Mọi người đều quen thuộc với từ “môn đương hộ đối” (hay thường gọi là “môn đăng hộ đối”) và đều biết ý chỉ gia thế địa vị xã hội và hoàn cảnh kinh tế của hai bên nam nữ cần phải tương đương mới thích hợp để kết hôn. Đây là noi theo một loại quan niệm dòng dõi được người Trung Quốc truyền thừa hàng trăm năm nay.
............................................................ Giọng đọc: Lưu Thu https://www.epochtimes.com/gb/14/10/20/n4276067.htm - trích Chu Tuệ Tâm tổng hợp [Epoch Times, 20/10/2014] Trách nhiệm biên tập: Lý Hiểu Thanh
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Video giải thích nguồn gốc của khái niệm \"môn đăng hộ đối\" trong hôn nhân, cho thấy nó vốn bắt nguồn từ các thành phần kiến trúc cửa nhà thời cổ đại. Từ việc quan sát quy mô và hoa văn của cửa, người xưa xác định địa vị xã hội của gia chủ để tìm đối tượng kết hôn tương xứng, nhằm đảm bảo sự hòa hợp về giá trị và bền vững trong mối quan hệ.
Môn đăng hộ đối. Hôn nhân của người xưa yêu cầu môn đăng hộ đối là một khái niệm được mở rộng từ kiến trúc.
Mọi người đều quen thuộc với từ môn đương hộ đối hay thường gọi là môn đăng hộ đối và đều biết ý chỉ ra thế địa vị xã hội và hoàn cảnh kinh tế của hai bên nam nữ cần phải tương đương mới thích hợp để kết hôn.
Đây là noi theo một loại quan điệm dòng dõi được người Trung Quốc truyền thừa hàng trăm năm nay.
Trong thực tế, khái niệm môn đương và hộ đối này được mở rộng từ kiến trúc mà có.
Nguồn gốc của môn đương và hộ đối Thuyết Văn Giải Tự ghi rằng môn, văn giã, tòng nhị hộ, hộ, hộ giã, bán môn viết hộ, tạm dịch.
Môn được biết tạo từ hai hộ. Hộ là cánh cửa, nửa môn gọi là hộ.
Cho nên, môn đương và hộ đối thực sự là thành phần cấu tạo của cửa lớn trong kiến trúc dân cư thời cổ đại.
Môn đương là một bộ phận của môn trầm thạch.
Đá gối cửa trong kiến trúc thường được gọi là môn đôn, trụ cửa hay còn gọi là môn tọa, cây cửa, môn đài, bệ cửa, môn cổ, trống cửa.
Vì tính trống vang vọng uy nghiêm, mạnh như sấm xét nên người ta tin rằng nó có thể xua đuổi ma quỷ.
Nên dân gian đã dùng rộng rãi trống đá để thay thế cho môn đương.
Đây là môn đương là một cặp trụ đá đặt hai bên cổng dùng để trang trí cho ngôi nhà và ổn định mặt tiền.
Là điêu khắc gỗ hoặc điêu khắc gạch hình trụ đặt ở phía trên hoặc hai bên của trụ tròn, trụ lục rác.
Dùng để treo đèn lồng khi có việc ăn mừng, hộ đối là những khối kiến trúc hình tròn, hình vuông hoặc hình lục rác với chiều dài một thước 33,3 cm,
nằm trên đà cửa, mi cửa, môn mi, song song với mặt đất, thường được chạm khắp bốn mùa hoa lá hoặc các chữ cát tường như ý,
phúc lọc thọ đức, bình an cát tường với ngụ ý cầu nhân khí thịnh vượng, hương hỏa mãi truyền.
Hộ đối thể hiện địa vị, đẳng cấp của gia chủ.
Nếu bách tính bình dân, thông thường thì đều có hai cánh cửa đối nhau, cửa đôi, cửa hai cánh.
Nhà quan hay phú hộ thì có bốn cánh cửa, hai đôi, hoàng thân quý tộc thì có thể có nhiều hơn nữa.
Song nhất định là thành cặp, thành đối cho nên gọi là hộ đối.
Hoa văn trên môn đường và hộ đối thường được điêu khắp, chọn kích thước lớn nhỏ phù hợp với thân phận của chủ nhân.
Số lượng hộ đối cho thấy tiền tài quyền thế cao thấp của gia chủ,
cho nên môn đường và hộ đối ngoài tác dụng trang trí nhà cửa mà còn là biểu tượng quan trọng thể hiện thân phận, địa vị và gia cảnh của chủ nhân ngôi nhà.
Người xưa rất coi trọng quan niệm đẳng cấp môn đệ, trong việc hôn nhân đại sự lại càng như vậy.
Trong xã hội Trung Quốc hàng nghìn năm, người ta luôn thỉnh mời người mai mối tìm kiếm thông gia phù hợp để gả con.
Thời xưa, người mai mối phải quan sát cách trang trí môn đường, hình dáng và số lượng hộ đối.
Nếu chữ môn đường được khắc hoa văn cho thấy ngôi nhà là một gia đình kinh doanh, nếu nó trơn không có hoa văn thì đó là phủ của quan.
Nếu môn đường trước cửa là hình vuông có linh thú đứng trên thì đây là nhà quan văn.
Quan văn thường chạm chỗ rương thư và nghiên đài.
Phía trên rương thư có hình thủy thú, linh vật để trang trí và chấn trạch.
Trước nhà quan võ hẳn niên sẽ có đôi chống chiến, chính là hình tròn.
Mặt khác, nếu tìm một nhà có số hộ đối tương hợp sẽ dễ thành công, ngược lại sẽ là môn bất đương hộ bất đối.
Bất cứ việc gì chỉ có xứng đôi mới phối hợp lâu dài, cũng chỉ có xứng đôi mới có thể phát triển tốt.
Giữa người với người cũng tồn tại cách nói xứng đôi vừa lứa, cho nên từ xưa mới có hợp hôn.
Đó là sự hòa hợp của tứ trụ, năm, tháng, ngày, giờ.
Giờ của hai người. Từ xưa đến nay, bác tự hợp hôn là sự kết hợp của hai người.
Hai gia đình nên việc lựa chọn đầu tiên là sự hợp tuổi.
Hợp tuổi với nhau là tốt nhất.
Thực chất, đây là những phép tính về chỉ số hạnh phúc của hai người.
Hai gia đình có môn đương hộ đối hay không?
Tất nhiên, một cuộc hôn nhân hạnh phúc phụ thuộc vào hai cá nhân cùng nhau duy trì nó.
Chứ không phải chỉ đơn giản dựa vào ngày tháng năm sinh của nam nữ mà khẳng định hôn nhân có hạnh phúc hay không.
Khi hai người hạnh phúc, đồng thời có thể thúc đẩy sự gắn kết của hai gia đình,
thế giới quan và giá trị quan của hai người có thể đồng bộ với nhau,
đây mới là ý nghĩa chân chính của môn đương hộ đối.