Lại nói, Dương Hồi và Trương Hữu Nhân đang rảo bước ở Ngọc Tuyền Sơn thì Lý Không Đồng đúng lúc đó tình cờ bay ngang qua trông thấy. Trong tâm Lý Không Đồng có chút nghi hoặc, lại ngửi thấy quanh núi Ngọc Tuyền có một luồng khí do sét đánh tỏa ra, liền từ trên mây hạ xuống, đi tìm sư đệ Ngọc Đỉnh. “Ngọc Đỉnh, ta thấy Hữu Nhân và phu nhân anh ta đang tản bộ trên núi của đệ đó”, Lý Không Đồng nói. “Ồ, là họ đến thăm cháu trai bên ngoại của họ bị thương trong lúc chiến đấu”, Ngọc Đỉnh nói. “Cháu trai bên ngoại của họ á?”
Chào mừng quý khán thính giả đã quay lại với chương trình khám phá sinh mệnh và vũ trụ.
Hôm nay, chúng tôi trân trọng giới thiệu với quý vị phần 4 kỳ 53 huyện Mộc Ký.
Kính mời quý vị cùng theo dõi và cảm nhận.
Huyện Mộc Ký, phần 4 kỳ 53, Hạ xuống Thế Giang
Lại nói, Dương Hồi và Trương Hữu Nhân đang rão bước ở Ngọc Tuyệt Sơn.
Thì Lý Không Đồng đúng lúc đó tình cờ bay ngang qua trọng thấy.
Trong tầm Lý Không Đồng có chút nghi hoặc,
lại ngửi thấy quanh núi Ngọc Tuyệt có một luồng khí do xét đánh tỏa ra.
Liền từ trên mây hạ xuống, đi tìm sư đệ Ngọc Đĩnh.
Ngọc Đĩnh, Tà Thái Hữu Nhân và Phu Nhân Anh Tà đang tản bộ trên núi của đệ đó.
Lý Không Đồng nói,
Ồ, là họ đến thăm cháu trai bên ngoại của họ bị thương trong lúc chiến đấu.
Ngọc Đĩnh nói,
Lý Không Đồng có chút giật mình.
Ông thấy ký ức của Ngọc Đĩnh đã bị năng lực thần thông nào đó can thiệp.
Nhưng lực lượng thần thông này quá mạnh mẽ thuần hậu,
nên anh ta không thể động vào, không thể thăm dò hay cải biến gì được.
Một luồng khói bụi khét lẹt do xét đánh sập vào bụi Lý Không Đồng
khiến anh ta đoán rằng nhất định có chuyện gì đó đã xảy ra trên núi Ngọc Tuyệt.
Vậy là anh ta liền sử dụng công năng Túc Mệnh Thông để tìm kiếm,
muốn tìm hiểu xem có chuyện gì vừa xảy ra ở đây.
Sau khi quan sát hồi lâu, Lý Không Đồng thở dài thang.
Ôi chào, làm vật phụ mẫu của chúng sinh thật khó thay.
Đại sư Huynh, Huynh nói gì thế? Ngọc Đĩnh hỏi.
À không có gì, Lý Không Đồng tỏ bẻ bệnh thạc đáp.
Lý Không Đồng cũng rõ bước đi bộ lên núi, tình cờ chạm mặt Trương Thủ Nhân và Dương Hồi.
Dương Hồi nhìn thấy Lý Không Đồng liền chào.
Hân hạnh diễn kiến Đại sư Huynh.
Trương Thủ Nhân nhìn thấy Lý Không Đồng thì chấp tay chào.
Quảng thành tử chân nhân.
Lý Không Đồng miệng cười đáp lễ.
Hiểm khi gặp được nhau, nay có dịp gặp hai người ở đây, xin mời ngồi xuống ngắp nhục trà.
Lý Không Đồng nhất ống tai ảo lên.
Bên họ lập tức xuất hiện nào là bàn trà, bầu trà và máy tách uống trà.
Dưới bàn trà đặt mấy chiếc bộ đoạn.
Bên cạnh bàn còn có tiểu động giúp pha trà và chăm trà cho họ.
Ba người ngồi xuống, Trương Thủ Nhân tinh thần đã ổn định.
Nhưng Dương Hồi vẫn chưa thoát khỏi dư âm của sự việc không vui vẻ vừa rồi.
Thần tình buồn bã hiêu hắc.
Lý Không Đồng nói
Sư Mũi, lúc trước khi Mũi tu đạo ở Ngọc Kinh Sơn, thì ta không ở đó.
Khi Mũi chuyển sinh thành người, chúng ta mới có thể gặp nhau.
Thật là duyên phận an bài.
Dương Hồi cười nói
Quả thật là duyên phận.
Đại Sư Minh đã bao năm nay không ra khỏi núi.
Vậy mà mỗi lần xuất Sơn, chúng ta đều gặp nhau.
Lý Không Đồng cũng nói
Phải, ta đã sống 37 vạn năm rồi.
Nhưng quá nửa thời gian đều dành để tu luyện ở trong đồng.
Trương Thủ Nhân nghe vậy liệt hỏi
Dân dân sinh ra cách đây 37 vạn năm sau.
Lý Không Đồng trả lời
Đúng vậy, ta sinh ra cách đây 37 vạn năm trước.
Ta xuất sinh ở nhân gian, mà hơn nữa lại là nhân gian từ kỷ dĩ khoa.
Dương Hồi hỏi
Từ kỷ dĩ khoa á?
Lý Không Đồng đáp
Phải, chính là thời kỳ mặt kiếp của nền văn minh nhân loại lần đó.
Bởi vì đó là thời kỳ mặt kiếp, nền lứa nhân loại thời đó sắp bị hủy diệt.
Sự việc gì cũng đều có, và còn thường xuyên xảy ra chuyện trẻ em bị bất tích.
Sau khi ta sinh ra được 7 năm, ta cũng biến mất khỏi gia đình.
Dương Hồi hỏi
Biến mất á?
Lý Không Đồng nói
Cũng không hẳn là biến mất.
Do trong mệnh có cơ duyên tu luyện, nên ta được sư phụ mang đi tu luyện.
Dương Hồi và Trương Hữu Nhân gật gật đầu
Lý Không Đồng kể tiếp
Ta có thể tu luyện đến ngày nay, trở thành vật kim tiên đại đạo.
Chính là một ân điển to lớn mà sư phụ dành cho.
Nhưng ta cũng muốn cảm tạ mẫu thân của mình.
Dương Hồi cảm thấy có chút khó hiểu.
Cô Nghĩ Bụng
Chắc đại sư huynh cảm tạ mẫu thân của mình, vì đã ban cho huynh ấy nhục thân này.
Nhưng Lý Không Đồng lại nói
Ta muốn cảm ơn mẹ của mình, vì cái ân đối đải nhạt tình với ta.
Lý Không Đồng phóng tầm mắt hướng ra ngắm nhìn cảnh sát núi non sông nước, rồi hồi tưởng lại.
Lúc bấy giờ, chính là trong thời kỳ mạc kiếp của nhân loại.
Con người ở thời kỳ này rất cực đoan.
Đối với tình cảm cũng rất cực đoan.
Người ta đều rất dễ dàng, vì bi lụy tình cảm mà phát điên, không màn lý trí.
Khi đó, những người mẹ bất con đều bị thứ tình cảm như nữ dại vò,
đến sống cũng giỡn mà chết cũng không xong.
Có người thậm chí còn nghĩ cách nguyên sinh.
Khi đó ta mới 7 tuổi, nhưng cũng đã khá hiểu chuyện.
Nên tình cảm với cha mẹ đương nhiên sâu nặng.
Lúc ta tu luyện trong đọc, đã rất lo lắng suy tư và thương nhớ mẹ mình.
Ta rất lo sợ bảo thân ta vì quá nặng lòng với con cái,
mà sẽ làm điều dại dột, tổn thương thân thể hay hại đến tinh mạng bản thân.
Dù sư phụ đã nhọc công, hết lời khuyên rang an ủi,
nhưng đối với ta vẫn chẳng ít gì.
Thấy con đường tu luyện sắp đứt đoạn chỉ vì một tâm lòng lo lắng cho mẹ,
sư phụ bèn dẫn nguyên thần của ta ra ngoài để ta đi nhìn bảo thân một lần.
Ta phiêu diệu bay trở về quê nhà của mình,
thấy cha mẹ đang thư thái nhạc nhã, chụp ảnh giữa những khóm hoa.
Lúc đó có một vật gọi là máy ảnh,
một phát minh công nghệ thời bấy giờ để phục vụ nhu cầu giải trí
và giúp con người ghi lại những kỷ niệm của mình.
Ta nhìn thấy nét ưu tư đợm buồn trên khu mặt của cha,
nhưng mẹ ta lại nói,
tuy tiểu đồng biến mất,
nhưng nó nhất định đã thoát khỏi thế giới thập ác này để đi tu đạo rồi.
Ta chợt nhớ đến lời mẹ dẫn,
mẹ đặt tên cho ta là không đồng,
chính là hy vọng ta ngày sau sẽ đạt được cảnh giới như trốn hư vô bao la mênh màng kìa.
Trong thời mạng thế đó,
mẹ ta không những không hề bị lụy bởi tình,
mà còn cảm thấy vui mừng vì ta đã thoát ra khỏi chốn nhân gian hiểm ác.
Trong khoảnh khắc đó, tâm lo lắng cho mẫu thân của ta đã nhanh chóng tiêu tàn,
trong tâm hoàn toàn chỉ còn nghĩ về tu luyện.
Không đồng, không vô đại đồng, hết thải điều mênh màng vô tận,
chắc hẳn là niềm mong mỏi và giết của mẫu thân ta.
Sau khi nghe Đại sư Huynh giải bài một hồi lâu,
Dương Hồi liền hiểu ra đây chính là điểm hóa của sư phụ.
Cô liền biểm cười như vừa gỡ được xuống một thứ cảm xúc đang đè nặng trong tâm.
Cô nói,
Mẫu thân của Đại sư Huynh quả là một người mẹ phi thường.
Lý không đồng cười nhìn Dương Hồi rồi nói,
Sau này khi đã tu xuất thần thọng,
ta vẫn không nhìn thấy nguyên thần của mẫu thân ta ở đâu.
Liền biết rằng, mẫu thân ta có lai lịch siêu phạm.
Mãi đến 37.000.000 năm sau, ta mới gặp lại được bà ấy.
Dương Hồi hỏi,
Bà ấy giờ ở đâu? Bà ấy rốt cuộc là ai?
Lý không đồng chỉ cười không nói.
Dương Hồi cũng đoán Đại sư Huynh không tiện đói,
nên cô không hỏi thêm gì nữa.
Trường Hữu Nhân ngồi đó nghe cuộc đàm thoại,
cũng hiểu đáy tứ nội dung câu chuyện này của Lý không đồng.
Chỉ là anh cũng chỉ cười và không nói năng gì.
Lý không đồng ngước nhìn vận thinh không xa thẳm,
rồi nói tiếp,
Đã không còn sớm nữa, ta vẫn còn có việc phải làm.
Hữu Nhân, Sư Mụi, hai người cứ từ từ thưởng trà.
Ta đi trước đây.
Trường Hữu Nhân và Dương Hồi đứng dậy hành lễ,
bái biệt Lý không đồng.
Sau khi Lý không đồng rời đi,
Dương Hồi và Trường Hữu Nhân cũng quay trở về ốc đảo Trương Gia.
Đoán sự việc này, đến đây coi như đã khép lại.
Về phần Dương Hồi, khuôn mặt cô không bị già ni,
dù đã ngoài 40 tuổi,
trông chỉ như một thiếu phụ ngoài 20 tuổi.
Tuy vậy, cô vẫn chưa tu xuất thần thân.
Một ngày nọ, Độ Hà Tán Nhân đến ốc đảo Trương Gia,
trịnh trọng mời Trương Hữu Nhân và Dương Hồi đến thăm thú bàn đạo viên.
Gần lúc rảnh rỗi hiếm hồi,
Trương Hữu Nhân đã đưa phu nhân Dương Hồi đến Côn Luân dạo chơi một chuyến.
Hoa đào trong vườn lúc này đang nở rộ,
mỗi cây đào đều cao lớn xung xuê,
sắc hồng tươi tắn, tràn đầy sức sống.
Diện bào khắp nơi là sắc thắm,
hương thơm lan tỏa khắp Côn Luân.
Cành đào cao như cành trúc,
rễ đào cắm sâu vào lòng đất, vững dãi hiên ngang.
Hai người chậm rãi tản bộ trong vườn,
bất ngờ những cánh hoa đào màu hồng phấn lã tả rơi xuống.
Một làn gió trong lạnh thổi tới,
khuấy lên làn sóng hoa pháp phới trong không trùng.
Hương thơm lan ra ngào ngạt khắp vùng.
Phù Nhân, nàng nhìn kìa,
những trái đào non mới kết này
trông giống như khuôn mặt trăng tròn tươi nhuộm hồng đào của nàng vậy.
Trường Hữu Nhân vừa nói, vừa hướng bắc nhìn lên những trái đào.
Lúc này độ Hà Tản Nhân bước đến,
tỉ mỉ quan sát những trái đào,
rồi bất ngờ nhận xét,
những trái đào được kết ra lần này không dẹt như lần trước.
Trái lại trúng trong tròn trịa,
căng mộng và có màu hồng phấn đẹp thật.
Độ Hà Tản Nhân lại tiếp tục quan sát,
rồi tắm tắt khen, giọng đầy ngưỡng mộ.
Tốt, tốt, lần này còn tốt hơn, lần này còn tốt hơn nữa.
Ông chậm rãi tỉ mỉ rão mấy vòng quanh vườn,
thỉnh thoảng gật đầu tán thưởng,
như phát hiện ra điều gì rất tâm đắc.
Cuối cùng ông quay sang hỏi Dương Hồi,
lần này vẫn gọi chúng là bàn đào chứ?
Dương Hồi suy nghĩ dây lát, đáp,
bàn đào, bám và đào.
Mục ý là bám và leo lên rồi đào thoát ra.
Vậy chúng ta hãy cứ gọi chúng là bàn đào đi.
Được.
Chững năm sau đó, Hữu Dân và Dương Hồi
tiếp tục suy ngậm và thảo luận với các vị thần về văn hóa,
lễ nhạc của toàn bộ hệ thống văn hóa được thấm nhuận
và xuyên suốt trong các diện giải thi điểm ở ốc đảo Trương Già.
Từ thời điểm đó, chúng cơ bản đã được hình thành.
Ví dụ, mũ lễ trong chú lễ,
các lễ, già lễ, tân lễ, quân lễ và hung lễ,
còn có đề cao chữ Đức, tôn kính ngồi cao,
gần gũi người thân, kính trọng người già và yêu thương con trẻ,
đủ mọi phương diện khác nữa.
Toàn bộ xã hội ở ốc đảo Trương Gia khắp nơi đều phủ kính lễ và đạo.
Lễ nhạc, lễ và nhạc là không thể tách rời.
Còn âm nhạc ở ốc đảo Trương Gia thì sao?
Về cơ bản, nó kế thừa tiến tấu âm luật,
nhạc khí và nhạc lý trong âm nhạc của thời kỳ viêm hoàng hữu đế.
Nhiều người biết hoàng đế là tổ tiên khai thủy ra nền văn minh dân loại chúng ta,
nhưng ít ai biết rằng ngài còn là một bậc thầy về văn học nghệ thuật xuất sắc nhất,
một nhà âm nhạc tuyên thâm và sâu sắc nhất của chúng ta.
Đúng vậy, nên dụng từ tối nhất trong trường hợp này,
nếu không có vô số những nhạc khí, nhạc lý,
cho đến rất nhiều hình thức văn nghệ của hoàng đế đưa ra,
dân loại sẽ trở nên hoang dã và còn càng băng rỡ.
Thì còn nói gì đến nền văn minh nào nữa?
Các vị thần đặc định văn hóa đến ốc đảo Trương Gia
đều là những chính thần được phụ huy đại đế phải xuất mà đến,
mà hoàng đế chính là do phụ huy đại đế chuyển sinh.
Nền văn hóa thần truyện Trung Hoa chúng ta thật đáng quý biết bào,
cho nên đôi khi cảm thấy rằng được chuyển sinh làm người,
tuy phải chịu đựng nhiều khổ ãi to lớn,
nhưng cũng chính là đã nhận được một sự may mắn vô cùng lớn lao.
May mắn là đến Tam Giới thì Nguyên Thần vẫn đang ở đây.
May mắn vì nền văn minh này được thành chủ ân cận dẫn dắt.
May mắn vì được đồng tại một thời kỳ với vẹn vương chi vương vô thượng vương.
Trước mắt, nền văn minh lễ nhạc ở ốc đảo Trương Gia
vẫn chưa được triều đại nhà Chu áp dụng hoàn toàn,
bởi vì mọi thứ đều cần có quá trình.
Mãi đến thời Chu công, các nghi lễ của nhà Chu cơ bản mới hình thành,
ví dụ như một số chế độ quy định hay chế độ quân binh.
Bởi vì ốc đảo Trương Gia không quá lớn,
cũng không có chiến loạn,
nên việc này chỉ cần Chu Thiên Tử tự mình đi hoàn thiện.
Tuy nhiên, Trương Hữu Nhân cùng Chư Thần
cũng sẽ xây dựng một số hình thức ở mức độ sơ khai.
Những chế độ như phong vương, tòng pháp, canh điền,
trang phục, mấy bộ hay tức lọc ngôi vị
hiện nay đã bị người đời vẽ công, đã lý giải thành bé mó lệch lạc rồi.
Khái điểm xã hội phong kiến ngày nay thật ra chính là một từ
để chỉ chế độ phân phong thời xa xưa.
Nói xã hội phong kiến là nói việc
phân chia đất đai thổ nhưỡng thành từng vùng một,
giữ lại vùng trung tâm ổn định và dễ kiểm soát nhất cho bản thân.
Còn vùng xung quanh thì phân phong cho thân tộc và công thân.
Điều này cũng đúng với tư tưởng
thân thân, gần gũi thân thích và tôn tôn,
tồn kính ngôi cao trong quan điểm của thời Chu.
Rốt cuộc thì thân thân và tôn tôn
là lời lẽ mà các bậc quân vương thời xưa sử dụng để củng cố vương quyền.
Lời giải thích này thực chất là đứng trên góc độ của thuyết vô thần
và vụ lợi cho bản thân mà phân tích.
Thực chất không phải là như vậy.
Bỏi triều bỏi đại đều có một góc riêng,
đều là đại biểu cho một thế hệ thiên thể trên thiên thượng.
Dù là hoàng đế, hoàng thân quốc thích,
hai người trong hoàng tộc cũng vậy.
Tại sao họ lại đảm nhận vai diễn này?
Tại sao họ sinh ra đã là huynh đệ tỉ mụi của thiên tử?
Bởi vì nguồn góc của họ không hề tầm thường.
Nguyên lai của họ có quan hệ đối ứng với thiên thể của triều đại đó.
Cho nên họ được phong vương cũng vậy,
các đất phong hầu cũng vậy.
Đó là trong mệnh của họ đã mang theo
phần trách nhiệm như thế trong triều đại đó.
Nếu bạn đem đất đại đó phân chia cho dân thường,
thì vì nguồn góc của họ không nằm ở nơi đó,
góc rễ của họ không kết nối với thiên thể đó,
nên họ cũng không cần phải gánh vác phần trách nhiệm này.
Vậy thì phân đất cho họ làm gì?
Ngày nay, người ta đứng ở góc độ của thuyết vô thần
mà phân tích hay phán xét cổ nhân,
biểu tả người xưa xấu tệ hơn con người ngày nay,
hậm chí còn ích kỹ, tự tư, tự loại hơn.
Văn hóa của người Trung Quốc ngày nay sớm đã bị phá hủy rồi.
Người đại lục ngày nay có văn hóa thần truyền
như người bù sờ vôi, cực kỳ hời hợt.
Hơn nữa, còn hay lấy lòng dạ tiểu nhân mà đo lọc quân tử.
Những quan điểm văn hóa sơ khai nhất
được cấp cho con người chủ trương là vô tư vô ngã.
Tại sao người xưa xưng ngô tà thai cho ngã tôi?
Chính là để dạy bạn đừng quá tự tư,
đừng quá coi trọng cái tôi, vì tôi chính là vô mà.
Vì vậy, nếu một nền văn minh như thế này
được truyền thừa một cách trọn vẹn,
thì con người dù làm việc gì cũng sẽ không chỉ nghĩ riêng cho mình,
mà đều sẽ suy xét đến đạo đức, lễ nghi, liêm sỉ,
cách trị quốc của các bậc quân vương thời xưa cũng là như vậy.
Các chế độ, thể chế, lễ nhạc, đạo đức
chúng ta vừa rồi đại thể đã nhìn nhận khái quát từ chính diện.
Giờ hãy thử nhìn xã hội này từ góc độ phụ diện.
Xã hội nhân loại là nằm ở tầng thấp của vũ trụ,
do đó quy luật, tương sinh, tương khắc biểu hiện côi cùng rõ rệt.
Biểu hiện thiện ác cũng cực kỳ nổi trội.
Con người chỉ khi biết thế nào là đau khổ,
thì mới biết trân quý hạnh phúc có được là không hề dễ dàng.
Cho nên, dù tiêu chuẩn đạo đức có cao đến đầu,
xã hội nhân loại vẫn sẽ tồn tại bằng phụ diện kia.
Hiện nghĩ cũng nên đưa một vài dẫn chứng.
Sau khi ốc đảo trương gia đổi người dân ở với Tây Kỳ,
tình trạng rợm cướp bắt đầu xuất hiện ở đây.
Điều này cũng tạm gọi là bình thường.
Bởi vì văn hóa ở nhân gian muốn diễn dạy toàn diện.
Nếu không có phường trợm cướp, dường như cũng không thích hợp.
Nhân gian này chính là như vậy.
Sau nhiều năm được gột rửa bởi lễ nghi văn hóa,
giới trợm cắp, cướp vật hay thổ phỉ ốc đảo trương gia
cũng có bộ quy tắc riêng.
Ngay cả phường đạo chính cũng còn có đạo của chúng đó thôi.
Nghề đạo cũng đều phải có quy tắc.
Nếu không, tất sẽ dẫn đến hỗn loạn.
Đạo tặc thổ phỉ ốc đảo trương gia có 3 quy tắc chính.
Thứ nhất, không phá hoại kinh sách,
không được làm tổn hại đến đạo.
Anh có thể làm kẻ trợm nếu bắt đắt dĩ không còn cách khác.
Còn nếu anh chính là muốn đi ăn trợm,
bản thân anh muốn tạo nghiệp,
người khác chỉ có thể khuyết thiện,
từ pháp chỉ có thể trừng phạt thân thể của anh,
nhưng không thể quản được cái tâm của anh.
Tất nhiên, anh vẫn là không được phép hủy hoại kinh sách
hay các thư tịch liên quan đến tu luyện.
Nếu tên trợm hay cướp kia phá hoại sách,
thẻ tre liên quan đến tu luyện,
thì tên đạo chính đó sẽ bị trục xuất khỏi phường trợm cướp,
không được chữa chấm nữa.
Không có tên trợm nào dám giao du với hắn
bởi hắn bị coi là xui xẻo.
Vì vậy, thủ lĩnh đạo chích sẽ đuổi hắn khỏi hội
bởi vì sự phá hoại quy tắc điều luật của bang nhóm.
Anh cứ nhất định muốn làm kẻ cướp bóc
thì cũng chẳng còn cách nào khác.
Nhân lúc tư pháp ở đảo Trương Gia chưa bắt được anh,
nước của anh vẫn chưa bị tổn hết.
Anh vẫn cứ nhất định đi làm việc trợm cướp đó,
thì chẳng ai có thể làm gì được.
Chỉ là anh không được phép giết người tu luyện.
Nếu giết một người tu luyện,
thì cả chính đạo hay tà đạo
đều sẽ không đắn no mà xuống ta giết chết anh.
Bởi vậy, đám thổ phỉ trợm cướp
ở ốc đảo Trương Gia căn bản sẽ không làm việc này.
Chúng hiểu theo lực pháp ở ốc đảo,
đây chính là một tội ác tầy trời,
không chỉ liên lụy đến toàn bộ củ tộc
mà còn liên lụy đến cả chính đời trước
và chính đời sau của người đó.
Vì vậy, không ai dám làm điều ác này.
Nếu muốn ăn trợm hay độc nhập cướp bóc,
tuyệt đối không được thực hiện ở bên trong
hoặc gần chùa miếu, đạo quán,
có liên quan đến tu luyện.
Cũng không được làm những việc này
ở trong hay gần các tự đường
Thời bấy giờ ở ốc đảo Trương Gia
chưa có Phật giáo, đạo giáo
nhưng các đạo quán biếu mạo, thờ phục,
Phật đạo thần lại có khá nhiều.
Nếu như tên cướp nào đó giả bất kính
với thần binh hoặc tổ tiên,
ở nơi thần thánh tô nghiêm thanh tịnh
làm chuyện bậy bạ ô ế,
thì những tên thổ phỉ khác
cũng sẽ tránh xa hắn.
Vì bọn họ đều biết
hắn sắp phải chịu báo ứng
ai cũng sợ bị vạ lay.
Sự thật đúng là như vậy
làm thổ phỉ vốn đã ít đức
nếu lại phạm phải
ba tội lớn điêu trên
thì sẽ sớm hứa chịu trừng phạt
sẽ chết bắt đắt kỳ tử.
Vì vậy, trong số ít
những thổ phỉ đạo chích hiện diện
ở ốc đảo Trương Gia
người ta thấy chúng cũng không phải
là những kẻ quá xấu xa.
Ở thế gian hiện ác
đồng tồn, nhưng dù
ác cũng phải có tiêu chuẩn.
Nếu như quá ác
thì ngay cả việc làm
con người ở dân gian cũng là không thể
sẽ bị đánh hạ xuống địa ngục
chờ bị tiêu hủy truyền để.
Lấy một ví dụ
như thế này, ốc đảo
Trương Gia trước này chưa từng có
chiến tranh, tuy nhiên phản lý
ở thế gian chính là thắng
làm ngu, thua làm chặt,
cho nên cần đặt định
một chút văn hóa liên quan đến
chiến tranh.
Vì vậy, trong lần trao đổi
người dân giữa Tây Kỳ và ốc đảo
lần này, chính là sẽ trao đổi
một số người dũng cảm và thiện chiến
để những cá nhân dũng cảm
thiện chiến này sau đó sẽ
nắm giữ một số chức quan nhỏ
ở Tây Kỳ.
Khi đến Tây Kỳ,
Trương Ngũ Nhân chọn hai tòa thành nhỏ,
một tòa là Tu Thành,
còn tòa kia là Đạp Thành.
Rồi chọn ra
hai trong số những người chuyển đến đây
để làm vương chủ cai quản
hai thành, số còn lại làm
phụ tá.
Hai tiểu tòa thành này tuy không lớn
nhưng nằm đối diện nhau,
cổng thành này nằm đối diện cổng thành kia.
Vì cổng
đối diện nhau và lại còn
là người hiếu chiến và đều
giữ những vị trí quan chức
nhỏ nên bên nào cũng cho rằng
bên có bản xử xuất sắc hơn bên kia.
Bởi vậy,
hai thành này rất dễ
sinh ra mâu thuẫn, xung đột.
Đương nhiên rồi,
chính là sự việc trên được an bài như thế.
Các hoàng viên
cai quản hai thành này
trình lên Trương Ngũ Nhân
rất nhiều tấu chương, càng ngày càng nhiều.
Lời lẽ biểu đẹp trong đó
đều chất chứa sự bất mãn,
thang phiền và tranh cãi.
Trương Ngũ Nhân
tham vấn ý kiến ông ấy
xem việc này nên giải quyết thế nào.
Phương Vân Kiều
cũng là thần, đến đây để
đặt định văn hóa, nên
tạm thời đảm nhiệm chức tể tướng
ở ốc đảo Trược Gia.
Phương Vân Kiều thưa,
đã vậy sao đảo chủ
không thể họ đánh nhau đi,
như vậy có lẽ sẽ hóa giải
được bán khí sân hận
cả hai bên.
Trương Ngũ Nhân
gật ngù như hiểu ra,
liền nói, cũng được.
Sau đó, tể tướng
liền sai sứ giả đi báo tin
cho vị vương của Hai Thành
cho phép hai bên được công thành
chiến đấu với đối phương.
Hai vị vương
của Hai Thành nghe vậy rất đắc ý,
đúng lúc họ đang
rất muốn chiến đấu,
khỉ thế soi sụp bởi sự án hận
như gọn lửa thiêu đốt trong tầm
đã lất râu rồi.
Tuy nhiên, ngay khi
cả hai đang bên bờ vực chiến tranh,
cuộc chiến đã sắp sắc sửa
bắt đầu, vị tể tướng
đích thân lên trước trận tiện,
đưa cho hai bên,
mỗi bên một bản chiến sự lễ pháp
của ốc đảo Trương Gia
để nói với hai bên rằng,
có thể cho phép có chiến tranh,
nhưng nhất định phải tuân thủ
lễ pháp.
Đầu tiên, chiến sứ
vị sứ giả chiến tranh
của mỗi bên sẽ hỏi thăm
tình hình sức khỏe của tướng lĩnh
và vị phương thành của đối phương.
Ngày thứ nhất,
tu thành vương thân thể
có chỗ không được khỏe.
Nếu nhận lúc đối phương yếu đuối để thắng,
thì kể không oan huổng,
không hợp với tinh thần võ học,
nên không thể giao chiến.
Ngày thứ hai,
con trai của đàm thành vương
đột nhiên ấm bệnh,
cần lấy lễ pháp,
kính giả yêu trẻ làm trọng,
lại từ bản thân mình
mà nghĩ cho người khác.
Trong tình thế như vậy,
bên sẽ như thế nào?
Lại đành hoãn binh nghề nữa,
vậy là lại không thể giao chiến.
Ngày thứ ba,
chiến sứ bảm báo với tệ tướng rằng,
tu thành vương bệnh trạng sơ sơ,
không quá nghiêm trọng,
còn con của đàm thành tuy ấm bệnh,
nhưng cũng chỉ là cảm lạnh,
vẫn tràn đầy sức sống,
giờ không ai bị bệnh cả,
vậy hai bên đã có thể
giao chiến được chưa?
Tệ tướng lại nói,
chưa được, phải đợi
người già, phụ nữ và trẻ em
trong thành thu dọn đồ đạc cẩn thận
và rời khỏi thạch đã,
rồi đợi người trong đảo
bố trí cho họ chỗ ăn ở
và lương thực đầu đáy rồi hẳn hay.
Ngày thứ tư,
khi mọi việc đã được an bài
đầu đáy ổn khỏa,
lại hỏi vậy, đã có thể
giao chiến được chưa?
Nhưng lại vẫn chưa được,
vậy còn phải làm gì?
Phải đem toàn bộ
các bức tượng Phật Đạo Thần
hoặc các bức tượng có liên quan
duy dời ra ngoài,
những pho tượng không thể duy dời được
thì phải phủ vải lên rồi quay rào
lại để tránh làm hư hại
pho tượng,
hoặc gây ra sự bất tính
với thần linh do sát khí
sinh ra trong chiến trận.
Hai ngày này thật thú vị,
xe ngựa của Tu Thành không đủ
nên họ đến mượn Đàm Thành,
vải bóc của Đàm Thành không đủ
thì họ phải người đến mượn của Tu Thành.
Vì đóng lòng để nhanh
cuộc chiến,
hai bên thành ra đã hỗ trợ lẫn nhau.
Bởi vì phụ nữ,
người già và trẻ em
tạm thời đã được sơ tán ra ngoài,
nên trong thành chỉ còn lại
những đàn ông trưởng thành sinh sống làm việc.
Việc dựng hàng rào bảo vệ
di chuyển tượng và bọc vải
mất hai ngày,
nên cả hai thành ai đấy đều kiệt sức.
Vậy là hai bên
đều nghỉ ngơi thêm một ngày nữa.
Đến ngày thứ bảy,
cuối cùng trận chiến
cũng đã có thể bắt đầu.
Nhưng trước tiên, họ phải sửa soạn lễ vật
dân lên cúng bái thần linh
và tổ tiên
để báo cáo sự việc chiến tranh.
Sau khi cúng bái thần linh
và tổ tiên xong,
họ phải khóa chặt cửa miếu
và nhà thợ tổ để tránh bầu không khí
chiến tranh phát tán,
làm phiền tổ tiên và các vị thần linh.
Khi việc cúng bái hoàn thành,
thì đã đến trưa,
mà buổi trưa còn phải
nghỉ ngơi đến trận chiến
sẽ về lại sang buổi chiều.
Đến buổi chiều,
tệ tướng tuyên bố
cả hai thành đều có thể bắt đầu
chiến đấu không khoan nhượng với đối phương.
Điều này có nghĩa là
hai thành đã có thể
tận sức chiến đấu,
lăn xả hết mình.
Trải qua 7 ngày vừa rồi,
cả hai thành đều đã không còn
mấy mặn mà với việc chiến đấu nữa.
Nhưng nếu không chiến đấu,
thì công sức bỏ ra để thực hiện
các bước thủ tục vừa rồi
chẳng phải là lãng phí
thời gian oan ủ sao.
Vậy nên, cuộc chiến vẫn sẽ bắt đầu.
Trải qua mấy ngày chiến đấu,
Tu Thành đã giành chiến thắng.
Tuy Đàm Thành bại trận,
nhưng vì trận chiến được tiến hành
dưới lễ pháp và sự công chính
binh bạch và công bằng,
không hề có thủ đoạn
hay quỹ kế lừa gạt,
nên Đàm Thành đã tâm phục khẩu phục
chấp nhận thất bại.
Hơn nữa, trong suốt cuộc chiến,
không hề là bị thương phụ nữ,
trẻ em hay người già,
cũng không hề làm tổn hại
một phô tượng thật nào
và cũng không xâm phạm
Chùa Biếu, Thợ Phật hay Đạo Quán.
Từ đó trở đi,
mâu thuẫn giữa hai thành
không chỉ được giải quyết rốt ráo
mà còn được phun bồi,
khiến bối quan hệ hai bên
ngày càng gắn bó. Đàm Thành Vương
ngưỡng mộ sự kiệp chế bảy trí
kiêm dường, thắng không kiêu
của Tu Thành Vương.
Còn Tu Thành Vương lại ngưỡng mộ
sự tôn trọng lễ nghi,
giữ gìn luật lệ và ý chí
chấp nhận bại mà không hoán
của Đàm Thành Vương.
Thật bất ngờ, cuối cùng
hai vị vương đã kết nghĩa huynh đệ
hai thành trở thành anh em.
Đây chính là
sức mạnh của lễ trọng văn hóa
thần truyền.
Phần 4 tri 53 huyện Bọc Ký
đã kết thúc.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi.
Kính mời quý vị cùng theo dõi
các phần sau.