Ngày 3/5/2026, tại Vladivostok – hay còn được biết đến với tên gọi lịch sử Hải Sâm Uy – một sự kiện tưởng như mang tính nghi lễ đã thu hút sự chú ý đặc biệt. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm “Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”, hơn 1.500 học sinh lớp một, bao gồm cả các em đến từ Trung Quốc và Lào, đã cùng tham gia diễu hành tại vùng Primorsky Krai.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô hay tính quốc tế của sự kiện, mà ở thông điệp được đưa ra. Thống đốc vùng, Oleg Kozhemyako, nhấn mạnh rằng các em nhỏ quốc tế “sánh vai” cùng học sinh Nga mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc – như một sự tiếp nối của quá khứ lịch sử hướng tới tương lai.
Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh lịch sử khu vực, Vladivostok không chỉ là một địa danh. Đây từng là vùng đất gắn với nhiều tranh chấp chủ quyền trong quá khứ, đặc biệt trong nhận thức lịch sử của Trung Quốc. Chính vì vậy, điều gây chú ý hơn cả không phải là sự kiện, mà là phản ứng gần như im lặng từ phía ĐCSTQ.
Sự im lặng này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu đây đơn thuần là lựa chọn ngoại giao, hay phản ánh một logic sâu xa hơn trong cách Bắc Kinh xử lý những vấn đề lịch sử nhạy cảm?
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Ngày 3 tháng 5 năm 2026 tại Vladivostok hay còn được biết đến với tên gọi lịch sử Hải Sâm Uy,
một sự kiện tưởng như mang tính nghi lễ đã thu hút sự chú ý đặc biệt.
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày chiến thắng trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại,
hơn 1.500 học sinh lớp 1 bao gồm cả các em đến từ Trung Quốc và Lào đã cùng tham gia diễu hành tại vùng Primorsky Krai.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô hay tính quốc tế của sự kiện mà ở thông điệp được đưa ra,
Thống đốc vùng Oleg Kozhenyakov nhấn mạnh rằng các em nhỏ quốc tế sánh vai cùng học sinh Nga
mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc như một sự tiếp nối của quá khứ lịch sử hướng tới tương lai.
Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh lịch sử khu vực, Vladivostok không chỉ là một địa danh,
đây từng là vùng đất gắn với nhiều chênh chấp chủ quyền trong quá khứ, đặc biệt trong nhận thức lịch sử của Trung Quốc.
Chính vì vậy, điều gây chú ý hơn cả không phải là sự kiện mà làm phản ứng gần như im lặng từ phía Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sự im lặng này đặt ra một câu hỏi lớn, liệu đây đơn thuần là lựa chọn ngoại giao
hay phản ánh một logic sâu xa hơn trong cách Bắc Kinh xử lý những vấn đề lịch sử nhạy cảm?
Những vách đá gồ ghê ôm lấy làn nước lạnh giá, đáy biển rực rỡ hải sâm đỏ Âu và những khu
rừng nguyên sinh thì thầm câu chuyện ngàn năm. Người xưa gọi nơi ấy là Hải Sâm Uy, một vịnh đầy hải sâm.
Nó không phải một mảnh đất hoang vu, mà là cửa ngõ sống còn của Đông Bắc Trung Hoa,
nơi sông Hắc Long Giang và Âu Tô Lý đổ ra biển nơi gió Bắc thổi qua,
mang theo hơi thở của cả một nền văn minh. Từ thời cổ đại, Hải Sâm Uy đã thuộc về Tổ tiên
người Hoa, sách sử ghi nhận từ thời Túc Thận những bộ tộc xăm bắn anh Dũng từng chiều Cống chiều Chu.
Đến chiều Bột Hải thế kỷ 8-10, đây là vùng đất phồn thịnh với những thành quách kiên cố và thường
càng sầm út. Rồi Liêu, Kiêm, Nguyên, Minh lần lượt kế thừa biến Hải Sâm Uy thành váo đài
bảo vệ biên cương phía Đông. Đến Nhà Thanh, nơi này chính thức trở thành lãnh thổ thiêng liêng
của chiều đại Mãn Châu. Năm 1689, chính hiệp ước Nechink đã vạch rõ Hải Sâm Uy thuộc
Nhà Thanh. Hàng trăm năm nó là huyết mạch thương mại, là cửa sổ nhìn ra Thái Bình Dương,
là nơi các thương nhân Trung Hoa bôn bán hải sâm, lông thú và gỗ quý mang về của cải cho
kinh đô Bắc Kinh xa xôi. Nhưng lịch sử không bao giờ yên bình.
Giữa thế kỷ 19, khi Nhà Thanh suy yếu về chiến tranh Nha Phiến, đế quốc Nga xa hoàng đã lao
tới như một con sói đói. Năm 1858, dưới họng súng của hạm đội Nga,
Chiều Thanh buộc phải ký hiệp ước Ai Khôn, hay còn gọi là Ai Hồn. Toàn bộ vùng đất phía
bắc sông Hắc Long Giang, hơn 600.000 km2 rơi vào tay Nga. Chỉ hai năm sau,
năm 1860, trong hiệp ước Bắc Kinh, Nga lại cướp thêm toàn bộ vùng Primorye,
phía đông sông Âu Tô Lý, bao gồm Hải Sâm Uy. Tổng cộng Trung Quốc mất hơn 1 triệu km2,
một vùng lãnh thổ rụng lớn tương đương ba tỉnh Đông Bắc ngày nay,
cộng với hàng chục lần diện tích Đài Loan. Một cuộc sốc kinh hoàng, cả một mảnh đất tổ tiên,
cả một cờ ngõ ra biển, bị xóa rổ chỉ trong hai chữ ký dưới họng súng.
Nga không xấu xiếm tham vọng, ngay khi cắm cờ họ đổi tên Hải Sâm Uy thành Vladivostok,
người thống trị phương Đông. Cái tên ấy không chỉ là lời tuyên bố chủ quyền,
mà là lời thách thức công khai, từ nay phương Đông thuộc về Nga.
Thành phố được xây dựng thành căn cứ hải quân hùng mạnh của hạm đội Thái Bình Dương,
còn người Hoa họ bị đuổi khỏi mảnh đất tổ tiên mình đã canh tác hàng trăm năm.
Thế nhưng, nỗi nhục ấy không dừng lại ở nhà Thanh. Chính quyền dân quốc dưới thời
tưởng giới thạch kiên quyết không công nhận hai hiệp ước bất bình đảng này.
Năm 1945, tưởng giới thạch từng đòi Stalin trả lại Hải Sâm Uy trong đàm phán, nhưng vô vọng.
Đến thời mau chạy đông và đặng tiểu bình, đảng Cộng sản Trung Quốc chọn cách gác tranh chấp lại,
ưu tiên hữu nghị với Liên Xô và Nga. Trong khi đó, Nga từ xa hoàng đến Soviet đến Liên bang Nga
luôn coi Vladivostok là lãnh thổ thiêng liêng của họ, không bao giờ bàn giao.
Câu chuyện của Hải Sâm Uy không chỉ là lịch sử lãnh thổ, đó là câu chuyện về một vùng đất bị cướp đoạt,
một cái tên bị thay đổi và một nỗi nhục mà bao thế hệ người Hoa vẫn âm thầm khi nhớ.
Từ đất thuộc về Trung Hoa đến Vladivostok, người thống trị phương đông,
chỉ cách nhau hai hiệp ước bất bình đảng.
Và hôm nay, khi những đứa trẻ Trung Quốc diễu hành trên chính mảnh đất ấy,
lịch sử lại một lần nữa thỉ thầm, ai mới là người thật sự là kẻ thống trị.
Giang Trạch Dân đã bán đất một triệu km vương đất tổ tiên để làm đẹp lý lịch
Một buổi chiều tháng 12 năm 1999, tại Bắc Kinh dưới ánh đèn chói lọi trong phòng họp trọng thể,
Giang Trạch Dân, người vừa nắm quyền tối cao trong đảng Cộng sản Trung Quốc,
đứng bên cạnh Tổng thống Nga Boris Johnson, hai bên bắt tay miểm cười trước ống kính truyền thông.
Không ai trong phòng biết rằng chỉ trong vài chữ ký,
hơn một triệu km vương đất đai tổ tiên đã chính thức bị bán đất.
Đó không phải là một thỏa thuận biên giới thông thường, đó là nghị định thư về hai đoạn Đông Tây
dưới tuyến Trung Nga, văn kiện lịch sử mà sau này nhiều người Hoa gọi là hiệp định bán nước thế kỷ.
Tại sao Giang Trạch Dân lại vội vã làm điều này? Động cơ sâu xa nằm ở chính lý lịch của ông.
Sinh ra và lớn lên dưới thời Nhật Bản chiếm đóng, Giang Trạch Dân từng có quan hệ mật thiết với tình báo
Nhật Bản. Cha nuôi ông, một nhân vật từng hợp tác với quân Nhật, đã để lại dấu ấn không thể xóa nhà.
Sau năm 1949, Giang Trạch Dân lại được đưa sang liên xô học tập tại nhà máy Otto Stalin,
nơi theo các tài liệu lịch sử, ông ta đã bị KGB triều mộ. Là một đọc vụ Nhật và liên xô trong hồ
sơ mật, Giang hiểu rõ, để che dấu quá khứ ấy, ông ta cần một món quà lớn dâng lên Moscow.
Bằng cách chính thức thừa nhận toàn bộ các hiệp ước bất bình đẳng thời Nhà Thanh,
Hiệp ước Ái Hồn năm 1858 và Hiệp ước Bắc Kinh năm 1860, Giang Trạch Dân đã dâng cho Nga
tất cả những gì xa hoàng từng cướp đoạt. Ông không chỉ gác tranh chấp như Mao Trạch Đông hay Đảng
Tiểu Bình, mà còn khóa chặt biên giới, biến những vùng đất từng thuộc với Trung Hoa thành lãnh thổ Nga
vĩnh viễn. Hậu quả cụ thể là một thảm họa lãnh thổ không thể cứu vãn. Hơn một triệu km vuông,
diện tích tương đương ba tỉnh Đông Bắc, cộng thêm hàng chục vùng đất như Đài Loan,
bị xác nhận thuộc về Nga. Nhưng đau đớn hơn cả là việc mất hoàn toàn cửa sông Hút Đồ Môn
Giang ra biển Nhật Bản. Con sông này từng là huyết mạch duy nhất đối Đông Bắc Trung Quốc với Thái
Bình Dương. Sau Hiệp định năm 1999, cửa sông bị khóa chặt bởi lãnh thổ Nga và Triều Tiên.
Đông Bắc, vùng công nghiệp nặng quan trọng nhất của Trung Quốc, bị khóa chặt như một nhà tù khổng lồ.
Không tàu bè lớn nào của Trung Quốc có thể tự so ra biển mà không xin phép Nga. Cả một vùng đất rộng
lớn, giàu tài nguyên, giờ đây chỉ còn là hậu phương bị cô lập. Điều nhục nhã nhất là sự che dấu.
Toàn bộ nội dung Hiệp định không được công bố rộng rãi cho nhân dân Trung Quốc. Truyền thông nhà nước
im bặt các trường học không dạy về những sự kiện lịch sử này. Bản đồ chính thức vẽ lại viên xới một cách
ngò hồ. Đảng Cộng sản Trung Quốc biến một quyết định bán nước thành tựu ngoại giao vĩ đại,
và người dân vẫn bị nhồi nhét rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn luôn bảo vệ lợi ích dân tộc.
Nhưng ngay cả Đảng Tổ Bình, người từng được coi là kiến trúc sư của cái cách,
cũng không thể che dấu sự thật này. Vào năm 1989, trong cuộc gặp lịch sử với Gopachev,
Đảng Tổ Bình đã thẳng thắn nói, thiệt hại lớn nhất là Nhật Bản, nhưng được lợi nhiều nhất là
Xã Hoàng Nga. Câu nói ấy như một lời thú nhận một màng. Ngay cả vị lãnh tụ được ca ngợi là
hạt nhân cải cách cũng thừa nhận rằng Nga mới là bên hưởng lợi lớn nhất từ những hiệp ước mất
bền đẳng. Xã Hoàng Nga không chỉ cấp đất, mà còn nhận được sự công nhận vĩnh viễn từ chính hậu
ruệ của những người từng bị mất đất. Giang Trịt Dân chỉ làm điều mà Đảng Tổ Bình đã ngầm thừa nhận,
đây là món hời lớn nhất của Nga trong lịch sử hiện đại. Từ Hải sâm uy năm 1860 đến Hiệp định năm
1999, lịch sử lặp lại theo cách mất mặt nhất. Không phải kẻ thù bên ngoài cấp đất mà chính những
người tự xưng là lãnh tụ dân tộc lại tự tay trao đi mảnh giang sơn. Và hôm nay khi những đứa trẻ
Trung Quốc diễu hành trên đất Vladivostok, chúng không biết rằng qua bàn tay Giang Trịt Dân,
mảnh đất xương máu của cha ông đã không còn thuộc về chúng nữa.
Đại Thanh Trừng năm 1937 đến 1938, máu của người Hoa ở Hải sâm uy.
Vào một đêm đông giá bút năm 1937 trên những con phố đá cội của Hải sâm uy,
lúc ấy đã mang tên Vladivostok, tiếng giày đinh của bàn nhân dân nội vụ Liên Xô vang lên rồn rập.
Những người Hoa từ thương nhân, thợ mỏ đến lao động khổ sai ven biển bị lôi ra khỏi nhà trong
tiếng khóc than của vợ con. Không phiên tòa, không luật pháp, chỉ có một lệnh miệng từ Moscow,
Thanh Trừng. Đó là chương đen tối nhất trong lịch sử người Hoa trên mảnh đất tổ tiên mình từng
sở hữu. Stalin đang lao vào cơn cùng loạn Đại Thanh Trừng, coi Hoa Kiều là mối nguy hiểm
xã hội và gián điệp Nhật. Lúc bấy giờ quân Nhật đã chiếm Đông Bắc Trung Quốc và Stalin lo sợ
họ sẽ dùng người Hoa làm nội gián. Chỉ trong vòng 1937-1938, hơn 10 vạn Hoa Kiều bị bắt giữ,
thêm hơn 20 vạn lao động Trung Quốc, những người từng đổ mồ hôi xây dựng đường sắt,
khai thác mỏ, đánh bắt Hải sâm trên chính vùng đất này, cũng xa lưới. Tội danh duy nhất mà họ
phải chịu là mang dòng máu Trung Hoa. Hàng chục nghìn người bị bắn ngay tại chỗ hoặc chết dần chết
mòn trong các trại tập trung Gulag lạnh giá. Thi thể họ bị ném xuống những hố chôn tập thể
phen rừng hoặc dọc bờ sông Hạc Long Giang. Máu người Hoa thấm sâu vào đất Vladivostok,
chính mảnh đất mà tổ tiên họ đã cày cấy hàng trăm năm.
Gần bảy thập kỷ sau sự thật mới dần hé lộ, năm 2009-2010, trong các đợt khai quật, khảo cổ
và xây dựng ở vùng Primorye, người ta phát hiện hàng vạn bộ sơn người. Đặc biệt, năm 2010,
tại một khu vực gần Vladivostok, cơ quan chức năng Nga xác nhận 480 thi thể bị bắn hàng loạt.
Khám nghiệm cho thấy họ là người Trung Quốc, nạn nhân trực tiếp của Đại Thanh Trường.
Những chiếc cúc áo, đồng hồ, bàn cờ và mảnh báo chí Trung Hoa vẫn còn xót lại trong lòng đất,
những vật chứng thầm lặng kể lại câu chuyện bi thảm. Chính quyền Nga thừa nhận đây là si
hại của những người Hoa bị Stalin giết hại chỉ vì lý lịch dân tộc.
Ý nghĩa biểu tượng của nỗi đau ấy thật sự thê thảm. Người Hoa không phải bị giết trên đất Nhật
Bản hay đất Mỹ, họ bị giết ngay trên mảnh đất Tổ Tiên, Hải Dâm Uy, nơi mà chỉ 77 năm trước
đó vẫn còn là lãnh thổ Nhà Thanh. Họ bị bắn, bị trôn vùi dưới chân những tòa nhà Nga,
dưới những con đường mà ngày nay mang tên Vladimir Lenin hay Khakmak. Máu họ hòa vào đất,
xương họ tan vào cát, mà không một lời xin lỗi chính thức từ Moscow. Và càng đau đớn hơn,
Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhà cầm quyền Bắc Kinh, thế lực lớn tiếng tuyên bố đại diện cho dân tộc Trung
Hoa lại chọn cách im lặng. Hiện nay khi hơn 1.500 đứa trẻ Trung Quốc diễu hành chân chính những con
phố ấy để kỷ niệm chiến thắng, chúng vô tình giẫm lên lớp đất vẫn còn vương mùi máu của ông cha mình.
Lịch sử không chỉ bị trôn vùi, nó còn bị Đảng Cộng sản Trung Quốc cố tình xóa nhà. Máu của người
Hoa ở Hải Sâm Uy không chỉ là vết thương của quá khứ, đó là bằng chứng sống động cho thấy kẻ thù
thật sự của dân tộc Trung Hoa không phải ở bên ngoài, mà chính là sự phản bội từ bên trong.
Ba bộ mặt của Đảng Cộng sản Trung Quốc
Từ lớp đất Hải Sâm Uy vẫn còn vương mùi máu của hơn 30 vạn người Hoa bị giết hại,
chúng ta thấy rõ hơn bao giờ hết ba bộ mặt của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Những gì diễn ra không
phải là chính sách ngẫu nhiên, mà là một hệ thống tiêu chuẩn kép được tính toán lạnh lùng,
phục vụ mục tiêu duy nhất duy trì quyền lực của Đảng, dù phải hy sinh danh sự dân tộc.
Với Nhật Bản, Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bao giờ mệt mỏi trong việc khơi dậy hận thù,
không được quên lịch sử, không tha thứ tội ác xâm lược. Câu khẩu hiệu ấy được khắc sâu vào
giáo trình từ mẫu giáo đến đại học. Phim ảnh, bảo tàng, lễ kỷ niệm, biểu tình đường phố,
tất cả đều được huy động tối đa. Mỗi khi có tranh chấp nhỏ trên biển Hoa Đông hay thăm
biển Yashikuni, hàng triệu người Hoa lập tức được kích động xuống đường đập phá, tẩy chay hàng
nhật. Đảng Cộng sản Trung Quốc biến nỗi đau lịch sử thành vũ khí chính trị sắc bén,
vừa khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, vừa chuyển hướng bất mãn của dân chúng ra bên ngoài.
Nhật Bản là kẻ thù vĩnh viễn, đó là chân lý được dạy như một tôn giáo. Nhưng chính họ lại hoàn
toàn câm nến trước Nga và Liên Xô cũ. Hơn 1.500 đứa trẻ Trung Quốc diễu hành trên đất
Vladivostok ngày 3 tháng 5 năm 2026, không một lời phản đối, không một phát ngôn của Bộ Ngoại giao,
không một bài xã luận trên Nhân dân Nhật Báo, thậm chí truyền thông nhà nước còn im lặng đến
mức đáng sợ như thể sự kiện ấy chưa từng xảy ra. Nạn nhân đại thanh trường, hơn 30.000 người Hoa
bị bắn và trôn sống trên chính mảnh đất Tổ tiên cũng không hề được nhắc đến. Không đòi công lý,
không đòi bồi thường, không đòi trả lại đi hải cốt, tất cả bị trôn vùi cùng với lớp đất hải
sâm uy. Hãy quay lại sự kiện cải cách dụng đất xếp hại hàng triệu địa chủ, đại nhảy vọt gây
ra nạn đói lớn nhất lịch sử nhân loại, đại cách mạng văn hóa tàn sát trí thức và đồng bào,
sự kiện lục tứ, thảm sát sinh viên, hay cuộc đàn áp đậm máu các học viên Pháp Luân Công.
Tất cả những tội ác ấy đều bị xóa sạch trong sách giáo khoa, bị cấm nhắc trên Internet,
bị gọi là sai lầm lịch sử, mồ hồ, hoặc hoàn toàn bị xóa tên, thậm chí những tàn dư của bộ
máy vẫn còn đang tiếp tục hành ác. Chủ nghĩa dân tộc đã được lợi dụng như một lớp sơn dày
để che đậy bản chất hành vi bán nước và phản bội dân tộc. Họ hô hào phục hương dân tộc Trung
Hoa vĩ đại, trong khi chính tay họ đã ghi giấy nhượng 1 triệu km vuông đất tổ tiên cho Nga năm 1999.
Vậy lý do sâu xa của sự im lặng này là gì? Trước hết là sự vạch áo cho nhau xem lưng.
Nếu hôm nay đảng lên án Stalin thành trưởng Hoa Kiều, ngày mai người dân sẽ tự nhiên liên hệ với
Mao Trạch Đông, người chịu trách nhiệm cho sinh mạng của hàng chục triệu đồng bào trong các chiến
dịch chính trị. Hai hệ thống cộng sản của Liên Xô và Trung Quốc đều dựa trên bạo lực và thanh
trường. Vì vậy nếu đảng Cộng sản Trung Quốc phơi bầy tội ác của Stalin, cũng chính là tự tay mở cửa
địa ngục của chính mình. Thứ hai, đảng Cộng sản Trung Quốc sợ người dân Trung Quốc thức tỉnh.
Khi dân chúng biết rằng đảng luôn bảo vệ lợi ích dân tộc, chỉ là lời dối trá, họ sẽ đặt câu hỏi,
tại sao một đảng bán đất, giết người, che dấu lịch sử lại xứng đáng lãnh đạo đất nước?
Với đảng Cộng sản Trung Quốc, lợi ích của họ vẫn quan trọng hơn chủ quyền dân tộc. Nga là đồng
trí trong cuộc đối đầu với Hoa Kỳ, nên đảng Cộng sản Trung Quốc phải nút nhục để sử hữu nghị vô hạn.
Ngay từ thập niên năm 1950, khi hữu nghị Trung-xô đang được ca ngợi rầm rộ, một số sinh viên trưởng
học Nhân dân Trung Quốc đã dám lên tiếng chất vấn. Họ thắc mắc tại sao đảng Cộng sản Trung Quốc lại
im lặng trước những vùng đất bị mất, tại sao lại cúi đầu trước người anh cà Liên Xô trong khi lịch sử
dân tộc vẫn còn những vết thương chưa lành? Tiếng nói ấy nhanh chóng bị dập cắt trong phong trào
chống hữu phái. Những sinh viên dũng cảm bị quy là phản động, bị đưa đi lao động cải tạo. Nhưng
tiếng nói của họ vẫn làm minh chấn rằng, ngay từ những năm tháng đầu tiên của chế độ, đã có người nhận
ra đảng Cộng sản Trung Quốc không đại diện cho dân tộc, mà chỉ đại diện cho quyền lực của chính nó.
Sự kiện diễu hành trẻ em Trung Quốc trên đất hải sâm uy hôm nay chính là đỉnh điểm của ba tiêu
chuẩn kép ấy. Đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ ván đất, không chỉ im lặng chất xương máu của Tổ tiên,
mà còn bắt con cháu mình cúi đầu diễu hành trên mảnh đất đã mất. Đó là sự tùy nhục được
thể chế hóa, được dạy như một bài học hậu nghị. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phản bội dân tộc
một cách có hệ thống. Người Trung Quốc chân chính hôm nay không còn con đường nào khác, ngoài việc dũng
cảm đối diện với sự thật lịch sử, không để Đảng Cộng sản Trung Quốc thao túng ký ức,
không để những khẩu hiệu phục hương dân tộc che đẩy tội ác bán đất, giết người và che
giấu quá khứ. Chỉ khi dám nhìn thẳng vào vết thương dân tộc Trung Hoa mới có thể tự chữa lành.
Chủ đề bình luận ngày hôm nay cũng xin được kết lại tại đây. Quý vị đừng quên để lại bình luận,
chia sẻ suy nghĩ để mọi người cùng được biết. Một lần nữa,
Lê Oanh xin trân trọng cảm ơn và xin hẹn gặp lại trong chương trình lần sau.