Cách TT Trump hóa giải Gông Cùm Tư Pháp từ Tối cao Pháp viện Không có bước đường cùng

Tinh Hoa TV
4.9K người theo dõi
➡️ Ủng hộ chúng tôi trên Gan Jing World (Thế Giới Kiền Tịnh): https://ganjing.b3355.xyz/s/enZA72...
Tinh Hoa TV mong muốn được phục vụ Quý khán giả tốt hơn, vì thế đừng chần chừ gửi những phản hồi, ý kiến, đóng góp của mọi người đến với Kênh thông qua các bình luận, like, share hoặc qua email của kênh:
▶️ Fanpage: https://www.fb.com/tinhhoatv.official/
▶️ Youtube: / @60stinhhoatv
▶️ Email: [email protected]
▶️ Wesbite: https://tinhhoa.net/
▶️ Telegram: https://t.me/tinhhoanet
⚛️ Video của chúng tôi có sử dụng hình ảnh, âm nhạc của bên thứ 3. Nếu bạn có khiếu nại bản quyền, vui lòng thông báo cho chúng tôi để có thể khắc phục những vấn đề liên quan.
Xin chân thành cảm ơn!
#tinhhoatv #tinhhoa #tintucmy
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Kính thưa quý vị, trong gần một thập niên qua, kể từ khi bước vào chính trường Hoa Kỳ năm 2015,
Tổng thống Donald Trump đã trở thành một nhân vật chính trị đặc biệt và gây nhiều tranh luận nhất tại Hoa Kỳ.
Một trong những điểm khiến cho cả những người ủng hộ lẫn những người chỉ trích ông chú ý
chính là khả năng tiếp tục tiến lên ngay cả khi phải đối mặt với những trở ngại pháp lý lớn.
Điều này càng chính xác hơn khi mà trong những ngày mới đây,
tối cả pháp viện đột nhiên ra một phán quyết gây tranh cãi và đi ngược lại với tư duy tổng quát
nhằm ưu ái các chủ trương cấp tiến và khóa tay tổng thống đối với các quyết sách
từ liêm chính bầu cử, nhậm cư cho đến cả những vấn đề khác.
Trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ, tối cả pháp viện thường được xem là cơ quan trọng tài cao nhất.
Các phán quyết của cơ quan này nhiều khi được coi là tiếng nói chung cuộc đối với những cuộc tranh chấp lớn giữa các nhánh quyền lực.
Theo thông lệ chính trị bấy lâu nay, khi một tổng thống nhận một phán quyết bất lợi từ tối cả pháp viện,
phản ứng phổ biến đó là chấp nhận kết quả và chuyển sang theo đuổi một nghị trình khác.
Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy tổng thống Trump lại nhìn nhận vấn đề theo một cách khác.
Đối với ông, một phán quyết bất lợi không phải là một thất bại cuối cùng,
đó chỉ là một trở ngại tạm thời và chính phủ chỉ cần điều chỉnh cách tiếp cận
rồi tìm kiếm một con đường khác để có thể tiếp tục theo đuổi mục tiêu.
Trong nhiều năm qua, tổng thống Trump đã nhiều lần biến những thất bại pháp lý ngắn hạn
thành động lực cho những cuộc chiến chính trị mới.
Hay vì coi phán quyết của tòa là điểm kết thúc, ông xem đó là điểm khởi đầu của một giai đoạn tiếp theo.
Và đây không chỉ là một phản ứng mang tính tình huống và là một tư duy chiến lược tương đối nhất quán.
Để hiểu được điều này, chúng ta cần nhìn vào cách ông Trump đánh giá hệ thống chính trị Hoa Kỳ.
Theo cách nhìn của ông, chính trị là một đấu trường rộng lớn hơn
nơi quốc hội, tòa bạch óc, truyền thông, dư luận xã hội và cử tri luôn tác động qua lại và cạnh tranh ảnh hưởng.
Trong bức tranh đó, tòa án chỉ là một mặt trận
và thậm chí ông xem đây chỉ là một biến mảnh nhỏ trong một bữa tiệc lớn mà thôi.
Chiều sâu lịch sử và những tiền lệ lớn về sự đối đầu giữa hành pháp và tư pháp.
Thì để hiểu rõ hơn cách tổng thống Trump đối phó với những phán quyết bất lợi từ tối cả pháp viện,
chúng ta sẽ cần nhìn lại lịch sử.
Thì trên thực tế, đây không phải là một hiện tượng mới xuất hiện trong nền chính trị Hoa Kỳ.
Trong hơn 2 thế kỷ qua, nhiều tổng thống Hoa Kỳ đã từng đối mặt với các phán quyết
gây trở ngại cho những mục tiêu chính sách quan trọng của mình.
Tuy nhiên, họ không xem đó là dấu chấm hết.
Trường hợp đầu tiên thường được nhắc đến chính là tổng thống Andrew Jackson
và vụ kiện lịch sử Worcester kiện Georgia vào năm 1832.
Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ đang tranh cãi gây gắt về chính sách di dời người da đỏ bản địa
ra khỏi các vùng đất ở phía đông để mở rộng lãnh thổ cho người định cư.
Tối cả pháp viện dưới sự lãnh đạo của chánh án John Marshall
đã phán quyết rằng tiểu bang Georgia không có thẩm quyền
áp đặt luật pháp của mình lên lãnh thổ của thổ dân Cherokee
bởi các bộ tộc này được bảo vệ bởi các hiệp ước liên bang.
Về mặt pháp lý, đây là một phán quyết có ý nghĩa rất lớn.
Nó tạo ra trở ngại đáng kể đối với một chính sách mà chính phủ tổng thống Jackson đang theo đuổi.
Tuy nhiên, phản ứng của ông Jackson đã trở thành một trong những chương gây tranh cãi nhất trong lịch sử chính trị Hoa Kỳ.
Đại ý là ông nói, thẩm phán tối cao John Marshall đã đưa ra phán quyết của mình,
giờ thì cứ để ông ấy tự đi mà thực thi nó.
Qua đó, ông đã khiến phán quyết của tòa gần như không được thực thi.
Tổng thống Jackson hiểu rằng, tối cao pháp viện có nguyên giải thích hiến pháp và đưa ra phán quyết,
nhưng việc thực thi trên thực tế thì vẫn phụ thuộc rất nhiều vào sự phối hợp của nhánh hành pháp.
Và nếu người đứng đầu nhánh hành pháp là tổng thống,
kiên quyết không hành động theo thì tòa có nói gì thì cũng vô dụng.
Trường hợp thứ 2 là cuộc đối đầu nổi tiếng giữa tổng thống Franklin T. Roosevelt
và tối cao pháp viện trong giai đoạn từ năm 1935 đến năm 1937.
Khi bước vào tòa Bạch Ốc giữa cuộc đại sư thoái,
tổng thống Roosevelt đã đưa ra chương trình New Deal hay còn gọi là chính sách mới,
với hàng loạt đạo luật nhằm phục hồi nền kinh tế, hỗ trợ người lao động và mở rộng vai trò của chính phủ liên bang.
Tuy nhiên, tối cao pháp viện thời điểm đó liên tiếp bác bỏ một số đạo luật quan trọng của New Deal.
Các thẩm phán cho rằng chính phủ liên bang đã vượt qua phạm vi quyền hạn được khiến pháp trao cho.
Nhiều người khi đó đã tin rằng chương trình cải cách của tổng thống Roosevelt đã rơi vào ngõ cục,
nhưng Roosevelt không chấp nhận cách nhìn đó. Ông lựa chọn một hướng đi khác.
Ông trực tiếp đưa cuộc tranh luận từ phòng sự án ra trước công chúng và sử dụng sự ủng hộ mạnh mẽ của cử tri để gây áp lực chính trị.
Tổng thống Roosevelt cho rằng tối cao pháp viện đang cản trở những nỗ lực
nhằm đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.
Đỉnh điểm của cuộc đối đầu này là kế hoạch cải tổ hệ thống tư pháp vào năm 1937,
thường được gọi là kế hoạch nhồi nhét tòa án.
Đề xuất này cho phép tổng thống bổ sung thêm các thẩm phán mới trong một số điều kiện nhất định,
qua đó có thể làm thay đổi tương quan lực lượng bên trong tối cao pháp viện.
Kế hoạch đó cuối cùng đã không được Quốc hội thông qua.
Tuy nhiên, áp lực chính trị mà tổng thống Roosevelt tạo ra đã để lại tác động đáng kể.
Sau đó, tối cao pháp viện bắt đầu đưa ra một số phán quyết có lợi hơn đối với các chương trình của New Deal.
Trường hợp thứ 3 là tổng thống Abraham Lincoln.
Trong một vụ kiện tranh cãi bậc nhất của lịch sử Hoa Kỳ,
tối cao pháp viện tuyên bố rằng người Mỹ ngốc Phi, dù là nô lệ hay đã được tự do,
đều không phải là công dân Hoa Kỳ và không có quyền khởi kiện tại tòa án liên bang.
Và cũng cho rằng Quốc hội liên bang không có quyền cấm chế độ nô lệ tại khắp vùng lãnh thổ mới.
Phán quyết này đã tạo ra một làn sóng tranh luận sầu sắc trên khắp nước Mỹ
và đặt ra thách thức rất lớn đối với đảng Cộng Hòa non trẻ,
lực lượng đang phản đối việc mở rộng chế độ nô lệ.
Tuy nhiên, ông không đồng ý với quan điểm cho rằng
một phán quyết như vậy phải trở thành nguyên tắc chính trị vĩnh viễn,
ràng buộc mọi chính sách trong tương lai.
Tổng thống Lincoln lập luận rằng nếu mọi vấn đề quốc gia
đều bị khóa chặt bởi các phán quyết trong từng vụ kiện riêng lẽ,
thì quyền quyết định vẫn mà nước nước sẽ không còn thuộc về người dân
và các cơ quan do người dân bầu ra.
Theo cách tiếp cận đó, ông Lincoln đã tiếp tục thúc đẩy các chính sách của mình
và cuối cùng nước Mỹ đã bước vào một giai đoạn cải cách sâu rộng sau cuộc nội chiến
với các tù chính án mới làm thay đổi nền tảng pháp lý của quốc gia.
Khi nhìn lại ba lát các lịch sử này,
thì chúng ta có thể thấy một điểm chung rất đáng chú ý.
Những tổng thống có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Hoa Kỳ
không phải lúc nào cũng đạt được mục tiêu của mình ngay từ lần đầu tiên.
Họ cũng từng gặp những rào cạn lớn từ tối cả pháp viện.
Tuy nhiên, họ không xem đó là một sự kết thúc của cuộc tranh luận.
Mà thay vào đó, họ tiếp tục tìm kiếm các công cụ khác mà hiến pháp cho phép,
từ việc vận động dư luận, xây dựng đồng thuận chính trị, điều chỉnh chiến lược,
cho đến thúc đẩy các thay đổi về lập pháp hoặc cải cách chính sách.
Chính trong bối cảnh lịch sử đó, cách tiếp cận của tổng thống Trump đã trở nên dễ hiểu hơn.
Chiến thuật và phản ứng thực tế trong các sự vụ điển hình
Thì để hiểu rõ hơn chiến lược của tổng thống Trump vận hành như thế nào trong thực tế,
chúng ta sẽ cần nhìn vào những sự vụ cụ thể đã diễn ra trong quá trình điều hành của ông.
Có lẽ với dụ điển hình nhất là cuộc chiến xung quanh sắc lệnh hành pháp hạn chế nhập cảnh
đối với công dân đến từ một số quốc gia có nguy cơ khủng bố cao trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump.
Ngay sau khi sắc lệnh được ký vào đầu năm 2017,
chính phủ của ông đã vấp phải làn sóng phản đối dữ dội từ nhiều tổ chức dân quyền,
các nhóm vận động nhập cư và một số tiểu bang do đảng Dân Chủ kiểm soát.
Hàng loạt thẩm phán tại các hòa án quận liên bang và tòa phúc thẩm
đã ra phán quyết đình chỉ thi hành sắc lệnh này, đặc biệt là tòa phúc thẩm khu vực số 9,
vốn thường được giới bảo thủ xem là có khuyến hưởng cấp tiến,
cũng đứng về phía các nguyên đơn phản đối sắc lệnh.
Thời điểm đó, rất nhiều nhà phân tích chính trị đã dự đoán rằng
một trong những cam kết nhập cư quan trọng nhất của tổng thống Trump đã thất bại ngay từ đầu.
Các đối thủ của ông tuyên bố rằng hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ
đã phát huy tác dụng để ngăn chặn sự mở rộng quá mức của quyền lực hình pháp.
Nếu là một chính trị gia truyền thống, nhiều khả năng thì họ sẽ tìm cách thỏa hiểm,
tạm gác chính sách hoặc là chuyển sang một ưu tiên khác nhằm tránh tổn hại về chính trị.
Thế nhưng mà tổng thống Trump lại lựa chọn một hướng đi hoàn toàn khác.
Ông không xem các phán quyết ngăn chặn của tòa án là dấu chấm hết.
Ngược lại, ông và đội ngũ pháp lý của mình xem đó là những tín hiệu cho thấy
chính sách cần được điều chỉnh ở đâu và cần được củng cố trên cơ sở nào.
Chính phủ tổng thống Trump đã nghiên cứu kỹ lập luận của các thẩm phán,
xác định những điểm bị phản đối và từng bước điều chỉnh chính sách.
Phiên bản đầu tiên được sửa đổi, phiên bản thứ hai tiếp tục được điều chỉnh.
Đến phiên bản thứ ba, sát lệnh được bổ sung thêm nhiều cơ sở pháp lý và an ninh quốc gia.
Phạm vi áp dụng được thay đổi, nguồn từ của sát lệnh được điều chỉnh cẩn trọng hơn.
Chính phủ cũng bổ sung thêm một số quốc gia không thuộc thế giới Hồi giáo
như Bắc Triều Tiên và Venezuela nhằm bác bỏ cáo buộc phân biệt tôn giáo.
Đồng thời, Bộ an ninh nội địa cũng cung cấp thêm các báo cáo chi tiết
về những nguy cơ an ninh nhằm củng cố lập luận của chính phủ.
Cuộc chiến pháp lý đã kéo dài qua nhiều vòng.
Và cuối cùng, trong vụ chính phủ tổng thống Trump kiện tiểu bang Hawaii năm 2018,
tối cao pháp viện đã ra phán quyết với tỷ lệ 5-4, đứng về phía chính phủ liên bang
và khẳng định rằng tổng thống có thẩm quyền rộng rãi
trong việc quyết định ai được phép nhập cảnh vào Hoa Kỳ vì lý do an ninh quốc gia.
Đây là một ví dụ điển hình cho thấy một thất bại pháp lý bang đầu
không nhất thiết sẽ dẫn đến một thất bại cuối cùng.
Ngược lại, nó có thể trở thành một bức đệm để điều chỉnh chiến thuật
và giành được kết quả mong muốn trong giai đoạn sau.
Cách tiếp cận này cũng được thể hiện rất rõ trong sự vụ liên quan
đến nguyên công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ.
Vào ngày 30 tháng 6 năm 2026, tối cao pháp viện đã ra phán quyết rằng
trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ, kể cả khi cha mẹ cư trú bớt hợp pháp
hoặc chỉ hiện diện tạm thời, vẫn là công dân Hoa Kỳ
theo cách diễn giải hiện hành của tù chính áng thứ 14.
Đây rõ ràng là một thất bại pháp lý đáng kể
đối với sắc lệnh hành pháp mà tổng thống Trump ký ngay trong ngày đầu tiên trở lại nhiệm sở.
Tuy nhiên, phản ứng của ông lại một lần nữa vạn ánh rõ nét
cách ông tiếp cận các thất bại pháp lý.
Thay vì là tuyên bố cuộc chiến đã kết thúc, ông Trump ngay lập tức chuyển sang một mặt trận khác.
Trên trường social, ông viết, tối cao pháp viện đã giữ nguyên quyền công dân
theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ.
Điều đó thật tệ cho đất nước chúng ta,
nhưng chúng ta có thể dễ dàng khắc phục điều đó tại quốc hội thông qua lập pháp.
Chỉ trong vài câu ngắn ngọn, tổng thống Trump đã thay đổi hoàn toàn trọng tâm của cuộc tranh luận.
Ông không tiếp tục tranh cãi về cách thẩm phán về cách diễn giải của tù chính áng thứ 14.
Ông cũng không trình bày sự việc như một thất bại cuối cùng.
Thay vào đó, ông chuyển sự chú ý của những người ủng hộ sang quốc hội.
Thông điệp mà ông đưa ra rất rõ ràng.
Nếu con đường tư pháp đã khép lại, thì vẫn còn con đường lập pháp.
Phó tổng thống J.D. Vance cũng có phản ứng tương tự.
Ông Vance gọi đây là một phán quyết phi lý, nhưng đồng thời nhấn mạnh.
Điểm sáng lớn là phán quyết chỉ được quyết định với cách biệt rất xích xào.
Theo ông Vance, khoảng cách bỏ phiếu hẹp cho thấy cuộc tranh luận pháp lý xung quanh vấn đề này vẫn đang tiếp diễn
và hoàn toàn có thể xuất hiện ở những diễn biến mới trong tương lai.
Lập luận này không thay đổi bản án của tối ca pháp viện.
Tuy nhiên mà về mặt chính trị, nó lại gửi đến những người ủng hộ một thông điệp khác.
Đó là cuộc chiến vẫn chưa hề kết thúc.
Ngược lại với các sự vụ bắt lợi, tổng thống Trump cũng cho thấy khả năng tận dụng các phán quyết thuận lợi từ tối ca pháp viện
để thúc đẩy chương trình nghị sự của mình.
Thì một ví dụ đáng chú ý đó là phán quyết liên quan đến quyền sa tải các viên chức trong những cơ quan quản lý độc lập của chính phủ liên bang.
Sự vụ bắt nguồn từ quyết định của tổng thống vào tháng 3 năm 2025
nhằm sa tải Ủy viên Ủy vang Thương mại Liên bang Rebecca Slaughter
mà không nêu lý do cụ thể.
Trong gần một thế kỷ, kể từ vụ Humphrey Executor kiện chính phủ Hoa Kỳ năm 1935,
nhiều viên chức tại các cơ quan bán độc lập được hưởng cơ chế bảo vệ đặc biệt
và không thể bị tổng thống sa tải tùy ý.
Tuy nhiên với tỷ lệ 6-3, tối cạp pháp viện đã kết luận rằng
những viên chức nằm trong phạm vi kiểm soát hành chính của nhánh hành pháp
có thể bị sa tải theo quyết định của tổng thống.
Phán quyết này được nhiều nhà bình luận bảo thủ xem là một bước ngoặt lớn
đối với quyền lực của nhánh hành pháp,
mở ra cơ hội để tổng thống Trump thực hiện cam kết cải tổ bộ máy hành chính liên bang.
Ngay sau đó, ông Trump đã ban hành cách xác lệnh hành pháp
liên quan đến việc điều chỉnh quy chế đối với nhiều vị trí công chức
có ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách.
Chúng ta có thể thấy là khi nhận được phán quyết thuận lợi,
ông hành động rất nhanh để chuyển lợi thế pháp lý
thành kết quả chính trị và hành chính cụ thể.
Những cuộc tranh chấp giữa tổng thống Trump và tối cạp pháp viện
không chỉ là ảnh hưởng đến các chính sách cụ thể trong nhiệm kỳ của ông.
Về lâu dài, chúng có thể góp phần định hình lại
cách các đời tổng thống tương lai nhìn nhận và sử dụng quyền lực hành pháp.
Thì để hiểu rõ ý nghĩa của tiến trình này,
chúng ta sẽ cần quay lại một trong những công trình
nghiệp cứu nổi tiếng nhất về quyền lực tổng thống tại Hoa Kỳ.
Đó là cuốn sách Tổng thống đế chế
The Imperial Presidency
của nhà sử học Arthur Schlesinger Jr.
Trong khoa học chính trị Hoa Kỳ,
khái miệm tổng thống đế chế không có nghĩa là một chế độ độc tài.
Thuật ngữ này được dùng để mô tả xu hướng quyền lực
của nhánh hành pháp ngày càng mở rộng theo thời gian,
đặc biệt trong các giai đoạn khủng hoảng.
Theo Schlesinger Jr,
lịch sử Hoa Kỳ cho thấy một quy luật khá rõ ràng.
Một khi bộ tổng thống thành công
trong việc mở rộng phạm vi quyền hạng của mình
và tạo ra một tuyển lệ mới
về cách sử dụng quyền lực,
những người kế nhiệm thường không tự nguyện từ bỏ quyền lực đó.
Dù thuộc đảng Cộng hòa
hay là đảng Dân Chủ,
họ có xu hướng tiếp tục sử dụng những công cụ
mà các đời tổng thống trước đã tạo ra.
Lịch sử Hoa Kỳ đã nhiều lần
chứng minh quy luật này.
Một ví dụ điển hình là
tổng thống Franklin D. Roosevelt.
Khi lệnh nắm quyền giữa bối cảnh
cuộc đại sư Thái đang tàn phá nền kinh tế Hoa Kỳ,
ông Roosevelt đã mở rộng
đáng kể vai trò của chính phủ liên bang
trong việc điều hành kinh tế và đời sống xã hội.
Chính phủ liên bang
can thiệp sâu hơn vào thị trường,
dạ văn các chương trình cấu trợ
và trao cho nhánh thành pháp nhiều công cụ mới
để quản lý đất nước.
Vào thời điểm đó,
nhiều chính trị gia bảo thủ đã chỉ trích ông Roosevelt
rất mạnh mẽ.
Họ cho rằng ông đang làm thay đổi tận góp
cấu trúc chính quyền mà các nhà lập quốc đã xây dựng.
Tuy nhiên, khi ông Roosevelt
qua đời và các tổng thống Cộng hòa
sau này bước vào tòa vệnh óc,
phần lớn những công cụ quyền lực mà ông tạo ra
vẫn tiếp tục được duy trì.
Điều đó đã cho thấy một thực tế
rất quan trọng trong chính trị Hoa Kỳ.
Khi mà quyền lực hành pháp đã được mở rộng
và chứng minh là hữu ích trong việc điều hành quốc gia,
việc đưa chiếc đồng hồ lịch sử
quay trở lại trạng thái ban đầu
là điều vô cùng khó khăn.
Một ví dụ hiện đại hơn là
giai đoạn sau các vụ tấn công khủng bố
ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Để đối phó với các mối đe dọa an nguyên mới,
chính phủ cựu tổng thống
George W. Bush đã mở rộng
đáng kể quyền hạn của nhánh hành pháp
thông qua đạo luật ái quốc
và hàng loạt chương trình an ninh quốc gia khác.
Nhiều chính trị gia dân chủ khi đó
đã bày tỏ lo ngại về nguy cơ
xâm vạn quyền riêng tư của công dân
và sự gia tăng quá mức quyền lực
của chính phủ liên bang.
Tuy nhiên, khi cựu tổng thống
Barack Obama bước vào tòa bạch ốc
thì phần lớn các công cụ quyền lực này
đã không bị bãi bỏ.
Trái lại, nhiều chương trình vẫn tiếp tục được duy trì và vận hành.
Nhìn dưới góc độ này
thì những gì tổng thống Trump đã thực hiện
có thể mang ý nghĩa vượt xa
nhiệm kỳ của riêng ông.
Nếu ông thành công trong việc thiết lập tuyên lệ
trong một tổng thống có thể đối phó
với những phán quyết bất lợi từ tối cao pháp viện
bằng cách chuyển sang con đường lập pháp
điều chỉnh sắc lạnh hành pháp
hoặc tìm kiếm những cơ sở pháp lý mới
thì các rợi tổng thống tương lai
cũng có thể vận dụng những phương thức tương tự.
Hệ quả đầu tiên là quyền lực hành pháp
có thể trở nên linh hoạt hơn.
Các tổng thống tương lai có thể không còn nhìn
một phán quyết bất lợi của tòa án
như là một dấu chấm hết
đối với chương trình nghị sự của mình.
Mà thay vào đó, họ có thể xem đó là một tín hiệu
để điều chỉnh chiến thuật, thay đổi cách tiếp cận
và tiếp tục theo đủ mục tiêu
bằng một con đường khác.
Hệ quả thứ hai là vị thế chính trị của tổng thống
trong mối quan hệ với dư luận
có thể được củng cố hơn.
Cựu chính án tối cao pháp viện William Rehnquist
từng nhận định rằng nhánh hành pháp
thường phát triển mạnh nhất trong các thời kỳ khủng hoảng
khi một quốc gia đòi hỏi những hành động
nhanh chóng và quyết đoán.
Hệ quả thứ ba là chính phủ liên bang
có thể phản ứng linh hoạt hơn trước những thế thức lớn
trong thế kỷ thứ 21.
Một số nhà bình luận bảo thủ thì cho rằng
nếu các cuộc khủng hoảng do phải trải qua
nhiều tiến trình pháp lý và thể chế phức tạp
trong khi đó các quốc gia có mô hình
tập quyền như là Trung Quốc và Nga
có thể đưa ra quyết định trong thời gian ngắn hơn.
Thì từ góc nhìn này
những người ủng hộ tổng thống Trump cho rằng
việc mở rộng dư địa hành động
của nhánh hành pháp có thể giúp Hoa Kỳ
phản ứng nhanh hơn trước các thách thức về an ninh
cạnh tranh kinh tế và các cuộc khủng hoảng quốc tế.
Luật gia McLevin
từng đưa ra một nhận định nổi tiếng
Lập luận của ông là
các cơ chế kiểm soát quyền lực rất quan trọng
nhưng chúng cũng không nên khiến cho chính phủ
trở nên hoàn toàn tê liệt
khi đất nước phải đối phật với những thách thức nghiêm trọng.
Tuy nhiên, các nhà phân tích chính trị
khách quan cũng chỉ ra rằng
xu hướng này thì đi kèm với những rủi ro đáng kể.
Một khi một tổng thống mở rộng
được phạm vi hành động của nhánh hành pháp
công cụ đó không thuộc về riêng người tạo ra nó.
Một ngày nào đó
một tổng thống thuộc đảng khác
cũng có thể kế thừa và sử dụng chính những công cụ ấy
cho các mục tiêu chính sách hoàn toàn khác.
Đó cũng là điều mà cố thảm phán
Antonin Scalia từng cảnh báo.
Ông nhấn mạnh rằng
mỗi khi người dân đồng ý
trao thêm quyền lực cho chính phủ
vì họ tin tưởng người đàn nám quyền
họ cũng phải nhớ rằng một ngày nào đó
quyền lực ấy sẽ nằm trong tay một người khác
mà họ có thể không đồng tình.
Việc tập trung quá nhiều quyền lực vào cùng một nơi
cũng có thể tạo ra nguy cơ
đối với tự do của người dân.
Chính vì vậy mà cuộc tranh luận
xung quanh các tổng thống Trump đối phó
và vượt qua các phán quyết bất lợi từ tối ca pháp viện
thực chất không chỉ là một câu chuyện
của riêng một nhiệm kỳ.
Đó là một cuộc tranh luận lớn hơn
về tương lai của quyền lực hành pháp tại Hoa Kỳ.
Một tổng thống nên có bao nhiêu quyền
để hành động quyết đoán hơn
trong thời kỳ khủng hoảng
và đâu là rênh giới cần thiết
để tiếp tục duy trì sự cân bằng
giữa các nhánh quyền lực
mà Hiến pháp Hoa Kỳ đã thiết kế
trong suốt gần 2 thế kỷ rưỡi qua.
Tác động địa chính trị toàn cầu
và cạnh tranh chiến lược trên trường quốc tế
không chỉ giới hạn trong phạm vi
nội bộ của Hoa Kỳ, những thay đổi
trong cách thức vận hành quyền lực của tổng thống Trump
còn tạo ra những tác động đáng kể
đối với cục diện địa chính trị toàn cầu
đồng thời cũng ảnh hưởng đến cách
mà các quốc gia nhìn nhận về vai trò
và sức mạnh của Hoa Kỳ trên trường quốc tế.
Thì trước hết, tác động
rõ ràng nhất chính là thể hiện
ở tốc độ và mức độ quyết đoán
trong chính sách đối ngoại
và an ninh quốc gia của Washington.
Trong nhiều thập niên, Hoa Kỳ thường được nhìn nhận
là một hệ thống quyền lực phức tạp
nơi các quyết định hành pháp
có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều cấp độ pháp lý khác nhau
bao gồm cả các phán quyết của tòa án liên bang
tại các tiểu bang.
Việc này đôi khi đã tạo ra sự chậm trễ
và thiếu nhất quán trong một số chính sách đối ngoại.
Trong bối cảnh đó,
nếu nhưng mà một chính phủ dưới sự lãnh đạo
của tổng thống Trump
có thể triển khai chính sách với tốc độ nhanh hơn
và giảm thiểu các rào cản thủ tục
thì cách tiếp cận của Hoa Kỳ trên châu quốc tế
có thể chuyển sang hướng linh hoạt
và phản ứng nhanh hơn.
Các lĩnh vực như là thuế quan thương mại,
trừng phạt kinh tế, kiểm soát công nghệ
và triển khai lực lượng quân sự
đều có thể được thực hiện
theo hướng trực tiếp và nhất quán hơn
với mục tiêu chiến lược đã đề ra.
Cậu tổng thống Ronald Reagan
từng nhấn mạnh một quan điểm được trích nhận rất rộng rãi.
Ông nói rằng người dân chính là chính phủ
và những gì được tạo ra
thì cần phải nằm trong khả năng kiểm soát của họ.
Từ quan điểm đó,
một số nhà hoành định chính sách hiện nay
cho rằng các thể chế và thủ tục pháp lý
không nên trở thành những cơ chế vận hành
tách rời khỏi ý chí của cử tri
và đại diện dân cử.
Theo cách lập luận đó,
khi một tổng thống thực thi các cam kết chính sách
đã được cử tri ủy nhiệm,
thì đó được xem là một hình thức phản ánh ý chí chính trị
của người dân thông qua bộ máy hành pháp.
Tác động lớn tiếp theo
được thể hiện rõ trong bối cảnh
Trong gần một thập niên qua,
đặc biệt là từ nhiệm kỳ đầu của tổng thống Trump,
quan hệ giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới
đã bước vào giai đoạn cạnh tranh sâu sắc hơn,
trải rồng trên nhiều lĩnh vực
như thương mại, công nghệ
và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Quan điểm nhất quán được nhấn mạnh
trong giai đoạn này là việc giảm phụ thuộc
chiến lược với Trung Quốc,
đồng thời tăng cường các biện pháp như điều chỉnh thái quan,
kiểm soát xuất khẩu công nghệ
và tái cấu trúc chuỗi cung ứng.
Trước đây, Trung Quốc từng dựa trên giả định
rằng các chính sách của Hoa Kỳ
có thể bị làm chậm lại
thông qua quá trình pháp lý nội bộ
hoặc là các tranh chấp từ tòa án.
Họ cho rằng điều này có thể tạo ra độ trễ
trong việc thực thị các biện pháp kinh tế
từ phía Hoa Kỳ.
Nhưng mà tuy nhiên, nếu các quyết định hành pháp này
được triển khai theo hướng nhanh và linh hoạt hơn,
thì các giả định này có thể sẽ không còn phù hợp như trước.
Tác động thứ ba liên quan đến trật tự quốc tế đa phương.
Kể từ sau Chiến tranh lạnh,
hệ thống quốc tế được xây dựng
dựa trên nhiều định chế và hiệp ước đa phương
nhằm điều phối quan hệ giữa các quốc gia.
Đây là mô hình quang liu và chậm chạp.
Chúng ta có thể thấy rõ sự thiếu hiệu quả
khi xem xét cách làm việc
của châu Âu và NATO.
Với tiền lệ đã có từ Hoa Kỳ,
họ sẽ nhận ra mình cũng có thích ứng
với một môi trường chính sách
có thể thay đổi nhanh hơn theo từng giai đoạn.
Tự tưởng này cũng được liên hệ
với một pháp biểu khác của cậu Tổng thống Ronald Reagan
khi ông nhấn mạnh rằng
tự do không phải là giá trị tự duy trì
mà cần được bảo vệ liên tục
qua từng thế hệ.
Từ góc nhìn đó, quá trình hoạch định chính sách quốc gia
được xem như là một tiến trình liên tục
đòi hỏi sự điều chỉnh phù hợp
trước các thách thức mới từ bên ngoài
cũng như là từ hệ thống nội bộ
nhằm duy trì khả năng thích ứng của quốc gia
trong môi trường quốc tế thay đổi không ngừng.
Vậy từ những phân tích
và diễn biến đã nêu,
một câu hỏi được đặt ra là
liệu cách tiếp cận quyền lực và chính sách
của Tổng thống Trump có thực sự
đã tạo ra những thay đổi lâu dài
trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ hay không?
Và trong bối cảnh các tranh luận
về vai trò giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp
vẫn còn tiếp diễn,
tương lai của các định hướng chính sách này
sẽ được định hình như thế nào trong thời gian tới?
Quý vị nhìn nhận vấn đề này ra sao?
Hãy để lại ý kiến của quý vị
trong phần bình luận bên dưới.
