Bí Kíp Niết Bàn Trong Một Kiếp Của MẬT TÔNG | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
540 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Vì sao các đại sư Phật giáo giảng rất nhiều về Thiền Tông, Tịnh Độ Tông mà không giảng về Mật Tông?
Không lẽ Mật Tông không dẫn đến giải thoát, gia cộ?
Nếu tu theo Mật Tông thì làm thế nào để không rơi vào tà mà ngoài đạo?
Các hình ảnh hay tướng của các đệ tử Phật giáo Mật Tông luôn trong tư thế bắt ấn, niệm chú,
thậm chí là thực hiện các nghi thức cầm kỵ.
Điều này có thật sự đúng đắn,
có thật sự giúp chúng ta đạt được cảnh giới Niết Ban.
Hôm nay, chúng ta hãy cùng tìm hiểu bản chất thật sự của Mật Tông Tây Tạng,
hay còn gọi là Kiềm Cơng Thừa.
Trong các pháp môn mà Đức Phật chỉ dạy cho chúng sinh nâng theo tu tập trong thời buổi Mặt Pháp sau này,
hành môn nào cũng đều có một tôn trị thú thắng vi diệu.
Nếu như Phái Tinh Độ Tông lấy tôn trị, một đời vãn xanh được bất thối chuyện làm Tông,
thì Phái Thiền Tông lấy tôn trị, trì thẳng lòng người, thấy tánh Phật, thành Phật.
Còn Phái Hoa Nghiêm Tông thì lấy tôn trị, lìa thế gian, nhập pháp giới làm Tông.
Còn Mật Tông lấy tôn trị, tam mật tương ưng, tức thân thành Phật.
Tam mật là thân mật, khẩu mật và ý mật.
Đầu tiên, chúng ta cần khẳng định với nhau rằng,
các phàm môn tu hành theo Đức Phật tuy nhiều và tôn trị khác nhau,
nhưng tiệu chung rồi cũng quy về một mục đích duy nhất là giải thoát khỏi sinh tự luân hồi và đạt được Niết Bản.
Mật Tông là một trong những Tông Phái của Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 7,
rồi sau đó được chuyên bán sang Trung Hoa, Nhật Bản và đặc biệt là phát triển mạnh mẽ ở Tây Tạng.
Phật giáo Mật Tông Tây Tạng còn được gọi là Kim Cương Thừa.
Kim Cương Thừa được ví như là con đường thẳng dốc đứng để đi lên đỉnh núi.
Điều đó vừa nói lên tính siêu Việt, thần tốc,
đồng thời cũng nói lên sự khó khăn và nguy hiểm của con đường và lối tu Mật giáo.
Lịch sử phát triển của Mật Tông đôi khi đã có những xu hướng lịch lạc ngoài quỹ đạp
hơn đến sự giải thoát theo lý tưởng của Đạo Phật.
Bởi có sự biểu hiện về phù phép, tà thuật làm cho uy tín của Mật giáo bị tổn thương nặng nề.
Ngày nay, với sự nỗ lực truyền bá Mật giáo hay Kim Cương Thừa của các bậc đại sư Tây Tạng
đã làm sáng tỏ ý nghĩa đích thực của tổng phái này.
Kim Cương Thừa là một con đường giải thoát đặc biệt của nền Phật giáo tiến bộ.
Như đã nói, thân Mật, khẩu Mật và ý Mật là tôn trị của Mật Tông
và để đạt được khả năng điều động năng lượng vũ trụ hay năng lượng tầm linh
thì phải thực hành nghi thức đúng quy luật của cả thân, khẩu và ý.
Thân thể tác động qua điệu bộ, nhất là hai bàn tay được diễn theo lời thần chú
sẽ tạo nên thái độ tầm linh phù hợp theo một điểm.
Miệng đọc các ban cha, âm thanh biểu tượng là hiện tượng thiêng liêng
làm cho rung động nội tâm của hành giả.
Tâm ý thì quán tưởng Mandala ta thành một thể thống nhất để nhập ta Mật của Phật.
Sự phối hợp rào lý siêu nghiệp với hình thức ấn chú Mandala là một sự kết hợp đặc biệt.
Theo đó, vũ trụ, thế giới, con người, vạn vật đều mang một giá trị thiêng liêng
đối với một hành giả Mật Tông.
Đó là mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất,
giữa con người và vũ trụ với những năng lượng vô cùng tận.
Các biểu tượng Mật Tông rất dễ bị ngộ nhận và phê phán.
Tuy nhiên, sau khi lặn sâu vào biển tâm, ta mới khám phá ra được rằng tác dụng và ý nghĩa của chúng.
Chúng là những phương tiện diễn đạt những kinh nghiệm tầm linh sâu sắc nhất của hành giả.
Chiết lý và phương pháp hành trì của Mật Tông vẫn xây dựng theo tiến trình,
giới, định, tuệ như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Phật giáo.
Nó có mối liên hệ khá chặt chẽ với giáo lý Nguyên Thủy và giáo lý Đại Thừa.
Sự khác biệt của Mật Tông là ở phương tiện đến giác ngộ tánh không, vô ngã.
Đó là một phương tiện huyền bí.
Sự phát triển của Đạo Phật tạo ra nhiều tông phải khác nhau và các phương pháp hành trì khác nhau.
Bất cứ phương tiện gì mà đưa đến niềm tin, loại bỏ chứng ngại nội tâm,
giúp cho tâm thực chứng, giải thoát tối hậu thì đều được phép sử dụng.
Mật Tông là một trong những phương tiện ấy.
Muốn trở thành một vị hành giả tu theo Kim Cương Thừa,
người tu hành thường phải dùng nhiều pháp tu để tịnh hóa ba nghiệp
thân, khẩu, tâm để trở thành thân, khẩu, tâm của một vị Phật.
Trên cuộc hành trình thuần hóa tâm hồn trở thành pháp thân của Phật,
hành gia phải trải nghiệm pháp tu mật do một vị thầy trực tiếp dạng dạy.
Mật Thừa có bốn đặc tính.
Thứ nhất là pháp du dà tịnh hóa triệt để môi trường xung quanh.
Thứ hai là pháp du dà tịnh hóa triệt để thần sát.
Thứ ba là tịnh hóa triệt để mọi cảm thọ.
Thứ tư là pháp du dà tịnh hóa triệt để mọi hành vi.
Bất cứ giao lý nào chứa đựng bốn tịnh hóa ấy đều là Mật Thừa.
Năm trăm năm sau khi Đức Phật nhập điết bàn,
chúng ta thấy rằng cấu trúc của quan hệ nhân quả
bao gồm cả cấu trúc của dòng tâm thức của chính chúng ta
đã bị giảm đi rất nhiều.
Chúng ta đang ở vào thời mạt pháp.
Vì vậy, người tu tự mình dẫn thân vào con đường giải thoát
lại càng khó hơn.
Do đó, Kim Cương Thừa sử dụng bất cứ thứ gì
mà một người có thể nhập vào cơ thể và tâm trí của bản thân
để tiến tới con đường giải thoát.
Giống như ý của một câu nói nổi tiếng
Con người đã ngã té trên mặt đất,
hẳn phải nhờ chính mặt đất để đứng dậy.
Câu nói này nhấn mạnh vào phương tiện, phương pháp và kỹ thuật
là đặc điểm của Kim Cương Thừa.
Phần lớn những cuộc tranh luận ngày nay
đều liên quan đến pháp song tu hay pháp tu phối ngẫu.
Hình tượng một vị Phật
đang ôm một phối thân nữ được cho là không đúng đắn
là sai với tôn trị của Đức Phật,
là một dạng thà hoá.
Thậm chí, một số vị thầy còn dạng pháp cho rằng
Kim Cương Thừa là Đạo Dâm Tà.
Theo Mật Tông, toàn mộ chúng sinh cõi dục
được cấu thành bằng những vật chất rất trần tục.
Đồng thời, lòng dục luôn tồn tại trong chúng ta.
Những người từ cõi sắc giới trở lên cho đến cõi vô sắc giới
thì không còn lòng dục.
Đó là bởi vì các chất cấu tạo nên cơ thể của họ
vốn đã tinh khiết và vi tế,
nhẹ hơn rất nhiều so với các chất tạo nên cơ thể của chúng ta.
Từ cảm hứng vô tận trong sự thể hiện tư tưởng
tuôn chạy đến mọi ngóc ngách của dòng tâm thức
và được vẽ ra hoặc tạc thành tượng.
Mục đích chỉ ra rằng
để truyền hóa ngũ căn và thế giới bất tịnh này đến giác ngộ
hành dạ phải vượt qua một giới hạn khá khó khăn của ái dục.
Được Phật nói,
khuyết điểm lớn nhất của chúng sinh là si ái.
Ngày đêm sống trong si ái, không thể xả bỏ được.
Nếu chuyển được tầm hảo sắc thành tù tầm học Phật Pháp
từng giờ, từng phút không lãng quên việc tu học
thì sẽ mau chóng thành Phật.
Một vị Lạt Ma cũng nói rằng
Pháp thân này rất vi tế, thanh tịnh
và không chứa dục lạc.
Sự tinh tế và thanh tịnh của thân thể một vị Bồ Tát
thậm chí còn tinh tế và thuần kiết hơn thân thể
của một sinh vật vô hình.
Do vậy, khi hiện hình tướng phối ngẫu của chư Tôn
vốn dĩ đã hoàn toàn không còn chút dục vọng nào nữa.
Theo thông thường, chúng ta có một thói quen
là nhìn tượng Phật ở trên bằng con mắt của một con người bình thường.
Hoàn toàn sai lầm khi nói rằng
Tôn Nam này kết hợp với tổn nữ kia.
Nhưng nếu các bạn nhìn tượng với nhẵn quan của một người ngồi thiền
sẽ thấy hoàn toàn khác hẳn.
Phật trong bức tượng hoàn toàn trong tư thế thiền
và không để tâm gì đến cô gái trong bức tượng cả.
Cô gái và tư thế như đang dạo hoan
chỉ để diễn tả trạng thái hỷ lạc của thiền định.
Ai đã từng ngồi thiền và nhập định được
sẽ hiểu được niềm hạnh phúc trong cõi thiền
khi mà các hóc môn tạo ra sự sảng khoái, hưng phấn
được tiết ra sau khi cơ thể đặt đến trạng thái thư giãn hoàn toàn.
Đồng thời, chỉ cho tất cả chúng sinh
khi đang tu tập còn chịu sự chi phối rất nhiều của nghiệp quá khứ
tận cùng trong tâm thức vẫn còn ái nghiệp chưa dứt
khi chưa chuyển thức thành trí.
Đây là một cách khắc họa tâm thức ra bên ngoài
thay vì chúng ta phải tranh né.
Nhưng không có nghĩa nghiệp ái không tồn tại trong ta.
Nó khó, tại sao chúng ta không đối mặt để hóa giải
hay kê toa cho đúng bệnh?
Vì ái nghiệp dắt chúng ta đi trong sinh tự luân hồi.
Con người đang ngã té trên đất.
Hắn phải nhờ chính mặt đất để đứng dậy.
Đạo Phật đến để thực hành
chứ không phải đến để chiềm ngưỡng hay nhận xét.
Ngoài ra, gốc văn hóa của hình tượng vị Phật
đang ôm một cô gái cũng là một quá điểm triết học.
Trong âm có giường, trong giường có âm.
Mỗi con người chúng ta đều có âm lẫn giường.
Bức tượng Phật lạ ấy cũng nói lên triết lý âm giường đó.
Quan hệ tình dục giữa nam và nữ từ xưa đến nay
cũng là một phần trong triết học Phường Đông Cổ.
Nó thể hiện sự hòa hợp âm giường.
Khi âm giường hợp nhất, cơ thể con người
sẽ đạt đến tình trạng khỏe mạnh, minh mẫn.
Các pháp tu của Mật Giáo
chính là kết quả của sự kết hợp Phật Giáo Đại Thừa
với hai pháp môn cổ truyền là Duzha
hay còn gọi là Yoga
và Mật Pháp, Tantra.
Duzha và Mật Pháp thường được tu tập riêng lẻ
nhưng Phật Giáo Tây Tạng đã hòa nhập,
đan kết chúng lại với nhau thành những pháp môn diệu dụng.
Đầu tiên là Duzha.
Với đếm nghĩ thông thường, người ta cho rằng
thiên quán là pháp tu đặc nét Ấn Độ
nhưng thực ra ở Trung Hoa, Nhật Bản
và những điển văn hóa khác
đều có thiên quán theo những thể thức khác nhau.
Người xưa cho rằng
thiên quán là phương tiện để hợp nhất thân tâm
với một điểm tập trung,
có mục đích và ý hướng rõ rệt.
Duzha là một trong những bài luyện tập sơ khởi
của việc tu thiên.
Duzha được miêu tả trong trường thiên trí Tôn Ca,
trong đó kể lại mẫu đối thoại lừng danh
giữa Thần Krithna và Thái tử Arjuna.
Thần Krithna đã liệt kê hàng loạt những phương pháp
để giành luyện thân tâm và cảm xúc
hướng về cùng một nhiệm vụ.
Khi đứng trước một trận chiến
mà Arjuna phải chọn cho mình một chiến tuyến,
mặc dù trong hàng ngũ của cả hai bên
đều có người thân của mình,
một tình thế không dễ chịu chút nào.
Sau khi hội kiến với Thần Krithna,
cuộc chiến trước mặt Arjuna
đã khoác lên một ý nghĩa khác.
Nó là một hành động đạo đức, kỷ cương và trách nhiệm.
Bạn Trường Ca đã đưa ra phương pháp tập trung ý
để có thể ứng xử với cuộc sống
một cách tốt đẹp nhất
trong những phút giây khó khăn nhất.
Vậy ý nghĩa của Duzha là gì?
Theo tự điển Webster
thì Duzha có nghĩa là phương pháp
để đóng yên cương cho con ngựa,
thể hiện cho thân thể
và kết nối với chiếc xe
thể hiện cho linh thức cá nhân.
Rồi đóng yên cương cho con ngựa,
linh thức cá nhân
để kết nối vào cỗ xe,
linh thức vũ trụ.
Duzha chú trọng việc tập trung ý
dẫn đến trạng thái nhập thần
và xóa đi những giới hạn của thân phận con người
với mục đích vật khỏi linh thức cá nhân
để nhận ra được cái linh thức lớn hơn
là linh thức vũ trụ.
Với nội tâm đã tập trung,
hành giả nối liền tâm thức của mình
với bất cứ đối tượng thiền quán nào.
Hành giả dùng sức tập trung của nội tâm
đã được điều phục
để đóng yên cương cho con ngựa linh thức cá nhân
và kết nối vào cỗ xe
tổng linh thức vũ trụ hay chân tâm.
Phật giáo Tây Tạng sử dụng tâm thức
kết hợp với cơ sở lý luận
để tập trung tâm ý.
Theo đó, vô mình là những nhận thức sai lầm.
Để có nhận thức sáng suốt,
người Tây Tạng sử dụng tâm tỉnh giác chuyên nhất.
Pháp Môn Duzha
chính là một dạng yên cương
được dùng để chế ngự
và làm cho tâm trở nên chuyên nhất.
Phương pháp thiền định này
khiến cho hành giả có khả năng hiệp thống
với nhất thể chân tâm.
Duzha Phật giáo khác với Duzha Ấn Độ Giáo
về một số thuật ngữ
và các pháp thức tụ tập
nhưng có những yếu tính giống nhau.
Mục đích của Duzha Ấn Độ Giáo
là đem mạnh linh thể đơn lẻ
hòa nhập với tổng linh thể vũ trụ.
Các thể sinh linh hòa nhập với toàn thể vũ trụ.
Còn trong Phật giáo,
việc tồng hòa tâm thức cá nhân
với biển cả Phật Pháp
tức là thể nhập Niết Ban
tức là nhận ra được ánh sáng
và hướng theo ánh sáng.
Phật giáo Tây Tạng
sử dụng những nhận định chết học của Duzha Tông
làm nền tảng cho việc hành trì Duzha.
Pháp môn tình
được thực hành trước
làm cho tâm thức cột sạch những ý niệm ù mê
chuẩn bị cho yếu tính như thật hiện lộ.
Yếu tính như thật
trông giống như một mặt gương soi
nằm sau tất cả các pháp.
Mỗi sự vật hiện hữu bởi chính nó
và là một thành phần của pháp thân viên mãn như thật.
Sau đó
quá pháp thiền định Duzha
hành giả Tây Tạng có thể chứng nghiệm yếu tính này
nhờ đó đồng nhất với Niết Ban.
Vậy còn Tan Cha là gì?
Cho đến bây giờ
chưa ai biết rõ
nguồn chính xác của Tan Cha
Những pháp thức của Tan Cha xuất hiện rất sớm
và một vài dạng pháp thức
đã có mặt trong nhiều nền văn hóa xa xưa
mà hiện nay người ta mới chỉ phát hiện ra
trong tiếng sang kết
từ Tan Cha chỉ cho sự liên tục
sự đàn kết
Tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa đơn nhất nào
thực sự được xác lập
Tan Cha bao gồm nhiều bộ pháp thức
thường hướng về hành động
làm cho thân tâm đàn kết với nhau
Tất cả những pháp môn tu tập phát triển ở Ấn Độ
đều được 35 môn giáo sử dụng
Cho đến khoảng thế kỷ thứ 7
những pháp thức Tan Cha
đã bắt đầu kết nối với Phật giáo
một tôn giáo phát triển ở Ấn Độ trên 1.000 năm
với hệ thống tu viện to lớn
và những phò tượng kỳ vĩ
Thời gian này
một số người tu tập theo Phật giáo cảm thấy rằng
có những hành giả đã đi quá xa
không còn thấy được ánh sáng tâm linh thuần phát
thời Nguyên Thủy mà Đức Phật chủ trương
Những pháp môn Tan Cha
cũng đeo lên pháp tu để thành tựu tránh giác
ngay trong kiếp sống
Những dạng Phật giáo Ấn Độ trước đó tin rằng
phải trải qua thời gian lâu xa vô lượng
vô số khiếp
người ta mới có thể chứng đạt tránh giác
Nhưng theo Phật giáo Đại Thừa
người ta có thể đạt được tránh giác
ngay trong kiếp sống này, thân thể này
Tan Cha thận trọng đeo lên một phương pháp
để định hướng cho hành vi của con người
xuôi về tránh giác
Hành giả có thể gột rửa ngã tính
và mờ rộng tâm thức đón nhận thực tại
Trong pháp môn Tan Cha
hành giả thường tìm câu vi Đạo Sư
dẫn dắt trên con đường hành trì
giúp hành giả tránh được những chứng ngại
và hướng thẳng về tránh giác
Có hai dạng Tan Cha là Tả và Hiễu
Tả Tan Cha trong Phật giáo Tây Tạng
có nhiều tiên gọi khác nhau
như Kiền Cố Thừa, Thiết Trùy Thừa
Tuy vậy
tất cả Thừa Tan Cha đều gọi
chung một tên là Kim Cương Thừa
Giống như chiếc xe hay đoàn tàu
chuyến chở chúng ta đến nơi đã định
Tương tự như vậy
Pháp môn Tan Cha cũng nhanh chóng đưa hành giả
lên con đường đạt đến tránh giác
Kim Cương là chất liệu cứng nhất
đã được biết về tính chất
thanh khiết, trong suốt, vững chắc
và không bị vỡ
Và Kim Cương Thừa ham trơn những phẩm tính
của Kim Cương kết hợp với pháp tu
và quan trí và một đơn thể
viên mãn và bất hoại
Thân thể và tâm thức của những hành giả
tu tập theo những pháp này đều được thăng hoa
Những hành giả tu tập thành công
sẽ trở thành một Kim Căng Giả
Kim Cương Thừa
dành cho những người có lòng bi mẫn
và ý chí mạnh mẽ, những người muốn
cứu độ tha nhân và quyết tâm đạt được
tránh giác một cách nhanh chóng
Cần phải có những nỗ lực bất thối chuyển
để phát triển năng lực tâm linh
chịu gian khó theo đuổi con đường tan tra
Vậy, dung hợp giữa pháp Zuza
với mật pháp trong Phật giáo Tây Tạng
thì sẽ như thế nào?
Zuza kết hợp với mật pháp
để làm hiền lộ cho kho tàng tránh giác
Những mật pháp
giống như những bản đồ
dẫn dắt thân tâm của hành giả
xuôi về hướng Niết Ban
Sức tập trung trong Zuza
là dạng ánh sáng nội tâm
làm cho tấm bản đồ được sáng tỏ
Với sức tịnh chỉ của Zuza
Hành giả thực hiện pháp thức mật pháp
Những pháp thức làm cho những trải nghiệm
của thân thể vật lý trở thành những trải nghiệm
mang màu sắc tránh giác
Khi sử dụng năng lực của ý chí
và sức tập trung kết hợp với những mật pháp
thì những hành giả thuần thuộc
được xem là đã làm chủ được sự sống
và cái chết của bản thân
Phật giáo Tây Tạng cũng chấp nhận pháp Zuza hành động
khuyến khích hành giả sử dụng tất cả
những cảm nghiệm để đánh thức
những sắc thái rắc ngộ khác nhau nơi tự tâm
Những hành giả biết cách sử dụng
các quan năng và cảm xúc của mình
biên trúng thành những khung cờ sổ
mở ra một bầu trời tâm thức cao hơn
Trong khi đó
những biểu tượng lại kích khởi nhận thức trực quan
giúp hành giả thể nghiệm Niết Bàn
Tâm thức này
thân thể này, thế giới này
đều là đạo lộ đưa đến Niết Bàn
Ngoài ra
không có gì khác nữa
Bản phối âm sự Việt của giáo pháp
chính là sống và làm việc kiêm sống
song song với việc tiếp tục
hướng về tranh giác
Hành giả nào làm việc kiêm sống một cách chân thành
và duy trì được thái độ chính chắn
thì đời sống tâm linh của vị ấy
sẽ thồng suốt
Tất cả những cái đối nghịch nếu có
đều sẽ hòa tan vào một hợp thể cá nhân
và vũ trụ
Trong cuộc sống mưu sinh vất vả hàng ngày
dù công việc làm của chúng ta có nhiều ý nghĩa
hay chỉ đơn thuần là phương tiện để kiêm sống
Tất cả mồ hôi
và nước mắt của chúng ta trong cuộc sống
và trong công ăn việc làm
đều truyền thành sự nghiệp tâm linh
Tất cả đều là chất liệu
để chúng ta có thể sử dụng nó nuôi dưỡng tỉnh thức
Những hành động có ý hướng của chúng ta
đang diệt thành những thăng tiến tâm linh
Tâm nguyện và sự dốc lòng
hướng về tranh giác của chúng ta
sẽ làm cho những điều bình thường
trở nên long lanh, những sắc thái siêu phong
Cuộc sống trở nên đa sắc thái
và hòa quyện, cánh nít bàn
sẽ dần dần mở ra
Những mật pháp tan tra
không hề đối nghịch với việc sử dụng
những phương pháp phân tích, lý luật
để học hỏi và thể nghiệm
Ngang qua sức định tâm, đạt đến cao độ
nhờ tu theo con đường tan tra
hành giả cắt vụn thế giới
và nhận ra rằng thế giới
chỉ là sự thi thiết của những ý niệm
Vì vậy, những hành giả đã đạt đến trình độ cao
có thể giải thoát tâm thức
khỏi vòng kiềm tòa của những ý niệm
thay tựu vô biên lợi lạc
Mục đích cuối cùng của mật pháp
là thể nhập được tranh giác
bằng cách sống trọn vẹn
với những năng lực vật lý, tình cảm
và tâm linh của chúng ta có được
Bắt đầu từ năng lực trú tâm định tình
ở những tầng thâu nặng của tâm thức
Tiến đến những năng lực định tình vững chắc tự nhiên
ở những tầng vi tế của tâm thức
Năng lực của hành giả sẽ phát triển từng bước một
song hành với độ tinh tế của tâm thức
Cuối cùng
hành giả thi triển những thật lực
vượt qua được những hạn chế của thời gian
và không gian, thắng được lực trọng trường
và chế ngựa được cái chết
Cảm ơn các bạn đã theo dõi hết video
Hẹn gặp lại ở video tiếp theo
