên, có lẽ,
họ đã quá trú trọng vào phát triển văn hóa và công nghệ,
mà lơ là lĩnh vực quân sự.
Khoảng năm 1750 trước công nguyên,
một nhóm người dầu mộc Arian
từ phía Tây Bắc tràn vào xâm lược các thành bang của người Dravidian.
Sau 200 năm chinh phục và phát triển,
người Arian đã dựng nền một nền văn minh mới trên mảnh đất này.
Dựa trên bốn bộ kinh thiêng cổ đại,
Rikveda,
Samaveda,
Yajurveda
và Athaveda,
giai đoạn này được gọi là thời kỳ Veda.
Dù kiểm soát hai vùng đồng bảng lớn là sông Ấn và sông Hằng,
người Arian vẫn không thiết lập được một nhà nước thống nhất,
mà trên nhỏ thành nhiều thành bang,
giống như người Dravidian trước đó.
Là kẻ thống trị,
người Arian xây dựng một hệ thống tôn giáo mới để kiểm soát người bản địa,
đó chính là đảo Palamon.
Tôn giáo này chia xã hội thành bốn đẳng cấp,
cao nhất là giới tư tế Brahmin,
tiếp đến là vô chúa và quý tộc Satyria,
rồi đến dân thường Vaishya,
và thấp nhất là tầng lớp vị trí,
người Dravidian,
gọi là Sudra.
Đây chính là khởi đầu của hệ thống đẳng cấp nổi tiếng của Ấn Độ,
nơi con người bị trói buộc vào số phận ngay từ khi sinh ra,
không được kết hôn khác đẳng cấp,
không được đổi nghề,
không thể thăng tiến.
Đáng sợ hơn,
đảo Palamon còn giải rằng,
ba tầng lớp trên là những người được tái sinh,
họ có thể chuyển kiếp nếu sống tốt,
nhưng Sudra thì không,
họ thậm chí không có cơ hội đầu thai,
họ là những kẻ bị loại trừ khỏi vòng luân hồi.
Khi thời gian trôi qua,
các thành bang người Arian dần lớn mạnh,
trinh phạt lẫn nhau,
cho đến khoảng thế kỷ thứ 6 trước cầu nguyên,
thì chỉ còn lại 16 quốc gia.
Giai đoạn này,
lịch sử Ấn Độ bước vào thời kỳ,
gọi là Liệt Quốc.
Chính trong thời đại này,
hai kết tác văn học kinh điển của Ấn Độ ra đời
là Mahabharata
và Ramazana.
Tác phẩm Mahabharata
sau này được Bollywood chuyển thể thành phim điện ảnh nổi tiếng bằng tên
Bà Hù Bà Li,
gây chấn động màn ảnh rộng
với hai phần phim hoành tráng.
Trong thời Liệt Quốc,
khi bộ máy nhà nước dần hoàn thiện,
quyền lực của các vị vua được củng cố,
giới quý tộc địa phương cũng dần nắm thực quyền.
Thế nhưng,
phần lớn của cải của dân chúng lại không thuộc về vua hay quý tộc,
mà phải dâng nộp cho giai cấp tư tế,
tức là các thầy tê lễ Balamon.
Trong khi đó,
tầng lớp nắm quyền trị phi như vua chúa và quý tộc
lại chỉ thu được một phần nhỏ thuế.
Mâu thuẫn giữa hai đẳng cấp cao nhất là Balamon
và Satyria
vì thế càng trở nên sâu sắc.
Đồng thời,
sau nhiều thế kỷ,
người Arian vốn thuộc tầng lớp thứ ba,
Vaishya,
rơi vào cảnh nghèo khó,
bị đẩy xuống hàng thấp nhất,
tầng lớp Sudara.
Theo giáo lý của đảo Balamon,
Sudara là giai cấp thấp kẹp nhất,
không có quyền tái sinh.
Điều này khiến người dân Arian bắt đầu bất mãn sâu sắc
với hệ thống đẳng cấp bất công này.
Chính trong bối cảnh ấy,
một phong trào phản khắng lớn đã bùng nổ,
được sửa sách gọi là phong trào Samana,
do chính tầng lớp Satyria khởi xướng,
nhằm chống lại đảo Balamon.
Phong trào này sản sinh ra hàng trăm trường phái tôn giáo mới,
nhiều trong số đó được sáng lập bởi các vị vua hoặc hoàng tử.
Trong số đó,
đổi bất nhất là các trường phái
Ajivika,
Advaita,
Vakinatra,
Jainism
và đặc biệt là Phật giáo.
Như chúng ta đã biết,
Phật giáo do một hoàng tử tên là Tathagata sáng lập,
người sau này được quyết đến với tên gọi Thích Cá-mau-ni,
ngay chú trương bình đẳng giữa một loài
bác bỏ sự độc tôn của thần linh và giới tù sĩ
và sáng lập giáo lý tử diệu đế bát chính đảo
để con người tụ tầm dương tính và hướng thiện.
Dù vẫn tiếp thù khái niệm luân hồi và nghiệp báo từ đảo Balamon,
Phật giáo lại khẳng định rằng
tất cả mọi người đều có cơ hội tài sinh,
không phân biệt đăng cấp,
đều hoàn toàn đối lập với sự phân biệt giải cấp hắc nghiệt của đảo Balamon.
Chính vì vậy,
Phật giáo nhanh chóng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ tầng lớp Satyria
và đông đảo người dân thuộc dài cấp thấp.
Tư tưởng chúng sinh bình đẳng
đã trở thành ngọn cờ lớn giúp Phật giáo phát triển như vũ bão.
Thời kỳ Liên quốc của Ấn Độ
có rất nhiều điểm tương đồng với thời xuân thu chiến quốc của Trung Hoa.
Cả hai đều nằm trong cùng mốc thời gian,
đều chứng kiến sự bùng nổ triết học, tôn giáo
và đều là thời đại của chiến tranh giữa các nước nhỏ
dẫn đến sự thống nhất về sau.
Nếu ở Trung Hoa
nước Tân đóng vai trò thống nhất đất nước từ Tây Sang Đông,
thì Ấn Độ, quốc gia đóng vai trò là vương quốc Magadha
nằm ở vùng đông lưu vực Sông Hằng và thống nhất từ Đông sang Tây.
Người lãnh đạo vương quốc này thời kỳ đầu
được gọi là vua Bimbisara
người đã xây dựng thủ đô xá vệ
tương tự như Hàm Dương của Tân.
Nếu Tân Hiếu Công dùng thương ường để cải cách đất nước
thì Bimbisara lại dùng chính sách ủng hộ Phật giáo
và đàn áp đạo Palamon để củng cố quyền lực.
Tuy nhiên,
sau khi Bimbisara qua đời,
nội chiến bùng nổ khiến Magadha suy yếu.
Mãi đến năm 364 trước cùng nguyên,
Mahapadma Nanda lên ngôi,
lập nên trèo đại nhà Nanda,
chấm dứt nội loạn và thống nhất vùng trung tâm Sông Hằng
và cao nguyên đi cần.
Nhưng trong khi phương Đông được thống nhất,
thì phương Tây,
tức lưu vực Sông Ấn
lại bị đế quốc Bà Tư xâm chiếm
và biến thành một tỉnh của Bà Tư.
Nhà Nanda vừa ổn định sông phía Đông
nên lập tức phát động chiến dịch tái chiếm phương Tây.
Nhưng khi họ tiến quân đến vùng Sông Ấn,
họ lại gặp một kẻ thù còn mạnh hơn Bà Tư,
chính là đại quân Viễn Trình của Alexander Đại Đế.
Cuộc chiến thống nhất bị gián đoạn
vì Alexander chiếm được vùng Sông Ấn
và định tiếp tục tiến vào sâu hơn
để tiêu diệt nhà Nanda.
Tuy nhiên,
sau những năm tháng trinh chiến liên miên,
binh lính của ông quá nhớ nhà
dẫn đến binh biến hàng loạt.
Cuối cùng, Alexander buộc phải rút quân.
Trong thời gian đó,
vùng thượng huồn Sông Ấn,
khu vực Văn Giáp ngày nay,
có một người tên là Chandragupta
đã nhiều năm kháng chiến chống lại quân Hy Lạp
và được người dân tôn trùng như anh hùng.
Khi Alexander rút quân,
các vùng lãnh thổ nhanh chóng khuyến phục Chandragupta,
người sau này được gọi là Hoàng đế Maurya,
người vượt hổ.
Năm 324 trước của Nguyên,
Chandragupta Maurya
kéo quân về phía Đông
và lật đổ nhà Nanda,
mở ra một đế chế hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử Ấn Độ cổ đại.
Sau khi lật đổ nhà Nanda,
Hoàng đế Chandragupta Maurya,
còn được gọi là Người vượt hổ,
đã thành lập triều đại Maurya hùng mạnh.
Ngay sau đó,
ông bước vào một cuộc tranh giành quyết liệt với vùng quốc Seleucid,
một tan dư của đế chế Alexander đại đế,
nhằm kiểm soát vùng Tây Bắc Ấn Độ.
Kết quả là ông đã đánh bại Seleucid
và giành được quyền cai trị khu vực Việt Nam Afghanistan ngày nay.
Thất bại này gây chấn đấu khắp đế quốc Hy Lạp
đến mức vương triều Ptolemaic của Ây Cập
phải cử phái đoàn đến kinh đô Pataliputra của Maurya
để thiết lập quan hệ ngoại giao.
Nếu vì Chandragupta giống như Lưu Bang,
hán cao tổ của Trung Hoa,
thì cháu nội ông A Dục Vương
chính là hình bóng của hán vũ đế,
bởi chính dưới triều đại ông,
đế chế Maurya,
đạt đến hình cao huy hoang nhất.
Lên ngôi năm 273 trước Cổng Nguyên,
A Dục Vương đã chinh phục vương quốc Kalinka ở cao nguyên Deacon,
hoàn tất quá trình thống nhất hầu hết các bán đảo Ấn Độ,
trừ vùng cước Nam.
Giống như hán vũ đế chọn khổng giáo làm quốc giáo,
thì A Dục Vương cũng lựa chọn Phật giáo làm quốc giáo,
đồng thời ra sức bảo trợ và truyền bá tôn giáo này trên cõi đế quốc.
Trên phương diện chính trị,
ông trang lập hệ thống tình báo tình vi
nhằm giám sát các quan lại địa phương
và tăng cường quyền lực trung ương.
Tuy nhiên, sau khi ông qua đời,
nội bộ vương triều Maurya bắt đầu phân hóa
và những cuộc xâm lược liên tiếp từ bên ngoài,
vương triều nhanh chóng sụp đổ vào năm 187 trước công nguyên.
Trong khi đó,
khu vực phía Tây Ấn lại liên tục bị các tộc ngoại bàng như
Hy Lạp, Seythea, Parthia và Nguyệt Tri xâm chiếm.
Trong số này,
Nguyệt Tri đã thành lập một vương quốc hùng mạnh
tên Khu San ở vùng phía Tây Bắc Ấn Độ.
Nguyệt Tri vốn là một dân tộc ruộng mục
từng sinh sống tại hành làng Hà Tây của Trung Quốc,
nhưng sau khi bị Hùng Nô đánh bại,
họ bắt đầu cuộc di cứu vĩ đại về phía Tây.
Điều này khiến các tộc người Seythea
cũng phải di cứu về phía Afghanistan,
thay thế sự hiện diện của người Hy Lạp tại đây.
Sau đó,
Nguyệt Tri tiếp tục tiến xuống phía Nam,
đẩy người Seythea vào sâu trong nội địa Ấn Độ.
Tại vùng đất mới,
họ chuyển mình từ đời sống ru mục sang lọc nghiệp
và lập nên một liên minh gồm 5 bộ tộc,
mỗi bộ lạc đứng đầu bởi một thủ lĩnh gọi là Saho.
Đến năm thứ Ba,
thủ lĩnh Kuzula Kadphises
thống nhất toàn bộ 5 bộ tộc
và thành lập nền đề chế Kushan.
Ông tiến quân về Việt Nam,
chinh phục vùng Kashmir
và sau đó,
con cháu ông tiếp tục mở rộng lãnh thổ vào Ấn Độ.
Dưới châu đại cháu nội ông,
Kanishka Đại Đế,
Kushan trở thành một trong bốn đề chế hùng mạnh nhất của thời cổ đại,
sánh ngang với La Mã,
Paktia
và Nhà Hán Trung Hoa.
Lãnh thổ của Kushan
nằm trải dài từ rừng rầm phía Bắc Ấn Độ
đến sông Namada ở phía Nam,
từ miền đấu Iran
đến trung lưu sông Hằng.
Không chỉ hùng mạnh về quân sự,
Kanishka
còn nổi tiếng vì vị vua đã chia Phật giáo thành Tiểu Thừa và Đại Thừa.
Tiểu Thừa
được truyền bá về phương Nam,
ảnh hưởng mạnh mẽ đến khu vực Đông Nam Á,
còn Đại Thừa
thì theo con đường tờ lụa tiến vào Trung Quốc,
góp phần đình hình tư tưởng và ảnh hưởng đến cả nhỏ giáo trong hàng thế kỷ sau.
Tuy đế quốc Kushan có lãnh thổ rộng lớn
nhưng lại gặp khó khăn trong việc kiểm soát các nhóm dân cư có văn hóa khác biệt sâu sắc,
tình trạng văn hóa nổi bộ ngày càng nghiêm trọng.
Cùng thế đó,
nhà Đông Hán tiêu diệt Hùng Nô ở phía Bắc Trung Hoa,
một bộ phận Hùng Nô bị đánh bật
và tiếp tục di cư về phía Tây,
cuối cùng chản vào Nam Á.
Những người này được người Ba Tư gọi là Hep Thalit,
còn người Trung Quốc gọi là Bạch Hùng Nô.
Chính cuộc xâm lăng của Bạch Hùng Nô
đã dẫn đến sự suy tàn và tàn giã của đế chế Kushan vào thế kỷ thứ 3,
Ấn Độ một lần nữa bước vào thế kỷ chia cắt và huấn loạn.
Trong giai đoạn này,
ở thước lưu sông Hằng phía Bắc Ấn Độ,
một gia tộc mới,
Gupta,
bắt đầu trỗi dậy.
Họ thô tóm các tiểu quốc xung quanh
và cùng với bộ tộc Likchavi,
chiêm đóng kinh Nô Cũ,
Ba Taliputra,
hình thành nên hai thế cực lớn.
Năm 308,
Tổ lĩnh Gupta
là Chandragupta I,
cưới công chúa của tộc Likchavi,
thống nhất hai thế lực
và thành lập Triều Đài Gupta.
Dưới sự lãnh đảo của con cháu Chandragupta I,
đặc biệt là Chandragupta II,
Vương Triều Gupta tiến hành nhiều cuộc chiến tranh thống nhất
và đến cuối thế kỷ thứ 4
đã kiểm soát hầu hết Bắc Ấn Độ,
mở ra một thời kỳ hoàng kim mới,
rực rỡ về văn hóa,
khoa học và nghệ thuật.
Vương Triều Gupta có thể hoàn tất công cuộc thống nhất miền Bắc Ấn Độ
phần lớn là nhờ vào sức mạnh của Ấn Độ giáo.
Trong thời kỳ hỗn loạn bởi các cuộc xâm lược từ ngoài tộc,
bao gồm người Hy Lạp,
người Sai Thị ơ
và người Nguyệt Tri,
từng lớp Arian mất đi quyền lực cai trị vốn có.
Chính vì thế,
đạo Palamon vốn xem người Arian là giai cấp cao nhất,
lại một lần nữa được các quý tộc Arian trân trọng
và xem như cổi nguồn tinh thần để khôi phục trật tự cũ.
Không chỉ vậy,
Palamon giáo lúc này
cũng phải trải qua quá trình biến đổi sâu sắc,
tiếp thu triết lý Hy Lạp và giao lý của Phật giáo,
đồng thời dung hòa với tín ngưỡng dân gian bản địa,
từ đó hình thành một hệ tư tưởng bao dung và đa dạng hơn.
Song song với đó,
sự phát triển của lực lượng sản xuất
khiến chế độ phong kiến bắt đầu mạch nhã,
tầng lớp địa chủ nổi lên
đòi hỏi nông dân phải phục tung và đóng thuế.
Hệ thống đẳng cấp mà Palamon giáo xây dựng
vô tình lại hoàn toàn phù hợp với nhu cầu kiểm soát xã hội của địa chủ.
Chính vì thế,
đạo Palamon được nâng cấp thành một phiên bản mới,
chính là Ấn Độ Giáo.
Trong khi đó,
địa chế Kushan vẫn lấy Phật giáo làm quốc giáo,
điều này khiến quý tộc Aryan
vốn đang nổi dậy kháng chiến,
chọn đứng về phía Ấn Độ Giáo
để tạo thế đối đầu tàn diện với địa quốc phương Bắc.
Kết quả là dưới vương triều Gupta,
Ấn Độ Giáo một lần nữa lên ngôi,
thay thế Phật giáo trở thành quốc giáo của Ấn Độ.
Tuy các vị vô Gupta tôn sùng Ấn Độ Giáo,
họ vẫn tỏ ra khoản dung với các tôn giáo khác.
Điển hình là vào thời vua Hatsavadana,
nhà sư nổi tiếng Trung Quốc Huyền Trang,
đã đến kinh đô Kaja Búp Gia của Gupta để cầu học.
Nhà vua Đích Thần tổ chức một đại hội Guze,
nơi các đại diện Ấn Độ Giáo,
Kina Giáo và các phái Phật giáo tranh luận với Huyền Trang trong suốt 18 ngày.
Kết quả là mọi giáo phái đều bị Huyền Trang bắt bỏ bằng lập luận vững chắc
và ông được người Ấn phong tăng danh hiệu Đại Thành Thiên.
Sau hồi nghị, vua Hatsavadana còn mời Huyền Trang cưỡi vói diễu hành khắp kinh thành
để tuyên truyền Phật Pháp,
thể hiện sự ngưỡng bổ và tôn vinh chưa từng có.
Vào năm cuối cùng trước khi Huyền Trang rời Ấn Độ,
tức năm 643,
nhà vua lại tổ chức thêm một kỳ đại pháp hội kéo dài đến 75 ngày,
nơi từ vua Chúa,
Cao Tăng đến thường dân,
một hiện tưởng có thể gọi là hội nghị tôn giáo vĩ đại nhất trong lịch sử Ấn Độ.
Tuy nhiên,
chỉ vài năm sau khi Huyền Trang rời đi,
vua Hatsavadana qua đời,
không có người kế vị đủ mạnh,
đề chế khúc ta bắt đầu tán giã.
Các lãnh chúa địa phương nổi dây,
chia cắt đất nước và đưa Ấn Độ quay trở lại thời kỳ phân biệt và hỗn loạn.
Trong vài thế kỷ sau đó,
Ấn Độ tiếp tục hứng chịu lan sóng sâm lăng từ bên ngoài.
Người Ả Rập,
người Khoa Mason,
đặc biệt là người Thổ Nhĩ Kỳ theo đảo Hồi,
lần lượt tiến vào lưu vực Sông Hằng
và chiếm đóng nhiều thành phố,
thiết lập các phương quốc hội giáo khắp miền Bắc.
Đến năm 1206,
một tướng thổ tên là Kut-Buri-Nai-Bac,
thượng xưng là Sao-Tân ở Delhi,
chính thức lập ra phương triều Delhi,
đánh dấu thời kỳ thống trị của hội giáo tại miền Bắc Ấn Độ.
Dù đã thống nhất về mặt lãnh thổ,
đôi bộ triều đình lại phân hóa sâu sắc.
Trong suốt 320 năm tồn tại,
đề chế Delhi đã trải qua liên tiếp 5 triều đài,
triều None, triều Khanji,
triều Tulak, triều Sayyid và triều Lodi,
với mỗi triều chỉ kéo dài trung bình khoảng 50 năm.
Dưới ác cai trị của các Sao-Tân hội giáo,
người theo đảo Hồi được miễn trừ thuê thân,
trong khi tín độ Ấn Độ giáo muốn hành hương,
lại phải đóng thêm thuê nhàng khói,
giê-giê-a,
thậm chí nhiều nơi còn bị ác cai đảo.
Điều này khiến hội giáo nhanh chóng trở thành tổn giáo lần thứ hai tại Ấn Độ,
một thực tế vẫn còn hiển hữu trở đến ngày nay.
Vào thời kỳ của vương triều Tulak,
đế quốc hội giáo Delhi đã đạt đến đỉnh cao quyền lực,
ngoại trừ vùng cực Nam bán đảo,
toàn bộ tiều lục điện Nam Á
bất cứ đã được thống nhất dưới quyền cai trị của triều đài này.
Thế nhưng, khi vương triều ở thời kỳ cực thịnh,
một cơn ác mộng từ phương Bắc ấp đến.
Tề mở lên,
vị thủ lĩnh gốc Mông Cổ theo hội giáo
đã thành lập đế quốc Timur tại Trung Á
vào năm 1398.
Ông dẫn đại quân chản vào Ấn Độ,
cướp phá thủ đô Delhi,
hoàn toàn hủy diệt sức mạnh quân sự của đế quốc Delhi.
Đến năm 1526,
hậu dệ của Timur lên là Babu,
đánh bại tan sư của vương triều Delhi
và thành lập nên một đế chế mới tại Bắc Ấn Độ,
gọi là đế chế Mugan.
Để phân biệt với đế quốc Mông Cổ ở Trung Hoa,
giới sử học phương Tây gọi đây là Mugan Empire,
mà nghĩa Mông Cổ Ấn Độ.
Khi Babu qua đời,
đế chế non trẻ này tạm thời bị người Afghanistan đánh bại.
Nhưng chỉ hơn một thập kỷ sau,
con trai ông,
Humezun,
với sự giúp đỡ từ đế quốc Ba Tư
đã khôi phục lại ngay phẳng.
Và đến năm 1560,
khi con trai của Humezun
là Akbar Đại Đế,
chính thức chấp chính
một kỳ nguyên vạc son mới được mở ra.
Akbar không chỉ tiêu diệt hoàn toàn lực lượng Afghanistan,
mà còn mở rộng lãnh thổ từ Bengal ở phía đông
đến biên giới Trung Á ở phía tây.
Từ vùng đông nam Afghanistan
đến tầng giãi Vinaya phía nam,
gần như tân đồng với bản đồ đế quốc Delhi thời cước thình.
Khác với các triều đái trước,
Akbar thì hành chính sách khoản dùng tôn giáo,
chấm dứt sự tàn áp tín ngưỡng kéo dài thời Delhi sau tàn áp.
Ông cho phép Ấn Độ giáo, Hồi giáo
và các giáo sĩ thiền chúa đến từ Bồ Đào Nha tự do chuyển giáo,
đồng thời ông tuyển chọn nhân tài không phân biệt nguồn gốc hay tôn giáo,
miễn là có tài thì có thể phục vụ trong triều.
Nhờ sự cởi mở và sáng suất ấy,
Akbar được người Ấn xếp ngang hàng với Ashoka Đại Đế
của vương triều Maurya
và Haksa Varana của đế quốc Quốc Ta,
trở thành một trong ba vị quân minh vĩ đại nhất của lịch sử Ấn Độ.
Sau khi Akbar băng hà vào năm 1605,
con trai ông là Zaharja,
rồi đến cháu nội là Shah Jahan
tiếp tục thử kế và đưa đế chế Mugan bước vào thời kỳ Hoàng Kim.
Chính Shah Jahan là người cho xây dựng Tadma Han,
một kiến tác kiến trúc bằng đá cầm thai trắng,
để tưởng niệm người vợ quá cố mà ông yêu thương.
Tuy nhiên,
bê kịch bắt đầu khi con trai của Shah Jahan
phát động trinh kiến vào năm 1658,
đánh bại ba người anh em và giam lòng cha mình.
Khác với Akbar,
ông bãi bỏ chính sách Hoàng Dung,
khôi phục luật Hồi giáo nghiêm khắc
và bắt đầu đàn áp các tôn giáo khác.
Chính sự cứng rắn này đã đẩy đế quốc vào khủng hoảng,
khiến mâu thuẫn xác tộc,
tôn giáo leo thẳng
và dẫn đến thời kỳ suy tàn.
Trong lúc đế chế Mugan đang dồi dên,
thực dân Anh và Pháp,
sau khi đánh bại Bồ Đào Nha và Hà Lan trong cuộc đua hàng hải,
bắt đầu thiết lập các căn cứ thông mại tại Surat,
Mumbai và Kolkata.
Đến năm 1761,
nội bộ Mugan đã tàn giã nghiêm trọng.
Các tiểu vương quốc thì giao chiến liên miên,
tạo điều kiện cho người Anh, người Pháp
và các quân Afghanistan từ phương Bắc tràn vào.
Cuộc chiến tranh Panipat lần thứ ba
là dấu chấm hết cho sức mạnh quân sự cuối cùng của Mugan.
Quân Afghanistan đánh bại liên quân Ấn,
cướp phá Delhi một lần nữa.
Từ đây,
Ấn Độ mất đi lực lượng đủ sức ngăn chặn các thế lực thực dân phương Tây
và bắt đầu rơi vào vòng xoáy thuộc địa hóa.
Cùng lúc đó,
Anh quốc đánh bại Pháp trong cuộc chiến 7 năm,
chiếm toàn bộ các thủ địa của Pháp ở Ấn Độ,
sau đó,
Anh tiếp tục phát động thêm 4 cuộc chiến tranh với Mysore
và bắt cuộc chiến với Maratha
chiếm đóng toàn bộ miền Nam và miền Trung Ấn Độ.
Tiếp theo,
công ty đồng ngân Anh áp dụng chiến lược vừa mùa chuộc vừa chân áp
đối với các tiểu quốc ở miền Bắc.
Đến năm 1849,
tiểu quốc cuối cùng là Panjab rơi vào tay Anh.
Hoàng đế Mugan trở thành bộ nhìn
và Ấn Độ chính thức trở thành thuộc địa của Anh.
Dù bị cai trị bởi thực dân Anh,
quyền lực thực tế tại địa phương vẫn thuộc về các tiểu vương Ấn Độ,
những người nắm giữ quyền lực tra truyền còn nối.
Để chiếm thêm đất và thù thêm thuế,
toàn quyền Ấn Độ,
đàn hầu si đã nghĩ ra một chiều bài tàn nhẫn
gọi là chính sách tuyệt tự,
doctrine of love.
Dựa trên cái gọi là học tuyết tuyệt tự do toàn quyền Ấn Độ,
lo đàn hầu si đưa ra,
bất kỳ tiểu vương nào qua đời
và không có người kế trực hệ
sẽ bị tước quyền sở hữu lách thổ
và toàn bộ vùng đất ấy
càng thu thập sẽ được xác nhập vào hệ thống của công ty đồng Ấn Anh.
Không dừng lại ở đó,
đàn hầu si còn quyền lý do quản trị yếu kém
để trực tiếp chiếm đoạt đất đài của nhiều tiểu vương Ấn Độ,
thậm chí là tịch thu hàng loạt đất đài của các đền thờ Ấn Độ Giáo và Hồi giáo.
Điều này khiến giới quý tục và tăng lưỡi Ấn Độ ngày càng phấn hổ
trước sự lòng quyền của thực dân Anh.
Song song với đó,
trong giai đoạn đầu sâm chiếm,
thực dân Anh từng dùng chính sách lương cao,
tuyết thấp để triêu mộ người Ấn
tham gia làm lính đánh thuê cho quân đội Anh.
Nhưng khi nước Anh đã nắm toàn quyền kiểm soát,
những ưu đãi này lập tức bị hủy bỏ.
Không những thế,
họ còn ép buộc binh sĩ Ấn Độ cài đạo sang ký tô giáo
và thường xuyên bị sĩ quan người Anh ký thị,
xúc phạm,
thậm chí bắt họ vượt biển thàm chiến chống lại nhà Thành ở Trung Quốc,
luôn là những người phải xung phong đầu tiên trong chiến đấu.
Chính sự bất công đó
đã mỉ nhóm lên một phòng trào phản kháng trong lòng quân đội Ấn Độ.
Giọt nước chàn ly
chính là sự kiện đàn bọc mỡ nổi tiếng
còn gọi là sự kiện Beirut
năm 1857.
Lúc ấy,
quân đội Anh cấp cho binh sĩ Ấn
những loại đàn mới bọc trong giấy tầm mỡ heo và mỡ bò,
buộc họ phải dùng răng cắn mở lớp giấy bọc trước khi nạp vào súng.
Điều này xúc phạm nghiêm trọng đến tôn giáo của họ.
Người Hồi giáo kiêng thịt heo,
còn người Hindu tôn thờ bò
là linh thiêng tuyệt đối.
Sự xúc phạm trắng trận này đã chầm ngòi cho cuộc nổi dậy vũ trang đầu tiên
chống lại thức dân Anh.
Các doanh trải quân đội trên khắp Ấn Độ
đân lượt khởi nghĩa.
Họ tôn vì vua Bahadur Shah II
vì hoàng đế bù nhìn cuối cùng của nhà Mugan
lên làm hoàng đế Ấn Độ
và nhân danh ông ban bố chiếu thư kêu gọi toàn dân.
Không phân biệt tôn giáo,
hãy cùng nhau kháng chiến đuổi thức dân Anh.
Phong trào nhanh chóng lan rộng như lửa trái đồng khô,
nhiều tiểu vương trước kia thần Anh cũng đổi phe,
tham gia nổi dậy.
Sự sách gọi đây là cuộc khởi nghĩa phí đại năm 1857
hay cuộc khởi nghĩa dân tộc Ấn Độ.
Dù mang theo niềm hy vọng giải phóng dân tộc,
cuộc khởi nghĩa cuối cùng vẫn bị thức dân Anh giã bàn đàn áp và dập tát.
Sau thất bại, hoàng đế Bahadur Shah II
bị lưu đài vinh viễn
và vương chiểu Mugan chính thức chấm dứt.
Nữ hoàng Victoria của Anh lên ngôi nữ hoàng Ấn Độ,
đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Anh quốc trực tiếp cai trị toàn bộ tiểu lục địa,
hay còn gọi là thời kỳ Anh thuộc Ấn Độ,
Bharisarat.
Từ đây,
Ấn Độ không còn là một vùng đất dưới quyền công ty thương mại,
mà trở thành thuộc địa vương thất dưới danh nghĩa vương quốc Anh.
Tuy nhiên,
dù Anh đã kiểm soát danh nghĩa toàn cõi Ấn Độ,
quyền lực thực tế tại nhiều vùng
vẫn nằm trong tay các tiểu vương bản địa,
với các chế độ trả chuyển còn đối.
Để tiếp tục mở rộng lãnh thổ và tối đa hóa nguồn thu,
đàn hầu si đã đưa ra châu bài mới,
chính sách tước quyền thực kế,
độc trị nọc láp,
vốn chẳng khác gì một hình thức cướp đất hợp pháp,
tiếp tục châm thêm lửa cho sự phẫn nổ
ngày một làn rộng trong lòng xã hội Ấn Độ.
Không chỉ bằng bạo lực và mưu kế,
thực dân Anh còn tìm cách củng cố ách cai trị bằng con đường văn hóa và giáo dục.
Họ cho xây dụng một hệ thống trường học giảng dạy bằng tiếng Anh,
với nội dung sáy vào việc đề cao văn minh phương Tây
và hát thấp giá trị truyền thống bản địa.
Một thế hệ trí thức mới bắt đầu hình thành,
những người nói tiếng Anh,
tư duy kiểu Anh
và dần dần xa rời cội nguồn văn hóa của chính mình.
Tuy nhiên,
chính tư tước lớp này lại này sinh mập mống của tinh thần phản kháng.
Nhiều trí thức Ấn Độ,
sau khi tiếp cận tư tưởng tự do,
dân chủ tư phương Tây,
Anh có quyền cài trị chính mình,
vì sao người Ấn lại không thể.
Họ không đơn thuần chống đối bằng gơm súng,
mà bắt đầu bằng lời nói,
bút viết
và ly lẽ để kêu gọi thay đổi.
Cuối thế kỷ 19,
phong trào dân tộc Ấn Độ bước sang một giai đoạn mới,
có tổ chức,
có lãnh đạo
và có mục tiêu chính trị rõ ràng.
Năm 1885,
Đảng Quốc đại Ấn Độ
Indian Nation Congress được thành lập.
Bản đầu là nơi các trí thức bản luận nôn hòa,
nhưng dần trở thành lực lượng đấu tranh trung tâm của dân tộc.
Những người như Đà-Bàn-Bài-Na-Rô-Ri,
Ban-Gan-Ga-Đa-Ti-Lắc,
và sau này là Mô-ra-Đát-Ka-ra-Cham-Đan-Gan-Đi
đã thổi bụng tinh thần kháng Anh
không chỉ bằng sức mạnh,
mà bằng đạo lý,
niềm tin
và sức bất khuất của toàn dân.
Đồng thời,
những xung đột Hồi giáo cũng bắt đầu bị khai thác như một công cụ chính trị.
Người Anh trong chiến lược chia đệ trị,
khuyên khích phần hóa giữa cộng đồng Hindu và Hồi giáo,
hai khối dân cư lớn của tiêu lục địa.
Việc thành lập Liên đoàn Hồi giáo Ấn Độ năm 1906
là một hệ quả trực tiếp.
Từ đây,
phong trào dân tộc không chỉ là cuộc đấu tranh giữa người Ấn và thực dân Anh,
mà còn trở nên phức tạp
bởi chính những mâu thuẫn nổi tại giữa các cộng đồng thổn giáo trong nước.
Và rồi,
trong giai đoạn đầu thế kỷ 20,
khi những đế chế trên thế giới bắt đầu lũng lay trước hai cuộc đại chiến,
thì Ấn Độ,
một biểu tượng cổ bất bào động đang ấp thầm lớn lên.
Người mà lịch sử sẽ mãi khác ghi bằng một cái tên đơn giản
nhưng đầy sức năng,
Gandhi.
Sau hàng thập kỷ bị cai trị,
bóc lột và chia rẽ,
tinh thần kháng chiến của người Ấn Độ vẫn chưa bị dập tát.
Nhưng phong trào ấy thiếu một điều,
một linh hồn dẫn đường.
Và rồi, từ nơi xa xôi,
Nam Phi,
một người đàn ông gầy gò,
mang kính tròn,
tại không mang vũ khí đã trở về quê hương.
Tên ông là Mohandas Karamchand Gandhi.
Gandhi không giống những nhà cách mạng truyền thống,
ông không kêu gọi bạo lực,
không thù hận,
không dường cao vũ khí,
thứ ông mang về là một cái niệm hoàn toàn mới,
Satyagraha,
sức mạnh của chân lý hay còn gọi là đấu tranh bất bào động.
Ông kêu gọi người dân Ấn Độ chống lại bất công bằng cách không hợp tác,
không dùng hàng anh,
không đóng thuê muối,
không tham gia bộ máy cai trị.
Thay vì bạo loạn,
ông tổ chức những cuộc tuần hành trong im lặng,
những cuộc tuyệt thức phản đối
và những lời hiệu chiều đạo đức
đánh thẳng vào lương trí của các người Anh lẫn thế giới.
Sự kiện nổi bật nhất
là cuộc hành trình muối,
Solmark,
năm 1930.
Gandhi cùng hàng ngàn người đi bộ hơn 380 km đến biển để tự tay lấy muối,
hành động đơn giản này
lại là cú đấm chính bảo và chính sách độc quyền muối của Anh Quốc.
Hình ảnh một ông giả chân đất
dẫn đầu đoạn người đi trong trật tự,
im lặng mà kiên cường
đã lay động cả thế giới.
Đế quốc Anh,
vốn quen dùng súng đàn để đàn áp,
giờ đây lại lung túng trước một kẻ thù không dùng đến bạo lực.
Họ bắt giữ Gandhi,
rồi lại buộc phải thả.
Mỗi lần ông vào tù,
phong trào càng lan rộng.
Mỗi lần ông tuyệt thực,
cả đất nước nín thở.
Nhưng Gandhi không chiến đấu một mình.
Những người như Zohala Nehru,
Sadapaten,
Subhash Chandra Bose,
mỗi người chọn một con đường,
nhưng tất cả đều vì cùng một mục tiêu,
độc lập dân tộc.
Và rồi,
sau gần một thế kỷ bị đổ hồ,
sau bao nhiêu máu đổ và nước mắt,
người Ấn Độ cuối cùng cũng giành được quyền làm chủ.
Ngày 15 tháng 8 năm 1947,
Ấn Độ tuyên bố độc lập.
Lịch sử Ấn Độ không chỉ là một chuỗi những chiều đại hương vong
hay những cuộc kháng chiến đẫm máu,
đó là một bản giao hưởng phức tạp giữa niềm tin và phản kháng,
giữa linh thiếng và tàn bạo,
giữa trí tuệ và tổn thương.
Từ những câu kinh cổ vang lên bên bờ sông Hằng,
đến những tiếng thét trỏng đêm của cuộc trưa cắt năm 1947,
dân tộc này đã định qua hàng nghìn năm biến đồng,
mang theo cả ánh sáng của mình triết và bóng tối của bệnh kịch.
Ngày nay,
Ấn Độ là một cường quốc đang trôi dậy.
Nhưng để hiểu vì sao quốc gia này
lại mang trong mình nhiều mâu thuẫn đến thế,
một nơi có thể vừa nghèo khổ cùng cực,
vừa giàu có đến tráng ngợp,
vừa truyền thống đến bảo thủ,
vừa hiện đại đến tiên phong,
ta phải nhìn lại chặng đường đầy giàn vỡ mà họ đã đi qua.
Bởi vì Ấn Độ không chỉ là một quốc gia,
nó là ký ức sống,
là vết sẹo chưa lành,
là lời cầu nguyện chưa dứt.
Và cũng làm minh chứng cho một điều,
dù bị nghiền nát bởi thời gian,
chiến tranh và che rẽ,
linh hồn của một dân tộc khi chưa chịu khuất phục,
sẽ luôn tìm được cách để hồi sinh.
Bạn có cảm nghĩ thế nào về đất nước này?
Đừng ngất ngại để lại ý kiến trong phần bình luận nhé!
Bấm đăng ký kênh và bật chuông thông báo
để không bỏ lỡ video mới nhất trên kênh nhé!
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!
