Lê Quý Đôn - Văn nghệ ngữ

Kẻ Học Trò
777 Người theo dõi
59 Lượt xem video·17 thg 4, 2026
Vân đài loại ngữ, tác giả Lê Quý Đôn
Quyền thứ năm, văn nghệ ngữ, gồm 48 điều
Điều thứ nhất
Khổng tử nói rằng, từ đạt nhi dĩ hỉ, nghĩa là văn từ cần đạt mà thôi, đạt nghĩa là bình dị, dễ hiểu
Chu tử nói, cái chỗ hay của đạo lý phần nhiều ở chỗ bình dị
Ông lại nói rằng, đọc sách nên đọc cho kỹ, đừng có xem qua
Thẩm Ước nói, văn trường nên theo 3 điều dễ, dễ thấy việc, dễ biết chữ và dễ ngâm đọc
Điều thứ hai
Văn trường là góc lớn của sự lập thân, là việc lớn của sự kinh thế
Người nhà Đường nói, dùng kẻ sĩ nên phải nhậm đức hạnh trước, văn nghệ sau
Đó là nói cách lấy thư phán, mà xét người lúc bấy giờ, chứ không phải nói chung
Chu tử nói, lời không văn vẻ thì không đi được xa
Bốn điều dạy của khổng tử, tất lấy văn làm trước
Muốn tóm tắt lấy dễ, tất phải biết giọng văn trước
Vậy văn không khi nào bị coi là việc ngọt
Sách luận ngữ nói, trí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ
Nghĩa là, lấy đạo làm hướng cho sự lập trí
Lấy đức làm chỗ căn cứ, lấy nhân làm nơi nương tựa, lấy nghệ làm thú vui chơi
Xem đó, người xưa cũng chỉ nói nhanh nhau, chứ không chia điều nào là gốc, điều nào là ngọt
Chuyện kinh thi của họ Mao nói về 9 điều hay
Đó là, điều thứ nhất, kiến bang năng mệnh quy
Điều thứ hai, điển năng thi mệnh
Điều thứ ba, tác khí năng minh
Điều thứ tư, sứ năng tạo mệnh
Điều thứ năm, thăng cao năng phú
Điều thứ sáu, sư lữ năng thể
Điều thứ bảy, sơn xuyên năng thuyết
Điều thứ tám, tang kỷ năng lụy
Điều thứ chín, tế tự năng ngữ
Nghĩa là, điều thứ nhất, khi xây dựng một nước thì biết bói rùa
Điều thứ hai, khi đi săn bắn thì biết ra mệnh lệnh
Điều thứ ba, khi làm đồ đạc gì thì biết làm được bảy minh
Điều thứ tư, khi đi sứ có thể tạo được tử mạng
Điều thứ năm, khi lên cao thì biết làm thơ ca
Điều thứ sáu, trong việc sư lữ thì biết làm lời thệ quân
Điều thứ bảy, vẻ núi sông thì có lý thuyết
Điều thứ tám, trong việc tăng ma thì biết đặt tên hẻm
Điều thứ chín, trong việc tế tự thì nói được nghi tiết
Người, quân tử có được chín điều hay ấy thì gọi là người có đức
Có thể làm được quan đại phu, đó là cách tuyển sĩ của nhà Chu, đại khái như thế
Sao gọi văn là việc ngọn được
Đại đẻ, anh Hoa phát tiết ra ngoài là do ở trong có chứa nhiều hòa thuận
Cho nên người có đức, tân biết ăn nói
Người có hành, tất có học
Như con Phượng thì có cánh, sắc lông sặc sỡ
Con Báo thì có lông chơn mượt
Trang sức ở ngoài với chứa được bên trong vẫn là một vầy
Chu tử nói, tùy nghi đúng mức, nói năng phải lẽ đều là văn
Ông lại nói, ngày xưa đem các môn lễ
Nhạc, xả, ngự, thư, số, dạy người ta
Lẽ nào một người đã học các môn văn ấy mà lại bảo là người thiếu sót về đức hạnh được
Muốn biết người nên lấy đó mà bàn
Điều thứ ba
Giáo khoa dạy cả lục nghệ
Trong đó có cả văn sư và vũ bị
Cho nên những người đã được giáo dục lối ấy
Ở trong triều đình thì làm khanh tướng
Ra ngoài tỉnh quận thì làm tướng xoái
Không có cái gì mà không thích dùng
Dựa vào cửu năng mà tuyển người
Nghĩa là hợp chính sự với từ hàn làm của một thể
Cho nên vào triều thì có thể thay vua mà nói
Ra ngoài thì có thể tuyên bố mạng vua làm gì cũng được
Nhân tài thời thị ngày xưa hơn hẳn đời sao như thế
Học giả mà không thấu suốt hoàn bị thì sao được
Điều thứ tư
Sách luận hành nói
Trông cái nhà đẹp biết là danh gia
Tức là nhà có tiếng
Thấy cái cây cao biết là nước cũ
Nước có nền văn hóa to tát hồng văn
Ở trong nước dấu hiệu của đời thánh
Nước có thánh quân thì văn nhân tụ hội
Ý chí thánh hiền định ở ngõi bút
Bút soạn thành văn đầy đủ
Thì tính tình rõ rệt
Người đời có văn chương là ngọn
Ví như cảnh lá
Là chỉ vì họ đã hiểu đâu được lẽ ấy
Điều thứ năm
Các sách trang tử
Hoài nam tử
Là tổ của văn chương
Sử ký
Tả chuyện
Là tổ của sử học
Sở tử
Là tổ của tử phú
Đời xưa chưa có tứ thư
Quan trọng mở đầu ở nước tè
Mà trang tru hàn phi tử
Và tuân huống theo sau
Các thiên mục trong các sách ấy
Đều trở nên thành các thiên có văn chương
Nghị luận
Mà từ đó thể văn đổi hẳn
Xưa kia chưa có tử phú
Đến khuất nguyên mới khởi sướng lên
Từ nước sở
Rồi tống ngọc
Đường lạc
Và cảnh sai
Họa theo
Mỗi câu đều bay bướm
Mà từ đó thể thơ đổi hẳn
Điều thứ sáu
Đọc các sách tả chuyện
Quốc ngữ
Mới biết cổ nhân
Chép việc rất tường
Cho đến cả những câu chuyện
Nói riêng
Nói bỡn
Nói mộng
Xem bói
Cái gì cũng chép
Mà ta không thấy thế là phiền
Đọc các sách sử đời đường đời tống
Mới biết người đời sau
Chép việc rất lượt
Đến cả tấu
Đối
Chương
Sớ
Điển hiến
Điều mục
Phần nhiều bò sót
Mà ta cũng chưa thấy là giản
Ở chỗ nào
Điều thứ bảy
Sách tả chuyện
Chép cả một loạn văn
Của Kinh Vương
Xin nước Tấn
Xây thành cho thành Chu
Sử ký chép
Cả một bức thư
Của Nhạc Nghị
Đáp vua nước Yên
Cùng là 3 quốc trí
Chép cả bức thư
Của Gia Cát Khác
3 thẻ văn ấy
Lời lẽ lưu loát sáng sủa
Ta bảo đọc ký văn tự ấy
Sẽ biết được chỗ hay
Vì đọc sách
Nên xem được chỗ thần tình
Mà làm văn
Cũng quý có thần tình vậy
Điều thứ 8
Tổ Đồng Pha nói
Ý hết mà lời rừng
Ấy là cái lời
Rất mực trong thiên hạ
Xong lời rừng
Mà ý không tả hết được
Lại càng hay tuyệt
Xem văn lê ký
Và tả chuyện thì biết
Điều thứ 9
Trường Tử nói
Đọc sách ít
Thì khảo sát nghĩa lý không được tin
Đọc sách nên thuộc lòng
Nghĩ kỹ
Tình tứ
Thuộc mà không nhớ được
Thì không nảy ra tứ
Nhưng hiểu xuất được
Đại nguyên
Tức là đại thể rồi
Thì sách cũng dễ nhớ
Ở chỗ không nghi ngờ
Mà còn nghi ngờ
Thế là học đã tiến
Sách Thuyết Phu nói
Đọc sách 100 lần
Thì tự nhiên thấy được nghĩa sách
Lời nói này
Chính hợp với câu trên đây
Điều thứ 10
Sách
Môn sách tân hoại nói
Làm văn mà không sử dụng sự việc
Thì khó lắm
Sử dụng sự việc
Nhiều quá
Thì cũng khó lắm
Không sử dụng sự việc
Thì khó lập ý
Sử dụng sự việc
Nhiều quá
Thì khó đưa lời
Lại nói
Đọc sách cần nhớ kỹ
Và lâu
Thì ngày trông thấy tiện ít
Cũng lại nói
Hoàn ôn
Xem bát trận đồ
Thấy như hình thế
Con rắn ở núi Thường Sơn
Cho là trận đồ ấy
Không chỉ là phép để dụng binh
Mà cũng là phép làm văn
Văn trường cần phải
Uyển chuyển hồi phục
Đầu đuôi ứng với nhau
Mới là hay
Đó là những lời
Danh ngôn đối với văn trường
Người đời xưa nói
Làm thơ
Làm văn
Chép việc
Dù nhiều chỉ sợ không hóa
Ý bảo nên đem lời
Và ý của cổ nhân
Mà luyện đúc lại cho mới
Chứ đừng bước theo lối cũ
Điều thứ 11
Văn tử nói
Bậc thượng học
Lấy thần mà nghe
Bậc trung học
Lấy tâm mà nghe
Bậc hạ học
Lấy tai mà nghe
Tai nghe
Thì học ở ngoài bỉ phu
Tâm nghe
Thì học ở cơ nhục
Thần nghe
Thì học ở cốt tủy
Điều thứ 12
Thiện tử nói
Người biết đọc sách
Thiên hạ ít có
Tru tử nói
Phạm xem văn
Thì nên chú ý xem
Những chỗ các nhà
Nói giống nhau
Khác nhau
Ta ngày trước xem văn
Chỉ chuyên xem
Chỗ giống nhau
Khác nhau
Ông lại nói
Đọc sách nên đọc
Bản văn cho kỹ
Nhầm từng chữ một
Mới thấy thú vị
Thấy chỗ nào không hiểu
Thấu được
Thì nghĩ cho kỹ
Nghĩ kỹ không ra
Mới xem chú giải
Như thế mới có ý vị
Ông lại nói
Xem giảng giải
Không nên câu này
Ở lời văn
Mà không tìm lẽ phải trái
Cho rằng lời nói
Của Tiên Thánh
Là đích đắng cả
Thì biết đâu rằng
Những lời nói
Trong sách xưa xót lại
Há không có chỗ quá đáng
Không đúng sự thực
Hay cũng có chỗ
Chưa nói đến hay sao
Ông lại nói
Lúc mới xem
Đã lấy ý mình đoán trước
Mà lời Tiên Thánh nói
Thì không để vào tai
Ấy là cái bệnh
Của học giả ngày nay
Những câu bình luận trên đây
Đều là những câu chỉ bảo
Phép đọc sách
Cho học giả
Nhân tiện
Điều thứ 13
Nhàn Chi Thôi nói
Từ xưa đến nay
Các văn nhân phần nhiều
Mất phải cái bệnh khinh bạc
Nguyên là cái thể chất văn chương
Làm cho ý hứng của họ
Thì bay lên cao vút
Tình lình của họ
Thì phát lộ một cách bồng bột
Mà trở thành kiêu căng
Quên cả việc chỉ thủ
Giữ gìn
Và hăng hái tiến thủ
Ta cho rằng
Đó là vì ít học vấn
Thiếu hàm dưỡng
Thành ra bị cái khí
Nó sai xử
Nếu ý hứng
Tính linh
Vẫn giữ được bình đạm
Một khi nêu lên
Và phát ra
Lại càng thấy ung dung
Cho nên
Thánh nhân nói rằng
Hưng ư thi
Tức là học kinh thi
Để hưng khởi
Người lại nói
Từ đạt nhi dĩ hể
Tức là lời nói
Có thông đạt ý thì thôi
Cùng là
Hạnh hiểu dư lực
Tác sĩ học văn
Tức là
Làm đã thử sức
Rồi mới học văn
Thể chất của văn chương
Vốn ở trong học vấn mà ra
Học vấn có êm đềm
Rộng rãi thoải mái
Thì văn chương mới hay
Có lẽ đâu
Văn chương lại làm
Cho người ta kiêu căng được
Điều thứ 14
Lã cư nhân nói
Học giả nên làm văn hiểu dụng
Không nên nói xuông
Về văn chương nghị luận
Thì lấy văn của đồng trọng thư
Và của lưu hướng làm chính
Cũng nên quán xuyến khảo kỹ
Những loại văn
Như chu lễ
Tân tự
Và thuyết uyển
Điều thứ 15
Trong sách biển luận
Tảo Phi có nói
Thể văn tấu nghị nên nhã nhặt
Thể văn thư luận nên rành mạch
Thể văn minh lụy nên chân thực
Thể thi phú nên bóng bẩy
Thế gọi là tứ khoa vậy
Điều thứ 16
Sách văn tâm Điêu Long nói
Luận thuyết
Từ tự
Thì kinh dịch là đầu
Chiếu sách trương tấu
Thì phát nguyên từ ở kinh thư
Phú tụng ca tán
Thì kinh thi đã lập ra thẻ cách
Mình trầm lụy trúc
Thì khởi đầu từ kinh lễ
Ký chuyện di hịch
Thì gốc ở kinh Xuân Thu
Tàng Nam Phong có nói
Ở đây ta thấy rõ nghĩa câu
Văn chương nguyên bản lục kinh
Tức là văn chương bắt rễ ở lục kinh
Thực cũng đã hiểu thấu lẽ ấy
Điều thứ 17
Tào Phi nói
Làm văn lấy ý làm chủ
Lấy khí làm phụ
Lấy lời làm hộ vệ
Những tác phẩm của doanh gia đời xưa không ngoài mấy câu ấy
Lời phi bình này
Chắc không phải tự của Tào Phi tạo ra
Chắc cũng là nghe được ở đâu
Điều thứ 18
Người ta gọi văn chương là hay
Là bắt đầu chi tài
Tức là tài được tám đấu
Câu ấy gốc từ lời nói của Tạ Linh Vận
Ta thường nói
Tất cả tài trong thiên hạ gồm lại được có một thạch
Một thạch cùng có mười đấu
Tử kiến chiếm mất tám đấu
Ta được một đấu
Còn một đấu từ xưa tới nay mỗi người được một ít
Điều thứ 19
Sách Thuyết Uyển nói
Học giả nên có ba sự nhiều
Đọc sách nhiều, nghị luận nhiều
Và trước thuật nhiều
Trong ba điều ấy thì nghị luận là khó nhất
Vĩnh Thục cũng nói
Làm văn cần có tam đa
Tức là ba nhiều
Gồm có xem nhiều, làm nhiều, thảo luận nhiều
Điều thứ 20
Ngô Lai nói
Trong bụng không có được ba vạn quyển sách
Trong mắt không có được núi sông kỳ lạ của thiên hạ
Thì chưa chắc đã làm được văn
Điều thứ 21
Tổ Đồng Phà nói
Phàm văn chương nên làm sao cho thấy khí tượng tranh văn
Mẩu sắc rực rỡ
Càng già càng chín
Mới đến chỗ bình đảm
Điều thứ 22
Sách đọc thư Ngẫu Kiến nói
Văn chương quý sao làm được như gió lướt trên mặt tước
Sao sáng trên bầu trời
Vì gió lướt đi quay lại
Thì mặt nước tự nhiên gọn lên những làn hoa
Tình tú bố trí đều đặn
Thì ánh sáng tự nhiên rực rỡ
Điều thứ 23
Diệp Thích Đời Tống thường nói
Học kinh phải cho tinh
Đọc sử phải cho rộng
Làm văn phải bay bướm
Làm chính sự phải thông đạt
Vương Thủ nói
Sách kinh thì nuôi cân bản cho con người
Sách sử thì mở mang tài tứ cho con người
Điều thứ 24
Lý Cao nói
Nghĩ sâu thì ý xa
Ý xa thì lý giành
Lý giành thì khí mạnh
Khí mạnh thì lời giàu
Lời giàu thì văn hay
Âu Dương Tù cũng nói
Muốn văn chương hay cần đến chăm đọc sách
Đọc sách lại làm văn nhiều thì tự nhiên văn hay
Ở đời chưa có ai ít học hỏi
Biếng nhắc làm văn
Điều thứ 25
Những người tài tình khoát đạt
Thì ý khí thường cao
Mắt trông thường xa rộng
Không phải người tầm thường theo kịp được
Xem như bùi độ đáp bức thư của Lý Cao
Bàn về việc văn thì biết
Như ông ta nói
Lý Cao phê bình văn của các nhà
Tương như tử vân, giải nghị, tư mã thiên
Đồng trọng thư, lưu hướng
Rất là xác đáng
Ông lại nói
Văn không uốn lời mà lời tự đẹp
Không gõ ép lý lẽ mà lý lẽ tự tươi mới
Nói thế rất phải
Ông cũng lại nói
Văn trong điển mô, huấn, cáo
Quốc phòng, nhã, tụng
Văn ngôn, hệ từ
Thì lời văn rất giản dị, thẳng thắn
Những văn ấy dẫu to bao quát cả trời đất
Nhỏ không có khe hở
Thế mà không có câu nào là kỳ ngôn, quái ngữ
Ý tủy văn mà thấy
Sự tủy mà làm
Chỗ nào nên văn hoa thì văn hoa
Chứ không nhất định
Bùi độ nói thế thật là xác đáng
Lại như ông bảo Lý Cao rằng
Gần đây theo đại ý của đệ
Làm văn thường nghĩ rằng
Văn đời nay hay dùng nhiều câu biển ngẫu
Kết gió, sâu mây, trói âm buộc vận
Đó là cái bệnh làm văn
Nên đệ lấy lời hùng, ý xa mà uốn nắn lại
Ấy là chú ý đến văn trương đấy
Thế nào là văn?
Thánh nhân nhờ văn để đạt tâm
Tức giải tỏ cái nghĩa trong lòng
Tâm đã đạt thì thôi
Lý cũng đã cùng cũng thôi
Không phải cố ý nâng cao lên hạ thấp xuống
Tưởng thêm ra hay lược bớt đi
Cho nên văn giống nhau hay là khác nhau
Là chỗ khí cách cao thấp
Ý tứ sâu nông
Chứ không ở chỗ nặt nọt tỉa cắt
Từng trương từng cú mà bỏ hẳn thanh vận
Bùi độ nói thế đã đủ
Thấy kiến thức của ông hơn người khác nhiều
Sự nghiệp tấn công
Tức là bùi độ bình chính
Rực rỡ, thông suốt tròn chặt
Mà khí tượng của ông đã đủ thấy
Ở lời bình phẩm đấy rồi
Cho nên ta nêu ra đây
Để làm khuân mẫu cho đời
Điều thứ 26
Vương An Quốc thường báo Ngô Sử Hậu rằng
Cách điệu văn chương nên có quan dạng
Sử Hậu lại nói rằng
Văn chương tuy ở tâm thuật mà ra
Nhưng có hai bậc
Một là văn sân lâm thảo giã
Thể văn khí khô khan tiểu tụy
Một là văn đại các triều đình
Thể văn khí ôn nhuận phong phú
Dương Đại Niên Triều Tống nói
Tống lã công soạn các chiếu chế
Lời lẽ đẹp đẽ thuần hậu
Người cũng giống như văn
Điều thứ 27
Trong sách Đàm Lục Vương Thủ nói
Các bậc Vương Công dạy con rằng
Tuổi trẻ làm văn nên lấy khí hùng
Làm chủ, không nên bắt trước
Những dòng bi ai tiểu tụy
Ta cũng nên biết thế
Điều thứ 28
Chù Biển nói
Người thợ khéo không cho người ta xem vóc
Tức là hòn ngọc
Vì sợ người ta thấy vết tích dỉu đéo
Khoảng lỗ trực có một lần
Tìm được một đoạn nháp về đường xử
Của Tống Kỳ
Đem về xem kỹ thì văn chương ông ngày một tiến bộ
Vì ông được thấy
Những câu nào hay chữ nào sửa đổi
Cùng với lúc mới ý tạo
Mới sơ khảo không giống nhau
Nên biết được ý người làm văn
Chù Tử nói người ta muốn biết làm văn
Nên đọc một bộ Tây Hán
Đọc văn Âu Dương Tu
Đọc văn Tăng Nam Phong
Và đọc văn Hàng Dũ
Điều thứ 29
Trong tập bút ký Tống Kỳ nói
Văn có lối bằng chắc đối nhau
Chỉ để cho các quan nhà tuyên đọc trong một lúc
Mà thi hành cho mau chóng
Chứ không nên dùng lối ấy làm xử chuyện
Ta làm sách đường thư
Chưa thấy một lời chiếu hay một tờ sắc lệnh nào
Của người đường chép ở chuyện
Chỉ bỏ hết các văn biển ngẫu
Mà lấy lối văn cận cổ cho vào sách
Đại đẻ làm xử nên dùng lối cận cổ
Nếu lấy lối biển ngẫu cho vào xử
Thì không phải phép
Lời bàn ấy chưa phải
Vì xử là để chép việc
Việc nhờ văn mà được sáng tỏ
Nếu không chép cho tường thì sai mất sự thực
Vậy cần gì bàn đến thể cách văn chương ở đời xưa
Và lại từ đời tam đại đến đường Tống
Văn thể thay đổi không biết bao nhiêu lần
Chọn được văn cận cổ cho vào xử
Tường cũng có hiếm
Từ mã thiên bàn cố làm xử
Chỉ cứ sự thực mà chép
Chứ không có ý làm văn cho nên hay
Tống Kỳ thì có ý lấy xử làm văn
Cho nên văn không được hay
Liều Nguyên Thành có nói
Sách Tần Đường Thư chép việc thích lời giảng dị
Cho nên việc bị mở ám không rõ
Bài Tiến Thư Biểu có câu rằng
Sự tăng ư tiền
Văn tỉnh ư cự
Tức là việc thì chép thêm nhiều hơn trước kia
Văn thì chép giảm gọn hơn xưa
Xem thế ta thấy rõ
Văn Tần Đường Thư không bằng văn
Lưỡng hán thư là gốc ở đấy
Lời bàn này có thể làm định án được
Điều thứ 30
Trường Văn Tiểm nói
Làm văn mà chỉ muốn dùng lời, dùng chữ
Chấm câu, ngắt câu một cách mới lạ khác người
Đến khi nhầm đi nhầm lại
Và cũng chẳng thấy có được gì
Thế là vụ làm văn
Lời bàn này trúng cái bệnh làm văn của đời sau
Điều thứ 31
Đỗ Mục nói
Sinh sau trong đời chưa hẳn là sự không may
Vì sách thì đủ mà việc thì nhiều
Từ đời hán trở về sau
Đời nào dưỡng nước, thành, bại, phế, hưng
Tổng tích sự nghiệp một hai ức vàng
Xanh vàng, đen trắng, hư hay thực
Không hay có
Đều có thể vẽ tranh được
Mình chỉ cần xét lý do, sửa chỗ dài
Thêm chỗ ngắn, 10 phần được độ 4-5 phần
Cũng đủ ứng dụng việc đời
Không như đời xưa phải học cùng trời
Rõ thăm huyền bí
Theo dấu chỗ không tông tích
Tính toán đến chỗ không còn hào cốt mới là học
Cho nên bảo rằng sinh sau trong đời
Không phải là sự không may
Lạ thế
Thuyết ấy thực là hoạt bát thú vị
Nhưng người đời xưa với người đời nay
Khí bầm không giống nhau
Nguyên ủy cũng khác
Cổ nhân học vụ thực
Đời sau học vụ danh
Cổ nhân học được một câu
Thì đem ứng dụng một câu
Học được một chữ
Thì đem ứng dụng một chữ
Còn đời sau học mà không làm được
Và lại như họ quản
Tức là quan trọng
Họ tuân
Tức là tuân huống
Họ thân
Tức là thương
Học tuy thiên bác
Tức là phức tạp
Nhưng phương pháp kỹ thuật
Thuật nghị luận của họ
Cũng tự lập thành một phái
Xem các sách và xét những việc làm của họ
Thì đều thấy hợp với nhau cả
Sau nữa đến như tô tần
Chưa nghỉ
Đều học thực dụng
Không phải nói mà không làm
Đời sau bàn luận lục kinh
Thuộc lầu ngữ mạnh
Lại còn hiểu thêm các sách sử
Tử, đạo lý, chính sự
Thì miệng nói lau lau
Mà rốt cuộc đến lúc làm
Thì mờ mờ mịt mịt
Không có mấu chốt
Nhưng bị đem sự suy ra thực dụng
Tuy sách đổ việc nhiều
Cũng có ích gì đâu
Điều thứ 32
Trình Y Xuyên nói
Đọc sách được một thước
Không bằng làm được một tức
Lã Hối nói
Đọc sách không cần nhiều
Đọc được một chữ đem áp dụng làm việc được một chữ
Thế là được
Đó là cách học của các bậc tiền hiền
Điều thứ 33
Hoàng Phủ Thực gửi thư cho Lý Sinh
Nói rằng
Gần đây phong giáo bạc mẽo
Đùa nhau hư trường thanh thế để tranh hơn nhau
Làm thơ chỉ được câu nào như Liêu Trường Khanh
Mà đã gọi Nguyễn Tịch là lão binh
Bút chỉ được chữ nào bằng Lạc Tân Vương
Mà đã bắn Tống Ngọc là tội nhân
Viết chữ chứ viết thiên bàng
Mà đã bàn chuyện tắc tiết
Đọc sách chứ gãy câu đã khinh bị Phục Trịnh
Tức là Phục Kiền Trịnh Huyền
Đó là cái bệnh nặng của các người đi học đời nay
Anh là người có tài giỏi
Xin đừng bắt trước họ
Đó là lời dạy bảo hậu học rất hồn hậu
Thàn Ôi Lão Đỗ có bài thơ rằng
Văn trường thiên cổ sử
Đắc thất thốn Tông Chi
Tác giá dai thù Việt
Thành danh khởi lãng thủy
Dịch nghĩa tức là
Văn trường sự nghiệp nghìn đời
Giở hay tắc giả biết rồi chẳng sai
Nhả văn ai có giống ai
Tiếng tăm để lại há chơi đâu nào
Người ta nên tự xét mình xem thế nào
Dù cho tài tứ tốt đẹp
Hơn cả mọi người trong một thời đại
Cũng không ra ngoài được danh giới
Phên dậu của tiền bối
Thế mà dám khoe khoang khinh bạc chê bai
Chẳng cũng quái gỡ lắm ư
Văn trường là cuộc công thiên hạ
Ý kiến mỗi người mỗi khác nhau
Phân tách thì được chứ không nên chê mắng
Điều thứ 34
Cuối đời nam tống
Người học lục kinh không đọc bản văn
Cùng chuyện chú của tiên nho
Chỉ lấy những văn của người chúng gửi gần đây
Ôn đọc chép lại
Chọn xem trong kinh có chỗ nào ra được bài
Tự ý nặng nghĩa ra mình làm láo
Việc đó chú khảo đỉnh
Tức là chú hy than tiếc
Và đó cũng là cái thông tệ đời sau
Sao mà nhân tâm biến đổi trái ngược đạo sư đến thế
Lấy sĩ tử mà không xem thực hành trước
Giảng học mà không chuyên kinh thuật
Thì ngân cấm sao được những thói phủ phiếm
Đọc sách mà không xem đại ý ra bài
Và không chọn chính nghĩa
Thì không trách được cái tệ tỉa cắt tuần một
Tất cả các người học khoa cử
Thường theo sự ham thích của đời
Người trên lấy khoa cử dùng người
Người dưới cũng lấy khoa cử mà đáp ứng lại
Lẽ tất nhiên như thế
Và lại hán nhò lấy nghĩa trong kinh
Mà quyết việc ngục và đoán việc lớn của triều đình
Còn đời sau thì chuyên lấy ý riêng
Mà quyết đoán mọi việc
Có một hai tờ tấu sơ viện dẫn kinh chuyện
Tạn mát, không thiết thực
Khiến người ta chán không muốn xem
Khình bị cho là vu khoát viện phông
Điều thứ 35
Sách cổ chưa có bản khác
Người học phải tay sao, học thuộc lòng
Nhớ kỹ từng chữ
Đời sau chỉ bằng cứ và bản tin
Lại thảo xem qua không nhớ được chính văn
Cạn không biết được ý vị, thật là đáng tiếc
Điều thứ 36
Văn chừng chuyển lại hay không chuyển lại
Vẫn còn có phần là may dùi
Xem như bài Phú Tây Đô của Ban Cố nói
Đời vũ đế, tuyên đế
Chuộng lễ xét văn
Những bảy tôi trầu gần vua Bế An nói
Như tường như thọ vương
Sớm tối bàn luận ngày đêm dân nộp
Trên nữa là công khanh đại thần
Như đồng trọng thư, tiêu vọng chi
Thỉnh thoảng cũng có làm văn
Đến đời hiến thành, văn được soạn
Mà không được chép lại
Có đến hơn nghìn tờ tấu sơ
Văn chương đời Hán rực rỡ cùng với văn chương đời Tam Đảo ngang hàng
Ấy thịnh như thế
Và chuyển lại đến ngày nay
Chỉ còn thấy chép lại một số
Ở trong văn tuyển bà thôi
Ngoài ra đều là tử hư ô hữu cả
Xép đến một sách đường tống
Không có một bài nào là thể phú của đời Hán cả
Chỉ thấy dẫn ở trong
Văn tuyển chú có một vài bài
Mà không tìm được bài nào là toàn thiên
Lẽ đầu hơn một nghìn bài
Đều không đáng truyền lại cả ưa
Cho nên biết rằng, sở dĩ văn học cổ nhân rạng rỡ
Nghìn năm không thể mai một được
Cũng là nhờ trời cả
Cổ nhân đọc sách không cầu thà
Xem như việc hạ Chi Trương đòi đường
Khi được vua Huyền Tông đòi vào hỏi
Về bài phú ưu cư của Tàu Thực
Vì sao lấy cảnh vật ở tận xa
Ý trò vào đâu
Thì Chi Trương giải thích từng câu
Đến vài trăm điều
Nếu Chi Trương không thuộc kỹ từng thiên
Sao giải thích được như thế
Xem một việc này mới biết rằng
Trong bụng cỗ quẩn xúc đã lâu
Mới trả lời được như thế
Đời tùy đường văn giáo thịnh hành
Nhà nào cũng gầy đàn đọc sách
Nên không người nào là không đọc sách biết chữ
Nhượng ngay như các ti tào
Sử kiện thì biết
Điều thứ ba mươi tám
Ngợ sử đài ký đời đường nói
Bùi Diễm Tri làm đồng châu tư hộ
Không mấy khi làm văn án
Quan thứ sử là Lý Sùng Nghĩa lấy làm lạ
Khi Diễm Tri ra về
Sùng Nghĩa mới hỏi người giúp việc
Có bao nhiêu văn án
Người ấy thưa rằng hơn hai trăm
Sau mỗi bản án để vài tờ giấy trắng
Diễm Tri bảo chủ sự nói qua ý mình
Rồi Diễm Tri dựa cột mà sử đoán
Lời lẽ tung hoành văn chương sáng lạ
Án để lên Sùng Nghĩa chưa cho là lạ
Đến khi xem đến bốn năm mươi bản án
Thì thấy lời lẽ càng tinh
Đó ha chẳng phải là thường dân
Đều viết chữ nghĩa
Nên Diễm Tri đem văn biển lệ
Chứng dẫn ra để đoán ngục
Mà ai xem cũng được phải không
Điều thứ ba mươi chín
Bài tựa sách quốc sử bổ
Của Lý Triệu đời đường nói
Phàm những câu nào nói đến việc báo ứng
Chuyện quỷ thần, thuật mộng bói
Chuyện buồng the thì bỏ đi
Cầu nào chép sự thực, thăm dò vật lý
Biệt biện nghi hoặc
Chỉ bảo khuyên gian thì chép
Âu Dương Tu làm sách quy điển lục
Cũng bắt trước lối ấy
Điều thứ bốn mươi
Trong sách văn giám
Lã Đồng Lai có ghi năm lệ làm văn
Đó là thứ nhất
Chỉ biên chép bỉa văn nào văn lý hay
Thứ hai
Văn thì cũng loàng soàng mà nhiều người cho là hay
Thứ ba
Văn tùy không hay lắm nhưng tác giả có hiền đức
Và danh vọng sợ mai một đi
Cũng chép một vài bài
Thứ tư
Văn tùy không hay mà lý luận thì khá
Thứ năm
Không thấy
Phép tuyển văn như thế cũng đã kỹ càng
Sau tập tuyển túy không sách nào hơn nữa
Điều thứ bốn mươi mốt
San Hồ Thi Thoại nói
Tuyển nhân làm thơ chứ biết họa văn
Đến đời đường bạch lạc thiên
Và nguyên huy chi
Làm quan sát sứ hai tỉnh triết
Qua lại với nhau đặt ra biêu đồng
Cùng nhau sướng họa
Điều thứ bốn mươi hai
Giải Tấn nói
Học thơ trước hết nên trừ bỏ năm điều tục
Rồi tích cực tam lai
Ngũ tục đó là thẻ tục
Ý tục, cú tục, tự tục, vận tục
Tam lai đó là thần lai
Khí lai và tỉnh lai
Điều thứ bốn mươi ba
Sách Liễu Hoa Uyên nhản lục chép
Những người hay làm thơ
Đều hâm mộ thơ đường
Vì thơ đường lấy thanh, sầu, cảm, quán
Làm chủ cho thi cách
Đã đảnh ý nói của thơ nên thanh thiết
Thoát sái và cô mại
Nhưng lại phải biết rằng thanh quá thì phiêu đáng
Cảm sâu quá thì khí suy kém
Điều thứ bốn mươi bốn
Thơ đường sở dĩ nổi tiếng
Là vì đời đường thi cử bằng thơ
Người ta đua nhau cố ý nặn nọt cho khéo
Đến đời tống thi cử bằng phú
Các tiến sĩ không để ý đến thơ
Điều thứ bốn mươi lăm
Là Đại Kinh nói
Làm thơ nên dùng kiện tự làm cột trụ
Và hoạt tự mà đưa đẩy cho linh động
Điều thứ bốn mươi sáu
Cổ nhân bàn về thi pháp rất nhiều
Nhà sư thiết hiệu nhiên đời đường
Đặt cách thức làm thơ như sau
Thơ có tứ bất
Tức là bốn điều không nên
Đó là
Thứ nhất, khí cao nhi bất lộ
Khí cao mà không giận dữ
Thứ hai, lực kính nhi bất lộ
Tức là sức cứng mà không lộ
Thứ ba, tình đa nhi bất ám
Tức là tình nhiều mà không tối tâm
Thứ tư, tài thiệm nhi bất sơ
Tức là tài đầy đủ mà không thô sơ
Thơ lại có tứ thâm
Tức là bốn điều sâu sắc
Đó là
Thứ nhất, khí thế nhân huân
Do thâm ư thể khí
Tức là khí thế nghi ngút
Vì thế thể xấu
Thứ hai, ý độ bàng bạc
Do thâm ư tác dụng
Tức là ý độ rộng rãi
Vì tinh thâm về tác dụng
Thứ ba, dụng bút bất trệ
Do thâm ư thanh đối
Tức là bút viết ra không khó khăn
Vì tinh thâm về thanh âm tương đối
Thứ tư, dụng sự bất trực
Do thâm ư nghĩa loại
Tức là dùng sự kiện
Không quá thẳng
Vì tinh thâm về nghĩa loại
Thơ có nhị phế
Hai điều phải bỏ đó là
Thứ nhất, tuy dục phế xảo thượng trực
Nhi tứ chí bất đắc trực
Tức là
Tuy muốn bỏ khéo chuộng thẳng
Và tứ chí không được trực trần
Bày thẳng không có hình tướng
Thứ hai, tuy dục phế từ thượng ý
Nhi điển lệ bất đắc di
Tức là
Tuy muốn bỏ lời mà chuộng ý
Nhưng không được bỏ điển lệ
Nghĩa là nhã đẹp
Thơ có tứ ly
Tức là
Tuy đạo tỉnh nhi ly tịch thâm
Tuy tả được tỉnh
Nhưng phải xa lìa cái gì quạnh vắng thầm kín
Thứ hai
Tuy dụng kinh sở
Nhi ly thư sinh
Tuy dụng kinh sở nhưng phải xa lìa cái thói thư sinh
Thứ ba
Tuy thượng cao giật
Nhi ly vu viễn
Tuy chuộng cao siêu
Mà phải xa lìa cái viện vông
Thứ tư
Tuy dục phi động
Nhi ly khinh phủ
Tuy muốn bay bướm nhưng phải xa lìa cái khinh bạc
Làm thơ có lục mê
Đó là
Thứ nhất
Dĩ hư đản nhi vi cao cổ
Lấy hư không huyền hoạc làm cao cổ
Thứ hai
Dĩ hoãn mạn nhi vi sung đạp
Lấy chậm chạp làm điểm tĩnh
Thứ ba
Dĩ thác dụng ý nhi vi độc thiện
Lấy dụng ý sai mà làm giỏi riêng của mình
Thứ tư
Dĩ quỷ quái nhi vi tân kỳ
Lấy quỷ quyệt làm quỷ quái
Mà làm mới lạc
Thứ năm
Dĩ lạn thục nhi vi ổn ước
Lấy nát nớt mà làm ổn ước
Thứ sáu
Dĩ khí lực thiểu nhược nhi vi dung dị
Lấy khí lực ít ỏi yếu ớt
Mà làm dễ dàng
Làm thơ có lục trí
Đó là
Thứ nhất
Trí hiểm nhi bất tích
Rất hiểm mà không xa xôi quảnh vắng
Thứ hai
Trí kỳ nhi bất sai
Rất lạ mà không sai lầm
Thứ ba
Trí giản nhi tự nhiên
Rất giản dị mà phải tự nhiên
Thứ tư
Trí khổ nhi vô tích
Rất khắc khổ mà không hình tích
Thứ năm
Trí cận nhi ý viễn
Rất gần mà ý xa
Thứ sáu
Trí phóng nhi bất vu
Rất phóng khoáng mà không vu khoát
Làm thơ có bảy đức
Đó là
Thứ nhất thức lý
Biết lý lẽ của sự vật
Thứ hai cao cổ
Cao siêu cổ kính
Thứ ba điển lệ
Điển nhã mỹ lệ
Thứ tư phong lưu
Phong lưu lịch sự
Thứ năm tinh thần
Có tinh thần
Thứ sáu chất cán
Thứ bảy thể tài
Có thể cách đúng
Nhà sư Thích Phổ Văn Bàn Về Thơ có nói
Luyện chữ không bằng luyện câu
Luyện câu không bằng luyện cách
Thơ trong thiên hạ không ngoài nhị cú
Tức là hai cú pháp
Thứ nhất là ý cú
Cú pháp về ý
Thứ hai cảnh cú
Cú pháp về cảnh
Cảnh cú còn dễ mải rũa
Điều thứ bốn mươi bảy
Tư không đổ nói
Thơ có hai mươi tư phẩm
Thứ nhất hùng hồn
Thứ hai sung rạm
Tức là điểm tính
Thứ ba tiêm nùng
Tức là tinh tế mà nồng nàn
Thứ trư thâm trước đào sâu mà rõ
Thứ năm cao cổ
Cao siêu cổ kính
Thứ sáu điển nhã
Thứ bảy tẩy luyện
Tức là sạch sẽ điêu luyện
Thứ tám kính kiệt
Tức là cứng mạnh
Thứ chín ị lệ
Tức là xinh đẹp
Thứ mười tự nhiên
Thứ mười một hàm xúc
Thứ mười hai hào phóng
Thứ mười ba tinh thần
Thứ mười tư thân mật
Thứ mười lăm sơ nhã
Tức là sơ xài mà nhã nhặt
Thứ mười sáu thanh kỳ
Thứ mười bảy ủy khúc
Thứ mười tám thực cảnh
Tức là thực cảnh cõi
Thứ mười chín bi khái
Xót thương mà cảm khái
Thứ hai mươi hình dung
Thứ hai mốt siêu nghệ
Tức là tuyệt vời
Thứ hai mươi hai phiêu giật
Tức là phấp phới
Thứ hai mươi ba khoáng đáng
Thứ hai mươi tư lưu động
Điều thứ bốn mươi tám
Hứa Ngạn Chu nói
Làm thơ có năm phép
Đó là
Thứ nhất thẻ chế
Thứ hai cách lực
Thứ ba khí tượng
Thứ tư hứng thú
Thứ năm âm tiết
Thơ có chín phẩm
Thứ nhất là cao
Thứ hai là cổ
Thứ ba là thâm
Thứ tư là viễn
Thứ năm là hùng
Thứ sáu là hồn
Thứ bảy là phiêu giật
Thứ tám là bi tráng
Thứ chín là thê huyền
Tức là thê thảm mà dịu dàng
Thơ có ba sự khéo
Thứ nhất là khỏi kết, khỏi đầu và kết thúc
Thứ hai cú pháp
Tức là phép đặt câu
Thứ ba nhãn tự
Tức là chữ tin nguyện làm chủ não trong thơ
Thơ có hai đại khái
Tức là hai phong cách lớn
Đó là thứ nhất ưu du bất bách
Thòng thả không vội
Thứ hai là thống khoái
Tức là thống thiết khoái ý
Thơ có một cực trí hay nhất
Là nhập thần
Tức là vào đến chỗ thần diệu
Học thơ không cần trước đề
Tức là chú ý vào đề quá
Không cần về nhiều sự kiện
Áp vận không cần có xuất xứ
Dùng việc không cần lai lịch
Hạ chữ quý cho kêu
Đặt lời quý cho tròn
Ý quý thấu triệt
Lời quý trôi chảy
Nói kỵ thẳng ý, kỵ nông
Mạch, kỵ lộ
Thi vị, kỵ ngắn
Âm vận, kỵ tán hoãn và bách súc
Từ khí, tức lời thơ lên bỏng xuống chầm
Không nên trái ngược
Bàn về thơ đến như thế
Không còn sót gì nữa
Nhưng lại thử bàn lại
Thơ phát khởi từ trong lòng người ta
300 bài thơ trong kinh thi
Phần nhiều là của nông dân, phụ nữ làm ra
Mà cũng có những bài mà văn sĩ đời sau
Không theo kịp được
Như thế là vì nó chân thật
Những bài ca, bài hành
Của nhạc phủ đời Hán, đời Nguy
Còn có ý vị đời cổ
Từ đấy về sau bỏ buộc về thanh luật
Hạn chế về âm vận
Người có tài còn lo vấp váp
Người vô tài khổ về câu nẹ
Mà lời thơ ở tự trong tâm phát ra không được thực
Cho nên ta thường cho làm bài thơ
Có ba điểm chính
Một là tinh, hai là cảnh, ba là sự
Thiên lãi, tức tiếng sáo thiên nhiên
Kêu ở trong lòng
Động vào máy tình
Nhãn căn, tức là con mắt
Tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý
Tựa cổ trứng kim
Chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần
Tuy thật ra không phải chỉ có một mối
Nhưng đại khái không ngoài ba điều ấy
Trong ba điều cốt yếu ấy
Lại nên lấy ôn nhu đôn hậu làm gốc
Còn như thể thế
Chỉ thú, âm tiết, cách điệu
Đều là bản thêm thôi
Tình là người, cảnh là trời
Sự là hợp cả trời đất mà quán thông
Lấy tình tham cảnh
Lấy cảnh hội việc, gặp việc thì phát ra lời nói
Nhân nói thảnh tiếng
Cảnh không hẹn đến mà tự đến
Nói không mong hay mà tự hay
Cứ như thế có thể lên đến bậc thơ tao nhã được
Những lời bàn của tiên hiển
Cũng không ngoài điều ấy
Trong bài Thí bút
Âu Dương Tu có nói
Làm thơ nên đọc nhiều thơ của người đời xưa và đời nay
Lối văn khác cũng thế
Cho nên các bậc tiền mối nước ta thường nói
Thì Thiên Phú Bách
Văn sách 50
Tức là thuộc kỹ nghìn bài thơ
Trăm bài phú
Và 50 bài văn sách
Có thể quyết khoa được
