Lý Do Nhiều Khách Quốc Tế Thích Nón Lá Việt Nam

TÔI YÊU BÌNH DƯƠNG
1.4K Người theo dõi
Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao một chiếc nón lá đơn giản làm từ lá cây lại khiến hàng triệu du khách nước ngoài mê mẩn đến vậy không?
Chiếc nón không có logo thương hiệu, không có công nghệ gì đặc biệt, vậy mà cứ ai đặt chân đến Việt Nam đều thấy thích thú và có thể sẽ mua một cái mang về.
Hôm nay chúng ta sẽ cùng khám phá hành trình kỳ lạ của chiếc nón lá Việt Nam từ những bản làng ven sông đến tay du khách khắp Nam Châu
và vì sao nó lại trở thành một trong những biểu tượng văn hóa được nhận diện nhiều nhất ở Đông Nam Á.
Nón lá Việt Nam không phải là thứ mới xuất hiện gần đây.
Các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng hình ảnh nón lá đã được khắc trên trống đông Đông Sơn, tức là chiếc nón này đã tồn tại ít nhất 2.000 năm trên đất Việt.
Nguyên liệu làm nón nghe rất bình dân, đó là lá cọ phơi khô, khung tre và chỉ cước, không xi măng, không kim loại, không gì cả.
Vậy mà, người thợ lành nghề có thể tạo ra một chiếc nón cân đối, chịu nắng chịu mưa, nhẹ tanh trên đầu mà không gây nhức cổ ru đội cả buổi đông.
Điều khiến nón lá khác biệt hoàn toàn với mũ nón ở các nước khác chính là phần hồn bên trong.
Ở Huế, người thợ còn làm ra loại nón bài thơ nổi tiếng, khi soi lên ánh mặt trời thì thể hiện ra những câu thơ và hình ảnh được ép tinh tế bên trong hai lớp lá.
Một chiếc nón mà cũng là một tác phẩm nghệ thuật, ai mà không mê cho được.
Trên một diễn đàn du lịch quốc tế, anh Marcus, một nhiếp ảnh gia người Đức, đã từng đi qua 17 quốc gia ở châu Á,
chia sẻ rằng khi đứng ở chợ Bến Thành TP.HCM lần đầu tiên, thứ đầu tiên anh muốn chụp không phải là tòa nhà hay món ăn,
mà chính là những chiếc nón lá trắng xóa di chuyển như những con thuyền nhỏ giữa dòng người.
Anh Marcus viết nguyên văn trên trang cá nhân.
Chiếc nón lá là thứ duy nhất tôi mang về, mà gia đình hỏi nhiều nhất, hỏi mua ở đâu, bao nhiêu tiền, có mua thêm không?
Không chỉ riêng anh Marcus, chị Yuki, một du khách Nhật Bản đến Hội An trong chuyến du lịch tuần trăng mật hồi đầu năm 2025,
kể lại trên trang mạng xã hội của mình rằng, chị đã dừng lại gần 30 phút chỉ để nhìn một bà cụ ngồi chằm nón bên hiên nhà.
Chị nói rằng, đó là khoảnh khắc bình yên nhất trong toàn bộ chuyến đi.
Ở Nhật Bản cũng có bũ truyền thống, ở Trung Quốc cũng có nón lá dạng tương tự gọi là đầu lạp,
nhưng nón lá Việt Nam vẫn có nét riêng biệt về hình dáng và cách dùng.
Nón lá Việt mỏng hơn, nhẹ hơn, và thường gắn với hình ảnh người phụ nữ Việt trong tà áo dài,
tạo thành một tổng thể thẩm mỹ khó lẫn với bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Để hiểu tại sao nón lá Việt Nam lại có hồn đến vậy, chúng ta phải ghé thăm những làng nghề đang giữ lửa truyền thống này.
Làng Chuông ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, là một trong những cái nôi làm nón lớn nhất miền Bắc.
Người dân ở đây làm nón từ đời này sang đời khác.
Có những gia đình 3-4 thế hệ cùng ngồi chằm nón dưới một mái nhà.
Một chiếc nón đẹp đòi hỏi khoảng 16-18 vòng khung tre.
Lá cọ phải phơi đúng nắng, không được quá khô cũng không được còn ấm.
Ở miền Trung thì nổi tiếng nhất là làng nón phù cam tại thành phố Huế.
Chính tại đây, loại nón bài thơ độc đáo được sinh ra.
Người thợ ở phù cam xếp hình và thơ vào giữa 2 lớp lá trước khi khâu lại,
tạo ra những chiếc nón mà bạn chỉ có thể thưởng thức chọn vẹn khi đứng dưới ánh nắng.
Chị Lan, một người thợ làm nón tại Huế, đã có hơn 30 năm trong nghề,
chia sẻ với một tờ báo điện tử trong nước rằng mỗi ngày chị Lan được khoảng 2-3 chiếc nón.
Nghe có vẻ ít, nhưng khi bạn nhìn tận tay người thợ ngồi luôn từng mũi kim qua từng chiếc lá mỏng manh,
bạn sẽ hiểu tại sao mỗi chiếc nón lại là một công trình nhỏ của sự kiên nhẫn.
Phần thú vị nhất là đây.
Nón lá Việt Nam giờ không chỉ nằm yên trong túi hành lý du khách nữa,
nó đang được đưa lên sân khấu thời trang quốc tế theo những cách mà ông bà chúng ta chắc chắn không bao giờ nghĩ tới.
Năm 2023, một số nhà thiết kế thời trang tại Pháp và Ý đã sử dụng hình dạng nón lá
làm cảm hứng cho bộ sưu tập phụ kiện mùa hè.
Không phải họ sao chép, mà họ thừa nhận rằng đường cong của nón lá Việt có tỷ lệ thẩm mỹ rất tốt,
cân đối và thanh thoát theo cách mà ít sản phẩm thủ công nào trên thế giới đạt được.
Trên nền tảng mạng xã hội quốc tế, những video quay cảnh phụ nữ Việt Nam đội nón lá dữ dụng lúa
hay trên những con đường dập móng cây ở Hội An thường xuyên đặt hàng chục triệu lượt xem.
Anh Derek, một người làm nội dung số đến từ Canada, nói trên kênh của mình rằng
anh đã quay hàng trăm video ở nhiều quốc gia.
Nhưng clip người phụ nữ Việt gánh hàng với chiếc nón lá trên đầu
vẫn là video có nhiều bình luận cảm xúc nhất từ khán giả quốc tế.
Đặc biệt hơn, nón lá còn xuất hiện trong các buổi biểu diễn nghệ thuật lớn.
Nhóm Múa Đương Đại Việt Nam từng mang tiết mục kết hợp nón lá vào các liên hoan nghệ thuật ở châu Âu
và nhận phản hồi rất tích cực.
Chiếc nón được dùng như một đạo cụ linh hoạt.
Khi thì làm cánh bướm, khi thì làm mặt nước, khi thì làm vầng trăng,
cả khán phòng người châu Âu đều kinh ngạc.
Nói đến đây chắc nhiều người sẽ hỏi
Các nước khác cũng có nón lá kiểu tương tự, vậy nón Việt Nam có gì đặc biệt hơn không?
Câu trả lời là có, và khá nhiều điểm khác biệt thú vị.
Nón lá Trung Quốc, hay còn gọi là đầu lạp, thường có đáy phẳng hơn, rộng hơn
và thường thấy trong các bức tranh vẽ nông dân hoặc ngư dân.
Nón lá Thái Lan và một số nước Đông Nam Á cũng tồn tại
nhưng không trở thành biểu tượng văn hóa nổi mật như ở Việt Nam.
Nón lá Nhật Bản kiểu Sugasa thường thấy trong các lễ hội truyền thống
nhưng ít người dùng hàng ngày.
Điều làm nón lá Việt Nam trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở hình dáng hay chất liệu,
nó nằm ở mối liên kết cảm xúc.
Chiếc nón gắn với hình ảnh người mẹ, người chị, người nông dân Việt Nam qua bao thế hệ.
Nó không chỉ che nắng che mưa, nó còn là thứ người ta quạt gió cho nhau khi trời nắng,
là thứ người ta úp mặt vào khi ngượng, là thứ người mẹ đội ra đồng từ sáng tinh mơ.
Chị Sophia, một nhà nghiên cứu văn hóa người Brazil,
đang làm luận án về biểu tượng văn hóa Đông Nam Á.
Nhận xét trong một bài phỏng vấn với Báo Điện Tử
rằng nón lá Việt Nam là một trong số rất ít đồ vật truyền thống trên thế giới
vừa mang chức năng thực dụng, vừa mang tính nghệ thuật, vừa gắn chặt với bản sắc dân tộc
theo cách tự nhiên không gượng gạo.
Nhiều người lo rằng nón lá sẽ dần biến mất trong thời đại công nghiệp hóa.
Điều đó không phải không có căn cứ.
Ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội,
mũ lưỡi chai, mũ bảo hiểm hay ô rù là thứ chủ đạo trong sinh hoạt hàng ngày.
Tuy nhiên, có một luồng gió ngược đang nổi lên rất mạnh từ phía cộng đồng sáng tạo.
Nhiều nhà thiết kế trẻ Việt Nam đang tai diễn giải nón lá theo phong cách hiện đại.
Họ vẽ lên nón, làm nón từ vật liệu tái chế, kết hợp nón với trang phục đường phố
hay thậm chí làm nón phát sáng trong đêm cho các sự kiện nghệ thuật.
Nhà nước cũng không đứng ngoài cuộc.
Nón lá Huế đã được đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
và việc bảo tồn các làng nghề làm nón được đưa vào các chương trình hỗ trợ
kinh tế địa phương trong giai đoạn từ năm 2020 đến nay.
Đây là tín hiệu rõ ràng rằng nhà nước hiểu được giá trị không chỉ về văn hóa,
mà còn về kinh tế du lịch mà chiếc nón lá mang lại.
Anh Minh Tuấn, một người trẻ quê Huế, đang bàn nón lá online trên các nền tảng thương mại điện tử,
cho biết đơn hàng xuất đi nước ngoài của Anh tăng gần gấp đôi trong năm 2024 so với năm 2022.
Khách mua nhiều nhất là người Mỹ, người Úc và người Hàn Quốc.
Họ mua vừa để trang trí nhà, vừa để làm quà tặng có ý nghĩa.
Nếu phải giải thích bằng một câu, thì có lẽ là thế này.
Trong một thế giới ngày càng nhiều thứ na ná nhau, làm bằng nhựa, xuất xứ không rõ ràng,
chiếc nón lá Việt Nam lại là thứ mà bạn cầm lên và biết ngay nó đến từ đâu,
ai làm ra nó và cần bao nhiêu công sức để nó thành hình.
Đó là thứ mà không nhà máy nào nhân bản được hoàn toàn và không thuật toán nào thiết kế được.
Đó chính là lý do tại sao một chiếc nón lá giá chỉ vài chục nghìn đồng ở chợ quê
lại có thể được bày trong các cửa hàng thiết kế ở Paris với mức giá gấp nhiều lần.
Câu chuyện của nón lá Việt Nam thực ra là câu chuyện của rất nhiều thứ khác ở đất nước này.
Những giá trị tưởng chứng bình thường, giản dị, thậm chí bị xem là lạc hậu
lại chính là thứ cả thế giới đang tìm kiếm trong thời đại này.
Lần tới khi bạn thấy một chiếc nón lá, dù là ở đầu người bán hàng rong ngoài chợ
hay trong tay một du khách nước ngoài đang cười tué tué chụp ảnh,
thì bạn đã biết đó không chỉ là một chiếc mũ.
Đó là 2.000 năm lịch sử, là đôi tay của người thợ làng Chuông hay làng Phú Cam,
là bài thơ ẩn dấu dưới ánh nắng, là thứ kết nối người Việt với nhau
và kết nối Việt Nam với cả thế giới.
Nếu bạn thấy video này thú vị, hãy nhấn thích và đăng ký kênh
để không bỏ lỡ những câu chuyện khám phá văn hóa Việt Nam tiếp theo.
Bình luận bên dưới cho mình biết bạn đã từng đội nón lá chưa và cảm giác thế nào nhé.
Hẹn gặp lại ở video tiếp theo.
