#boonetwork#tintuctrungquoc#tintucquocte#phantichvabinhluan CƠN ÁC MỘNG CỦA TÀU: Nhật Phá Bỏ Lệnh Cấm 80 Năm, Bán Vũ Khí Cho Philipines, Bắc Kinh Bất Lực! Có một sai lầm chí mạng trong tư duy chiến lược: chèn ép một gã khổng lồ có quá khứ lừng lẫy và nghĩ rằng họ sẽ chấp nhận im lặng mãi mãi. Nhìn vào những thước phim khoe tàu sân bay và tiêm kích thế hệ mới của Trung Quốc, người ta cứ ngỡ Bắc Kinh đã nắm chắc phần thắng trong cuộc đua giành quyền kiểm soát các vùng biển chiến lược. Nhưng chiếc lò xo mang tên Nhật Bản bị nén chặt suốt hơn 80 năm qua, bỗng chốc bật ngược trở lại bằng một phát súng luật pháp chấn động: chính thức dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sát thương. Tại sao sự chuyển đổi sâu sắc từ học thuyết hòa bình sang trạng thái sẵn sàng bán máy bay chiến đấu và tàu chiến cho nước ngoài của Tokyo lại là cơn ác mộng của đại lục? Bởi vì khi các động thái đơn phương thay đổi nguyên trạng của Trung Quốc vượt quá giới hạn chịu đựng, các quốc gia láng giềng buộc phải dựng lên những hàng rào phòng vệ tối tân nhất. Việc Nhật Bản tái vũ trang không phải là sự liều lĩnh cá nhân, mà là một hệ quả tất yếu từ chính chiến lược hung hăng mà Bắc Kinh theo đuổi suốt nhiều năm qua. Đi đêm lắm có ngày gặp ma, và 'món quà' gậy ông đập lưng ông này đang khiến chuỗi kiểm soát khu vực của Trung Quốc nứt vỡ ra sao? Bật chế độ hóng cùng BOO NETWORK để bóc trần sự thật ngay sau đây! 00:00 - 01:20 MỞ ĐẦU 01:21 - 05:20 SỰ SỤP ĐỔ CỦA HIẾN PHÁP HÒA BÌNH 05:21 - 08:38 SỰ GIẬN DỮ TRONG THẾ KẸT CHIẾN LƯỢC 08:39 - 11:39 ĐỀN YASUKUNI VÀ BIỂU TƯỢNG CỦA SỰ KHÔNG THỎA HIỆP 11:40 - 14:59 CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN CỦA TOKYO
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Có một sai lầm trí mạng trong tư duy chiến lược đó là
che nét một gã khổng lồ có quá khứ lửng lẫy và nghĩ rằng họ sẽ chấp nhận im lặng mãi mãi.
Nhìn vào những thương phim khoe tàu sân bay, tiêm kích thế hệ mới của Trung Quốc,
người ta cư ngỡ Bắc Kinh đã nắm chắc phần thắng trong cuộc đua dành quyền kiểm soát các vùng biển chiến lược.
Nhưng chiếc lò xo mang tên Nhật Bản bị nén chặt suốt hơn 80 năm qua,
bỗng chốc bật ngược trở lại bằng một phát súng luật pháp chấn động,
đó là chính thức dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sát thương.
Tại sao sự chuyển đổi sâu sắc từ học thuyết hòa bình sang trạng thái sẵn sàng bán máy bay chiến đấu
và tàu chiến cho nước ngoài của Tokyo lại là cơn ác mộng của Trung Quốc đại lục?
Bởi vì khi các động thái đơn phương thay đổi nguyên trạng của Trung Quốc vượt qua giới hạn chịu đựng,
các quốc gia láng giềng buộc phải dựng lên những hàng rào phòng vệ tối tân nhất.
Việc Nhật Bản tái vũ trang không phải là sự liều lĩnh cá nhân,
mà là một hệ quả tất yếu từ chính chiến lược hung hăng mà Bắc Kinh theo đuổi suốt nhiều năm qua.
Đi đêm lắm có ngày gặp ma và món quà gậy ông đập lưng ông này
đang khiến chuỗi kiểm soát khu vực của Trung Quốc nứt vỡ ra sao?
Hãy cùng bật chế độ hóng cùng Bunei Quốc để tìm hiểu sự thật này trong video ngày hôm nay nhé!
Trong suốt nhiều thập kỷ sau Thời chiến thứ 2,
Nhật Bản được xem là biểu tượng của một quốc gia tư bỏ tham vọng quân sự
để tập trung hoàn toàn vào phát triển kinh tế.
Điều chính của Hiến pháp Hòa bình cùng các nguyên tắc kiểm soát xuất khẩu vũ khí
được ban hành năm 1967 và siết chặt hơn vào năm 1976
đã trở thành những xiềng sích pháp lý chói buộc Tokyo.
Nhật Bản gần như tự nguyện rút khỏi thị trường quốc phòng toàn cầu,
chỉ cho phép chuyển giao những thiết bị mang tính hỗ trợ như công nghệ giám sát,
phương tiện cứu hộ, thiết bị giả phá bom mìn hoặc khí tài phi sát thương phục vụ mục đích nhân đạo.
Trong nhiều năm, chính sách này được Bắc Kinh tận dụng như một lợi thề chiến luật.
Một Nhật Bản giàu có nhưng bị giới hạn về vai trò quân sự
đồng nghĩa với việc Trung Quốc có thêm không gian để mở rộng ảnh hưởng tại Biển Hoa Đông và Biển Đông
mà không phải đối mặt với nguy cơ Tokyo trở thành một đối thủ quốc phòng chủ động.
Thế nhưng, bức tranh ấy đang thay đổi với tốc độ chóng mặt.
Xác lệnh mới dưới thời nội Sanai Takeshi không đơn thuần là một bản cập nhật kỹ thuật
đối với quy trình xuất khẩu quốc phòng. Đây là quyết định mang tính lịch sử,
đánh dấu thời điểm Nhật Bản chính thức bước qua làn danh đỏ mà chính họ thiết lập gần 60 năm trước.
Về nguyên tắc, Tokyo giờ đây có thể chuyển giao toàn bộ danh mục thiết bị quốc phòng hạng nặng
cho các đối tác đáp ứng điều kiện pháp lý. Từ máy bay chiến đấu thế hệ mới,
tên lửa dẫn đường chính xác, hệ thống phòng thủ hiện đại cho tới các tàu chiến cỡ lớn,
những sản phẩm từng bị xem là bất khả xâm phạm trong chính sách quốc phòng Nhật Bản,
nay đã trở thành công cụ ngoại giao và gian đe chiến lược.
Điều đó phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong tư duy an ninh của Tokyo.
Nhật Bản không còn lựa chọn cách đứng phía sau chiếc ô bảo hộ của Mỹ như trước đây,
họ đang chuyển mình từ một quốc gia phòng thủ thụ động
thành một chủ thể tích cực trong việc định hình cán cân sức mạnh khu vực.
Nếu trước kia, Tokyo chỉ tập trung vào việc bảo vệ lãnh thổ,
thì giờ đây họ sẵn sàng chia sẻ năng lực quốc phòng với các quốc gia cùng chung lợi ích chiến lược.
Đáng chú ý hơn, quá trình này không diễn ra trong khoảng trống địa chính trị.
Ít nhất 17 quốc gia đã được đưa vào danh sách đủ điều kiện để tiếp cận nguồn khí tài Nhật Bản
thông qua các cam kết tuân thủ hiến trương Liên Hợp Quốc và các cơ chế hợp tác song phương.
Còn số này cũng dự báo sẽ tiếp tục mở rộng khi Tokyo ký thêm các hiệp định an ninh mới.
Mũi nhọn tiên phong đầu tiên chính là Australia.
Thỏa thuận trị giá 7 tỷ đô la giữa Mitsubishi Harvey Energy và Canberra
đã trở thành minh chứng rõ nét nhất cho bước ngoặt này.
Theo đó, Tập đoàn Công nghiệp nặng hàng đầu Nhật Bản sẽ trực tiếp đóng 3 tàu chiến đầu tiên
trong chương trình 11 chiến hạm dành cho Hải quân Australia.
Đây không chỉ là hợp đồng thương mại mà còn là tuyên bố rằng
công nghiệp quốc phòng Nhật Bản đã chính thức bước ra sân khấu toàn cầu.
Tại Đông Nam Á, hiệu ứng dây chuyển cũng bắt đầu hình thành.
Philippines, quốc gia đang chịu áp lực trực diện từ các hoạt động gây tranh cãi của Trung Quốc trên Biển Đông,
tích cực tìm kiếm các nguồn cung vũ khí chất lượng cao.
Indonesia đẩy mạnh đối thoại quốc phòng với Tokyo.
New Zealand cũng được xem là một đối tác tiềm năng trong mạng lưới an ninh mới đang dần định hình.
Bù cho rằng đây chính là nghịch lý lớn nhất đối với Bắc Kinh.
Trong nỗ lực áp đặt sức mạnh nhằm mở rộng ảnh hưởng khu vực,
Trung Quốc đã vô tình tạo ra điều mà họ muốn né tránh nhất,
đó là một Nhật Bản quyết đoán hơn, chủ động hơn và sẵn sàng sử dụng năng lực công nghiệp quốc phòng
để xây dựng mạng lưới gian đe trải dài từ Đông Bắc Á xuống tận Nam Thái Bình Dương.
Chiếc áo giáp hòa bình từng giúp Nhật Bản tránh xa những tranh cãi quân sự quốc tế đang dần được cởi bỏ.
Và khi Tokyo bước ra khỏi cái bóng của quá khứ,
thì trật tự an ninh châu Á cũng đang bước vào một chương hoàn toàn mới.
Phản ứng của Bắc Kinh diễn ra gần như ngay lập tức.
Ngay sau khi Tokyo phát đi tín hiệu mở rộng chính sách xuất khẩu quốc phòng,
người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Quách Sai Khôn,
đã công khai chỉ trích quyết định này là hành động quân sự hóa kiểu mới một cách liều lĩnh,
đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế nâng cao cảnh giác trước những thay đổi trong chính sách an ninh của Nhật Bản.
Bề ngoài, đó là một tuyên bố ngoại giao quen thuộc.
Nhưng dưới góc nhìn của Bù, ngôn từ ấy phản ánh nhiều hơn một sự bất đồng quan điểm.
Nó cho thấy tâm lý lo ngại ngày càng lớn của Bắc Kinh trước một thực tế chiến lược hoàn toàn mới.
Trong suốt nhiều năm, Trung Quốc đã quen với hình ảnh một Nhật Bản bị răng buộc bởi các giới hạn hiến pháp.
Tokyo phụ thuộc đáng kẻ vào liên minh với Mỹ và gần như không tham gia vào các cuộc cạnh tranh xuất khẩu vũ khí quốc tế.
Điều đó giúp Bắc Kinh duy trì lợi thế nhất định trong việc gây sức ép lên các quốc gia nhỏ hơn xung quanh các điểm nóng khu vực.
Tuy nhiên, lợi thế ấy đang dần bị sói mòn.
Một khi Nhật Bản trở thành nhà cung cấp khí tài đáng tin cậy,
những quốc gia vốn thiếu lựa chọn sẽ có thêm nguồn tiếp cận công nghệ quân sự tiên tiến.
Philippines có thể nâng cao năng lực phòng thủ biển, Indonesia có thêm phương án hiện đại hóa lực lượng,
còn Australia củng cố sức mạnh hải quân bằng công nghệ Nhật Bản.
Chi phí cho mọi hành động cương ép vì thế cũng tăng lên đáng kẻ.
Điều đáng chú ý là sự mâu thuẫn trong chính lập luận của Bắc Kinh.
Trong nhiều năm qua, Trung Quốc liên tục tăng ngân sách quốc phòng lên mức hàng trăm tỷ đô la mỹ mỗi năm,
hải quân được mở rộng với tốc độ chưa từng có,
các đảo nhân tạo tại Biển Đông bị quân sự hóa bằng đường băng, nhà chơi máy bay và hệ thống tên lửa.
Những cuộc tuần tra áp sát Đài Loan diễn ra thường xuyên hơn.
Thế nhưng cũng lúc đó, Bắc Kinh lại yêu cầu Nhật Bản tiếp tục duy trì trạng thái gần như giải pháp của nhiều thập kỷ trước.
Đó là nghịch lý khó có thể giải thích nếu thực sự xuất phát từ mong muốn bảo vệ hòa bình khu vực.
Nếu việc tăng cường năng lực quân sự được xem là quyền chính đáng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia đối với Trung Quốc,
thì tại sao nguyên tắc tương tự lại không được chấp nhận đối với Nhật Bản và quốc gia láng giềng?
Bù cho rằng câu trả lời nằm ở bản chất của tư duy cường quyền.
Điều khiến Bắc Kinh lo ngại không phải là nguy cơ hòa bình bị phá vỡ,
mà là nguy cơ đánh mất vị thế độc quyền trong việc sử dụng sức mạnh để áp đặt ý chí lên môi trường an ninh xung quanh.
Một Nhật Bản xuất khẩu tàu chiến, tên lửa và công nghệ quốc phòng,
đồng nghĩa với việc các quốc gia nhỏ hơn sẽ có thêm công cụ để tự bảo vệ mình.
Và khi khả năng cường ép không còn diễn ra trong điều kiện tranh lệch tuyệt đối,
toàn bộ chiến lược dựa trên yêu thế sức mạnh cũng buộc phải tinh toán lại.
Sự giận dữ của Bắc Kinh vì thế không đơn thuần là phản ứng ngoại giao,
nó là biểu hiện của một thế kẹt chiến lược đang dần hiện rõ.
Càng quyết đoán để mở rộng ảnh hưởng, Trung Quốc càng thúc đẩy các nước xung quanh xích lại gần nhau hơn.
Cuối cùng, điều khiến Bắc Kinh cố ngăn cản suốt nhiều năm lại xuất hiện theo cách mạnh mẽ nhất.
Không phải Washington, mà chính những hành động của Trung Quốc đã góp phần thúc đẩy sự trở lại của một Nhật Bản,
sẵn sàng đóng vai trò lớn hơn trong cấu trúc an ninh châu Á và Thái Bình Dương.
Nếu việc dỡ bỏ các rào cản xuất khẩu vũ khí là thông điệp cúng rắn về mặt chiến lược,
thì hành động mang tính nghi thức của Thủ tướng Sanai Takechi lại là lời tuyên bố đầy tính biểu tượng về mặt chính trị.
Gần như cùng thời điểm Tokyo công bố bước ngoặt lịch sử trong chính sách quốc phòng,
dư luận khu vực tiếp tục chứng kiến một động thái gây tranh cãi khác,
đó là việc bà Sanai Takechi gửi lễ vật cúng rường tới đền Yasukuni nhân dịp lễ hội xuân.
Đối với Trung Quốc và Hàn Quốc, Yasukuni là biểu tượng của quá khứ đau thương thời chiến.
Ngôi đền này thở phụng khoảng 2,5 triệu người Nhật tử trận,
trong đó có 14 tội phạm chiến tranh loại A bị kết án sau Thế chiến thứ 2.
Trong nhiều thập kỷ, mỗi lần một chính trị gia Nhật Bản viếng thăm hoặc gửi lễ vật tới Yasukuni,
Bắc Kinh đều phản ứng dư dội, coi đây là bằng chứng cho thấy Tokyo chưa thực sự hối lỗi.
Và chính vì thế, hành động của bà Takechi mang ý nghĩa vượt xa một nghi thức tôn xáo đơn thuần.
Bắc Kinh từ lâu đã biến vấn đề Yasukuni thành một công cụ gây áp lực ngoại giao hiệu quả.
Bằng việc liên tục khơi gọi lại ký ức chiến tranh, Trung Quốc vừa củng cố chủ nghĩa dân tộc trong nước,
vừa đặt Nhật Bản vào trạng thái phòng thủ về mặt đạo đức.
Tokyo thường phải cân nhắc từng bước đi, lo ngại rằng bất kỳ động thái nào liên quan đến Yasukuni
cũng có thể châm ngòi cho khủng hoảng ngoại giao.
Nhưng Sanae Takechi dường như không chấp nhận lô dịch đó.
Là một trong những gương mặt diều hâu nổi bật nhất của chính trường Nhật Bản,
bao nhiêu lần khẳng định rằng việc tưởng niệm những người đã ngã xuống là quyền nội tại của quốc gia Nhật Bản
không thể bị quyết định bởi phản ứng từ bên ngoài.
Việc gửi lễ vật tới Yasukuni trong bối cảnh căng thẳng Nhật Trung leo thang,
vì thế giống như một lời tuyên bố,
Nhật Bản sẽ không tiếp tục để mặc cảm lịch sử trở thành siêng xích chi phối mọi quyết định chiến lược của mình.
Bù cho rằng đây là dấu hiệu cho thấy một sự dịch chuyển sâu sắc trong tâm lý quốc gia của Tokyo.
Sau gần 80 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc,
Nhật Bản đang từng bước thoát khỏi hình ảnh của một quốc gia luôn phải cúi đầu trước quá khứ.
Những ký ước về Hiroshima và Nagasaki vẫn còn đó,
những bài học lịch sử vẫn được ghi nhớ,
nhưng chúng không còn là lý do để đất nước này từ bỏ quyền tự vệ và quyền định đoạt lợi ích an ninh của chính mình.
Nhật Bản thế kỷ 21 không còn nhìn thế giới qua lăng kính của sự thất trận.
Họ nhìn vào thực tế rằng, môi trường an ninh đang thay đổi nhanh chóng,
các cuộc cạnh tranh sức mạnh ngày càng khốc liệt,
những vùng biển xung quanh trở nên bất ổn hơn,
và trong một thế giới như vậy, không một quốc gia nào có thể bảo vệ hòa bình nếu chỉ dựa vào thiện trí của đối phương.
Thông điệp mà bà Takachi gửi đi rất rõ ràng,
Nhật Bản sẵn sàng đối diện với chỉ trích, sẵn sàng chấp nhận những tranh cãi lịch sử,
nhưng sẽ không từ bỏ quyền bảo vệ tương lai của mình.
Đó không chỉ là bản lĩnh của một nhà lãnh đạo,
mà còn là biểu tượng cho sự chấm dứt của kỳ nguyên mặc cảm kéo dài gần một thế kỷ.
Nếu quan sát kỳ các bước đi gần đây của Tokyo, có thể thấy Nhật Bản không đơn thuần theo đuổi chính sách tái vũ trang,
điều họ đang xây dựng là một kiến trúc phòng thủ đa tầng với phạm vi ảnh hưởng trải rộng khắp chuỗi đảo Tây Thái Bình Dương.
Một trong những chi tiết đáng chú ý nhất nằm ở chính các điều khoản pháp lý mới.
Mặc dù nhiều nguồn tin cho biết Nhật Bản vẫn duy trì nguyên tắc hạn chế xuất khẩu vũ khí
tới các quốc gia đang tham chiến chiến sự trực tiếp,
Nội các Nhật Bản đồng thời thiết lập những ngoại lệ dựa trên lợi ích an ninh quốc gia.
Đây là khoảng linh hoạt chiến lược cực kỳ quan trọng.
Điều đó có nghĩa rằng, trong những tình huống đặc biệt đe dọa trực tiếp đến môi trường an ninh của Nhật Bản,
Tokyo có thể nhanh chóng điều chỉnh chính sách để hỗ trợ các đối tác mà không bị bó buộc tuyệt đối bởi những rào cản truyền thống.
Đó là sự khác biệt giữa tư duy pháp lý cứng nhất của quá khứ và tư duy gian ne linh hoạt của hiện đại.
Tokyo đã rút ra bài học tới những cuộc khủng hoảng quốc tế gần đây,
nếu chờ đợi mối đe dọa xuất hiện ngay trước cửa nhà mới hành động thì cây giá phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều.
Bởi vậy, Nhật Bản lựa chọn chiến lược phòng thủ từ xa.
Thay vì chỉ tập trung vào bảo vệ quần đảo Senkaku hoặc chờ đợi tàu chiến Trung Quốc tiến sâu vào eo biển Miyako,
thì Tokyo đã chủ động nâng cao năng lực phòng thủ của các quốc gia nằm trên tuyến tiếp xúc đầu tiên với sức ép địa chính trị.
Philippines trở thành mắt xích quan trọng của chiến lược này.
Là quốc gia thường xuyên xảy ra va chạm trên Biển Đông, Manila có nhu cầu cấp thiết về các trang thiết bị hiện đại
nhằm nâng cao khả năng giám sát và phản ứng trên biển.
Indonesia với vị trí án ngữ nhiều tuyến hàng hải chiến lược cũng nổi lên như một đối tác quốc phòng tiềm năng.
Việc tăng cường hợp tác với Jakarta giúp Nhật Bản mở rộng chiều sâu chiến lược xuống Đông Nam Á.
Khi kết hợp với Australia ở phía Nam và liên minh với Mỹ ở phía Đông,
Tokyo đang góp phần hình thành một mạng lưới an ninh đa tầng có khả năng phân tán áp lực và gia tăng chi phí
đối với bất kỳ hành động phiêu lưu quân sự nào.
Dưới góc nhìn của Buu thì đây là thay đổi mang tính bước ngoặt.
Nhật Bản không tìm kiếm đối đầu trực tiếp bằng cách phô trương sức mạnh đơn độc.
Thay vào đó, họ xây dựng khả năng gian đe tập thể thông qua việc chia sẻ công nghệ,
chuyển giao năng lực quốc phòng và củng cố sức đề kháng của các quốc gia cùng chung lợi ích.
Mỗi tàu tuần tra được ban giao, mỗi hợp đồng quốc phòng được ký kết,
mỗi cuộc tập trận chung được tổ chức, đều góp thêm một viên gạch vào bức tường phòng thủ khu vực.
Nghịch lý lớn nhất đối với Bắc Kinh là chính những hành động quyết đoán nhằm mở rộng ảnh hưởng
lại đang thúc đẩy quá trình liên kết mà họ muốn ngăn chặn.
Thay vì khiến các nước láng giềng trùn bước, sức ép ngày càng lớn đã khiến họ xích lại gần nhau hơn.
Và khi toàn bộ chuỗi đảo thứ nhất dần trở thành một chiến lũy liên kết về lợi ích và năng lực phòng thủ,
thì tham vọng độc chiếm không gian biển của bất kỳ cường quốc nào
cũng sẽ phải đối mặt với những rào cản lớn chưa từng có trong nhiều thập kỷ qua.
Và đó cũng là những thông tin mà chúng tôi muốn gửi từ quý vị trong video ngày hôm nay.
Nếu video hay thì đừng tiếc một lượt like, share và đăng ký kênh để ủng hộ cho Buôn An Quốc nhé!
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!