Tinh Hoa TV mong muốn được phục vụ Quý khán giả tốt hơn, vì thế đừng chần chừ gửi những phản hồi, ý kiến, đóng góp của mọi người đến với Kênh thông qua các bình luận, like, share hoặc qua email của kênh:
⚛️ Video của chúng tôi có sử dụng hình ảnh, âm nhạc của bên thứ 3. Nếu bạn có khiếu nại bản quyền, vui lòng thông báo cho chúng tôi để có thể khắc phục những vấn đề liên quan.
President Trump is leveraging the USMCA's sunset clause to force Canada and Mexico into concessions, aiming to eliminate Chinese \"backdoor\" imports and restore U.S. industrial sovereignty. Simultaneously, the U.S. is countering China's new \"National Unity and Progress Law,\" which extends Beijing's legal control extraterritorially and mandates cultural assimilation.
Một cơn địa chấn chính trị vừa quét qua toàn bộ Bắc Mỹ vào ngày 1 tháng 7 khi Tổng thống Donald Trump chính thức tung đoàn quyết định từ chối gia hạng hiệp định USMCA.
Ngay lập tức cả Canada và Mexico ra vào trạng thái rúng động và sợ hãi tột độ bởi chỉ một sai lầm nhỏ trong lúc này cũng đủ khiến nền kinh tế của họ đổ vỡ.
Nhưng nhìn sau vào bàn cờ chiến lược, đây chính là nước đi đại thắng của ông Trump.
Bằng cách biến USMCA thành thanh gươm treo lơ lẫn trên đầu hai người hàng xóm, ông Trump không chỉ ép họ vào thế quy phục mà còn chính thức quét sạch tầm ảnh hưởng của cánh tả và đóng sạp cửa sau của Trung Quốc tại Tây Bán Cầu.
Cuộc rượt đuổi nghẹt thở này đang diễn ra ra sao? Hãy cùng chúng tôi giải mã ngay sau đây.
Thưa quý vị, vào ngày 1 tháng 7, chính phủ Tổng thống Donald Trump tuyên bố không gia hạng hiệp định thương mại Hoa Kỳ-Mexico-Canada, gọi tắt là USMCA.
Ngay sau khi có thông tin này, cả hai quốc gia Canada và Mexico đều rúng động, sợ hãi vì nếu xử lý không khéo, toàn bộ nền kinh tế của họ sẽ rơi vào khủng hoảng lớn.
Vậy tại sao ông Trump lại ra tay rất quyết liệt với hai người anh em của Hoa Kỳ tại Bắc Mỹ? Trước hết, chúng ta hãy xem USMCA là gì.
Nói ngắn gọn, đây là bộ luật chơi kinh tế giữa ba nước Mỹ, Mexico và Canada.
Đó là phiên bản tốt hơn của Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, còn gọi là NAFTA.
NAFTA từng được ký từ năm 1994 dưới thời Tổng thống Bill Clinton với lời hứa rằng thương mại tự do sẽ giúp cả ba nước cùng thành vượng.
Nhưng sau hàng chục năm, rất nhiều người dân Hoa Kỳ nhìn lại và rất thất vọng.
Họ thấy nhà máy rời đi, việc làm công nghiệp biến mất, các thành phố sản xuất ở trong tay suy tăng.
Đó là lý do Tổng thống Trump từng gọi NAFTA là một trong những thỏa thuận thương mại tồi tệ nhất.
Ông bước vào chính trường với một thông điệp rất rõ, dưới tên Hoa Washington đã bán đứng người lao động Hoa Kỳ dưới danh nghĩa thương mại tự do.
Vì vậy, trong nhiệm kỳ đầu, ông Trump đàm phán lại và tạo ra USMCA.
Hiệp định này giữ lại phần lớn không thương mại Bắc Mỹ, nhưng thêm vào các điều kiện nghiêm cắt hơn về lao động, xuất xứ hàng hóa, ngành xe hơi và sản xuất trong khu vực.
Nhưng Tổng thống Trump là người làm ăn, và một người làm ăn thật sự sẽ không bao giờ ký một hợp đồng rồi để nó tự chạy mà không có sự theo dõi hay kiểm soát.
USMCA có một điều rất đặc biệt, giới kinh doanh hay gọi là điều khoản hoàng hôn, nghĩa là hiệp định này có thời hạn 16 năm.
Đến năm 2036 sẽ tự động hủy nếu ba nước Bắc Mỹ không đồng ý gia hạn.
Không chỉ vậy, cứ 6 năm một lần, ba nước phải ngồi lại rà soát chung để xem trong thực tế hiệp định này có hiệu quả hay không, và có bên nào muốn rút lui sớm hay không.
Ngày 1 tháng 7 năm 2026 chính là mốc rà soát 6 năm đầu tiên, và tại mốc này, Tổng thống Trump nói Hoa Kỳ không đồng ý gia hạn USMCA theo hình thức hiện tại.
Ở đây có một điểm cần chú ý, không gia hạn không có nghĩa là xé bỏ ngay lập tức, hiệp định vẫn còn hiệu lực, nhưng nó bước vào cơ chế rà soát hàng năm.
Tức là mỗi năm lại phải xét lại, mỗi năm lại phải mặt cả, nếu sau một năm nữa vẫn không đạt được đồng thuận, khi đó hiệp định mới thật sự bị chấm dứt.
Nói cách khác, Tổng thống Trump đã nổ ra phát súng cảnh báo, ông biến USMCA từ một tấm chăn an toàn thành một thanh gương treo trên đầu Canada và Mexico.
Ông nói, để coi các anh có muốn nhượng bộ không, nếu không chịu thì dẹp hết.
Tại sao ông làm vậy?
Lý do đầu tiên là Trung Quốc.
Sau khi Hoa Kỳ áp thế cao với hàng hóa Trung Quốc, rất nhiều doanh nghiệp Trung Quốc và các chuỗi cung ứng liên quan bắt đầu tìm đường vòng.
Họ không muốn sản xuất trực tiếp tại Trung Quốc, rồi bị đánh thuế khi vào Hoa Kỳ.
Vậy họ làm gì?
Họ chuyển một phần sản xuất, lắp ráp, đóng gói hoặc dòng cung ứng sang Mexico, thậm chí sang Canada,
sau đó hàng hóa đi vào Hoa Kỳ dưới cái nhãn hàng hóa Bắc Mỹ.
Đây chính là điều Washington lo ngại.
Mexico và Canada, hai nước láng giềng vốn được hưởng ưu đại thương mại,
là trở thành tàm trung chuyển để hàng hóa của đảng Cộng sản Trung Quốc đi vào Hoa Kỳ.
Và Tổng thống Trump đã nhìn thấy rõ điều đó.
Ông tỏ ra rất bất mãn.
Trong tư duy của ông, chủ quyền kinh tế là vấn đề rất quan trọng.
Nếu Hoa Kỳ đánh thuế Trung Quốc ở cửa chính,
nhưng Trung Quốc vòng qua Mexico để vào cửa sau,
thì toàn bộ chiến lược thuế quan của Hoa Kỳ bị vô hiệu hóa.
Thêm nữa, Canada và Mexico lâu nay đều được xem là hàng xóm anh em với Mỹ,
được hưởng thuế rất thấp.
Vậy mà giờ đây lại bắt tay với Trung Quốc để chơi xấu đại ca Hoa Kỳ.
Nếu vậy thì quá tệ rồi.
Vậy phải làm gì? Tất nhiên là phải đóng cửa sau.
Hàng hóa muốn vào Hoa Kỳ với ưu đãi Bắc Mỹ
thì thật sự phải là hàng sản xuất từ Bắc Mỹ.
Chúng ta có thể thấy khi ông Trump đặt vấn đề này ra
thì Canada và Mexico tỏ ra rất lo lắng.
Ba quốc gia này cộng lại chiếm gần 1 phần 3 GDP toàn cầu.
Kim ngạch thương mại nội khối trong khu vực này vào năm 2024
đã vượt 1.600 tỷ USD.
Khi hiệp định được ký 6 năm trước,
kim ngạch thương mại giữa họ chỉ khoảng 1.000 tỷ USD,
tức là trong vòng 4 năm đã tăng hơn 60%.
Đối với Canada, xuất khẩu sang Hoa Kỳ
chiếm khoảng 72% tổng kim ngạch xuất khẩu ngoại thương của nước này.
Đối với Mexico, tỷ lệ này còn lên đến 80%.
Vì vậy nếu USMCA thật sự bị cắt đứt sau các cuộc rà soát hàng năm,
kinh tế Canada và Mexico sẽ gặp vấn đề rất lớn,
thậm chí có thể suy giảm nhanh chóng.
Hiện nay Hoa Kỳ vẫn đang áp thuế đối với Canada và Mexico.
Mexico là khoảng 15%, Canada là 35%.
Nhưng các mức thuế này chỉ áp dụng với hàng hóa nằm ngoài phạm vi USMCA.
Đối với hàng hóa Canada xuất khẩu sang Hoa Kỳ,
phần bị ảnh hưởng chỉ chiếm dưới 20% tổng lượng xuất khẩu.
Vì vậy hiện nay chưa thật sự đánh vào phần cốt lõi.
Nhưng nếu sau khi không gia hạn,
các cuộc rà soát hàng năm dẫn đến việc USMCA thật sự bị hủy bỏ,
toàn bộ cục diện kinh tế Bắc Mỹ sẽ phải tái sắp xếp.
Do đó hiệp định USMCA phải có sự thay đổi theo yêu cầu của ông Trump.
Chúng ta hãy xem ông muốn đổi điều gì.
Đầu tiên là ngành xe hơi. Đây là trái tim của USMCA.
Xe hơi từ Canada hay Mexico muốn được hưởng ưu đãi thuế quan của Mỹ
phải có 75% hàm lượng Bắc Mỹ, còn số này đã cao hơn thời NAFTA.
Nhưng với tổng thống Trump như vậy vẫn chưa đủ.
Washington muốn nâng yêu cầu này lên cao hơn,
đồng thời muốn một tỷ lệ lớn linh kiện và thiết bị của mỗi chiếc xe
phải có xuất xứ riêng từ Hoa Kỳ.
Từ thông tin đàm phán được công khai,
con số được nhắc đến là khoảng 50% tỷ lệ linh kiện sản xuất từ Hoa Kỳ
và tổng tỷ lệ linh kiện sản xuất tại Bắc Mỹ có thể phải lên đến khoảng 82%.
Điều này có nghĩa là gì?
Nếu quý vị là hãng xe đang sản xuất ở Mexico,
dùng linh kiện từ châu Á, lắp ráp gần biên giới rồi đưa vào Hoa Kỳ,
quý vị sẽ gặp vấn đề.
Nếu quý vị là công ty Canada tham gia chửi công ấn xe hơi
nhưng không chế tạo bằng linh kiện Hoa Kỳ,
quý vị cũng gặp vấn đề.
Nếu quý vị là nhà sản xuất Trung Quốc đang nấp sau Mexico để vào Hoa Kỳ,
cánh cửa đó sẽ bị đóng lại.
Tất nhiên chi phí sẽ tăng khi chữi công ấn bị buộc phải tái cấu trúc.
Không ai có thể vun đũa thần để chi phí biến mất.
Một phần chi phí sẽ chuyển vào giá xe.
Người tiêu dùng Hoa Kỳ có thể phải trả giá cao hơn cho một số mẫu xe,
nhưng con số sẽ không lớn.
Và vì là thị trường tự do,
nên sẽ có những nhà thầu nhảy vào để khai thác và dần dần giá sẽ giảm xuống.
Tổng thống Trump cũng có nhận định khác.
Chúng ta đã thấy ông nêu ra ý đồ của mình trong nhiều lần diễn thuyết
rằng quốc gia có thể chấp nhận hàng rẻ trong vài năm.
Nhưng nếu cái giá là mất nhà máy, mất kỹ năng,
mất công nhân, mất năng lực chiến tranh và chủi công ấn,
thì hàng rẻ hôm nay có thể trở thành cái bẫy chiến lược ngày mai.
Đó là lý do ông Trump đang ép Canada và Mexico
về mặt thương lượng Tổng thống Mỹ đang ở kèo trên.
Chúng ta đang thấy cả Canada và Mexico đang chạy đua
để đạt một khung thỏa thuận riêng với Hoa Kỳ trước tiên,
vừa bảo đảm thời gian tốc hành,
vừa phải chắc chắn quyền lợi của mình không bị yếu đi.
Giả sử nếu Hoa Kỳ và Mexico đàm phán trước,
rồi đạt được khung thỏa thuận riêng,
thì Canada có thể rơi vào thế bị động.
Washington và Mexico có thể nói đây là luật chơi mới.
Các Anh chấp nhận hay rời bàn?
Khi đó Canada sẽ làm gì?
Nói tới đây, chắc quý vị cũng thấy vị thế của họ là rất khó khăn.
Điều tương tự cũng sẽ xảy ra với Mexico
nếu họ không kịp đạt thỏa thuận.
Vì vậy, chúng ta có thể đoán trước rằng,
trong thời gian tới, Canada và Mexico
có thể lên tiếng cứng rắn trên truyền thông,
có thể chỉ trích Tổng thống Trump,
đưa ra các tuyên ngôn về chủ quyền kinh tế.
Nhưng cuối cùng thì Mỹ vẫn là quốc gia nắm kiếm đằng chui.
Đây chính là quyền lực thực sự của thị trường Hoa Kỳ.
Tổng thống Trump hiểu điều đó
và ông đang dùng nó như cây gậy.
Trong nhiều thập niên, giới tinh hoa toàn cầu hóa
thường nói về thương mại tự do như một thứ đạo đức.
Họ nói càng ít rào cản càng tốt,
càng mở cửa càng văn minh,
càng để thị trường toàn cầu tự phân bổ càng hiệu quả.
Nhưng họ né một câu hỏi.
Hiệu quả cho ai?
Hiệu quả cho các tập đoàn đặc quốc gia
vì họ có thể chuyển nhà máy đến nơi rẻ nhất.
Hiệu quả cho giới tài chính
vì dòng vốn chạy khắp thế giới.
Hiệu quả cho Trung Quốc
vì họ được tiếp cận công nghệ, thị trường, vốn và việc làm.
Nhưng có hiệu quả cho chính người dân Hoa Kỳ hay không?
Đây là câu hỏi đã đưa tổng thống Trump vào tòa Bạch Ốc
và quyết định không gia hạn USMCA
theo hình thức hiện tại
chính là sự tiếp nối của câu hỏi đó.
Đây chính là sự chuyển đổi từ thương mại tự do khu vực
sang thương mại có điều kiện.
Và rộng hơn nữa,
nó nằm trong học thuyết Trump-Monroe.
Chúng ta đều biết học thuyết Monroe,
cổ điển,
từng nói châu Mỹ là khu vực chiến lược của Hoa Kỳ.
Các cường quốc bên ngoài không được can thiệp.
Còn trong phiên bản tổng thống Trump,
điều đó được mở rộng sang cả Tây Bán Cầu.
Theo ông Trump,
Tây Bán Cầu phải là khu vực an toàn của Hoa Kỳ,
không phải sân sâu của Trung Quốc.
Để thảo luận kỹ hơn về chỗ này,
chúng ta hãy nhắc lại về Panama.
Cũng vào ngày 1 tháng 7,
tổng thống Trump vừa đến Medora,
biểu bang Bắc Dakota
để tham dự lễ khánh thành thư viện Theodore Roosevelt.
Một chi tiết khá thú vị là
trên đường di chuyển,
ngoài đoàn mô tô cảnh sát hộ tống,
còn có lực lượng cảnh sát kỵ minh.
Họ cửi ngựa mở đường,
gợi lại hình ảnh miền Tây nước Mỹ thời khai phá.
Đây cũng là hình ảnh mà ông Trump
nhiều lần bày tỏ sự yêu thích.
Từ những chàng cao mồi cho đến lực lượng kỵ minh
và các cuộc chiến trên lân ngựa.
Phát biểu tại buổi lễ,
tổng thống Trump một lần nữa chỉ trích quyết định
trao trả kênh đào Panama.
Theo ông, đây là một trong những sai lầm lớn của nước Mỹ.
Bởi kênh đào Panama chính là
di sản mang đậm giấu ấn của tổng thống
Theodore Roosevelt.
Đầu thế kỷ 20, ông Roosevelt
theo đuổi chính sách ngoại giao cứng rắn
để ủng hộ Panama tách khỏi Colombia,
qua đó giúp Hoa Kỳ giành được quyền xây dựng
và kiểm soát kênh đào.
Trái với tuyên truyền chống Mỹ,
thực chất kênh đào này là do Hoa Kỳ đổ tiền bạc
và xương máu của người Mỹ để xây dựng.
Từ năm 1904
đến năm 1914,
công binh Hoa Kỳ đã làm việc
trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt
giữa rần mưa nhiệt đới,
đối mặt với bệnh sốt vàng da, sốt rét
và vô vàng khó khăn khác để hoàn thành công trình
chỉ trong 10 năm.
Sau khi đi vào hoạt động năm 1914,
kênh đào Panama đã thay đổi
hoàn toàn vận tải hàng hải thế giới.
Các tàu biển từ New York đến San Francisco
không còn phải đi vòng qua mũi cực Nam Nam Mỹ,
giúp rút ngắn khoảng 8.000 dặm,
tương đương gần 12.900 km.
Đến nay, khoảng 5% thương mại hàng hải toàn cầu
đi qua tuyến đường này mỗi năm,
với tổng trị giá hàng hóa
khoảng 270 tỷ USD.
Riêng đối với Hoa Kỳ,
khoảng 40% lượng hàng container
cũng vận chuyển qua kênh đào Panama.
Đáng buồn thay, đến năm 1977,
tổng thống dân chủ Jimmy Carter
ký hiệp ước Tory Horse Carter
đồng ý chuyển quyền kiểm soát
kênh đào cho Panama theo lộ trình.
Đây là sản phẩm của thứ văn hóa
đúng đắn chính trị.
Ông Carter đã hít thở bầu không khí
thời phong trào chống thực dân
và nghĩ rằng những gì Hoa Kỳ kiểm soát
ở nước ngoài đều cần phải trao trả.
Tuy nhiên, như trên đã nói,
kênh đào Panama không phải là lãnh thổ
Hoa Kỳ chiếm được bằng chiến tranh thuộc địa,
mà là công trình do chính người Mỹ
bỏ công sức, tiền bạc
và cả sinh mạng để xây dựng.
Vì vậy, ông Trump kiên quyết
phản đối quyết định này.
Đến năm 1999,
một tổng thống dân chủ khác là ông Bill Clinton
hoàn tất việc chuyển giao quyền kiểm soát
kênh đào Panama cho chính phủ Panama.
Ngay tại buổi lễ ở Thượng viện
Theodore Roosevelt,
tổng thống Trump tỏ ra không đồng tình.
Ông nói rằng Hoa Kỳ đã cho không kênh đào Panama.
Để rồi đến nay,
Trung Quốc đã nhanh chóng hưởng lợi
từ tuyến đường này.
Với nhiều chiêu trò, Bắc Kinh đã chiếm lấy nó
và độc quyền tăng phí qua kênh Panama đến 4 lần.
Gần đây, Bắc Kinh lại tiếp tục
tăng giá thêm 2 lần nữa.
Bởi vì kênh đào này là tuyến đường
bắt buộc phải đi, nên các công ty vận tải biển
đang nghiến răng, chịu trần.
Theo ông Trump, nhiều năm qua
Bắc Kinh đã thu về khoản lợi nhuận khổng lồ.
Với cách diễn đạt của mình,
nhiều khả năng ông đang nhắc đến
hoạt động của công ty do tỷ phú
lý gia thành kiểm soát tại các cảng
ở 2 đầu kênh đào.
Ông Trump kết luận, điều đó quá ngu xuẩn, đúng không?
Tổng thống nhấn mạnh Đảng Cộng sản Trung Quốc
đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng
và tiến tới kiểm soát kênh đào Panama.
Ông tuyên bố Hoa Kỳ sẽ tuyệt đối
không để điều đó xảy ra.
Vậy nên chúng ta thấy rằng học thuyết Trump-Monroe
hiện đang được ông Trump ứng dụng
rất quyết liệt.
Trong thời gian qua, ông ấy đã đạt được
một phần mục đích này.
Hiện tại ở Nam Mỹ, chỉ trong vòng 1 năm rưỡi ngắn ngũi,
kể từ khi tổng thống Trump trở lại nhiệm kỳ 2,
hầu hết các quốc gia đã trở thành
đồng minh của Mỹ.
Người dân ở các nước này đều chứng kiến sự vô dụng,
phản nhân quyền và sự sụp đổ
không thể chối cãi của các nhà nước
thiên tả, để rồi ngoại trừ Brazil,
hầu hết các chính phủ Nam Mỹ
đều chuyển mình sang hướng bảo thủ.
Ngược lại, ở Bắc Mỹ,
cả Mexico và Canada
hiện đều do phe tả nắm quyền,
có hệ tư tưởng đối lập với chính sách của tổng thống Trump.
Vậy nên khi ông ấy ra tín hiệu
muốn rút khỏi USMCA,
thì đó chính là phát sóng đầu tiên
để thay đổi vấn đề này.
Không gia hạn USMCA
không phải là một động tác cô lập,
nó là một phần của cuộc tái sắp xếp
Tiếp theo, chúng ta hãy nói về bên kia Thái Bình Dương.
Vào ngày 1 tháng 7,
Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng khai hỏa một mặt trận khác.
Trước hết vào tháng 3 năm nay,
Quốc hội Trung Quốc đã thông qua một đạo luật
gọi là luật thúc đẩy đoàn kết
và tiến bộ dân tộc,
gọi tắt là luật đoàn kết dân tộc.
Đạo luật này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7
và đã gây chú ý từ nhiều phía,
đặc biệt là tại Hoa Kỳ.
Trước hết, nó bắt buộc các trường học
từ bậc mẫu giáo trở lên
phải dạy bằng tiếng quang thoại
kể cả ở các khu vực dân tộc thiểu số
như Duy Ngô Nhĩ, Tây Tạng, Mông Cổ.
Về bề mặt,
Bắc Kinh nói đây là thúc đẩy giao tiếp chung,
tăng cường đoàn kết quốc gia.
Nhưng nhìn sâu hơn,
đạo luật này đang mở rộng chiến dịch
đồng hóa cưỡng bức của Bắc Kinh
đối với các cộng đồng không phải người Hán.
Ngôn ngữ của mỗi dân tộc không chỉ là công cụ giao tiếp.
Ngôn ngữ là ký ức, là tôn giáo,
là gia đình, là lịch sử,
là cách một dân tộc hiểu về chính mình.
Việc đồng hóa ngôn ngữ
chẳng khác nào xóa bỏ bản sắc dân tộc.
Đây là điểm nguy hiểm đầu tiên.
Điểm thứ hai còn đáng lo ngại hơn,
luật này bác bỏ các tiếng nói chỉ trích Bắc Kinh
từ bên ngoài dưới danh nghĩa dân tộc,
tôn giáo, nhân quyền.
Nói cách khác nếu thế giới phê bình Bắc Kinh
đàn áp người Duy Ngô Nhĩ, đàn áp tôn giáo,
xóa bỏ tiếng Mông Cổ,
hoặc kiểm soát các nhóm thiểu số,
Bắc Kinh có thể nói, đó là thế lực bên ngoài
can thiệp, phá hoại đoàn kết dân tộc.
Tức là mọi thứ đều được đóng gói lại
bằng ngôn ngữ chính trị
của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đây là thủ pháp rất quen thuộc của nó.
Nhân điểm thứ ba mới thật sự là hồi chuông báo động
đối với thế giới tự do.
Đạo luật này có điều khoảng cho phép
ri cứu trách nhiệm đối với cá nhân và tổ chức
bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc nếu họ bị Bắc Kinh
cho là đe dọa đoàn kết dân tộc
hoặc kích đồng chia rẽ.
Điều đó có nghĩa là Đảng Cộng sản Trung Quốc
không chỉ muốn kiểm soát người dân trong nước
mà nó còn muốn đặt một cái bóng pháp lý
lên cả những người đang sống
ở Hoa Kỳ, Canada, Úc,
châu Âu, Đài Loan, Nhật Bản
và nhiều nơi khác.
Luật này không chỉ là luật ở trong nơi địa.
Nó là một tuyên bố về quyền tài phán
cánh tay khủng bố, nối dài
của Bắc Kinh. Vì vậy, phản ứng
của Hoa Kỳ rất mạnh.
Tại thường viện, 14 thường nghị sĩ lưỡng đảng
đã gửi thư cho Ngoại trưởng Marco Rubio
phản đối đạo luật này.
Điểm đáng chú ý là lưỡng đảng
trong thời đại Hoa Kỳ đang chia rẽ
sâu sắc, có rất ít vấn đề khiến
hai phe Cộng hòa và Dân chủ
cùng đứng chung. Nhưng đối phó Đảng Cộng sản
Trung Quốc là một trong những vấn đề
hiếm hoi đó. Tại Hạ viện,
Dân biểu Cộng hòa Chris Smith và
Dân biểu Dân chủ Jim McGovern
cũng đưa ra một nghị quyết lưỡng đảng
lên án đạo luật này. Ông Smith
tuyên bố rõ, thông điệp của Bắc Kinh
thật rợn người. Hãy từ bỏ
đức tin, quên ngôn ngữ của mình,
phục tùng đảng nếu không sẽ bị
trừng phạt, ngay cả khi ở nước ngoài.
Ông gọi đây không phải là đoàn kết
mà là bạo quyền. Nó
biến việc xóa bỏ văn hóa, tôn giáo
thành chính sách chính thức.
Câu nói này đánh trúng bản chất vấn đề
bởi vì Đảng Cộng sản Trung Quốc
không hiểu đoàn kết theo nghĩa thông thường
mà họ áp đặt rằng đoàn kết chính là
phục tùng. Nếu quý vị không phục tùng
thì quý vị là một mối nguy cho đảng
và phải bị loại bỏ.
Đó là đặc điểm của một hệ thống
toàn trị. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
cũng chỉ trích đạo luật này đang áp đặt
chương trình nghị sự chính trị của Đảng Cộng sản
Trung Quốc lên các cá nhân, tổ chức
và định chế, kể cả bên ngoài
Trung Quốc. Bộ nhấn mạnh Hoa Kỳ
sẽ bảo vệ chủ quyền của mình, bảo vệ
các cá nhân trên lãnh thủ Hoa Kỳ khỏi
đe dọa, quấy rối, cưỡng ép,
gây hại và bị buộc im tiến
bởi chính phủ nước ngoài.
Nói thẳng ra, thông điệp của Washington là
Bắc Kinh không được thò tay vào
Hoa Kỳ. Có thể thấy
đàn áp xuyên quốc gia của Đảng Cộng sản
Trung Quốc không còn là chuyện lý thuyết.
Vào ngày 30 tháng 6,
tổ chức Nhân quyền Freedom House
tuyên bố trên X rằng từ năm
2014, Bắc Kinh đã bị
xác định là một trong những thủ phạm
kiến hành đàn áp xuyên quốc gia nhiều nhất
thế giới. Trung tâm Thông tin
Pháp Luân Đại Pháp cũng ghi nhận hàng trăm
vụ đàn áp xuyên quốc gia của Trung Quốc
nhắm vào các học viên Pháp Luân Công
tại Hoa Kỳ trong giai đoạn
2020-2025.
Theo Freedom House, điều đáng sợ
là luật mới này có thể cung cấp cho Bắc Kinh
một chiếc áo pháp lý để hợp thức
hóa những hành vi ấy. Liên minh Châu Âu
cũng yêu cầu Trung Quốc tôn trọng cam kết
quốc tế và hiến pháp của chính họ.
Australia phản đối vì luật này
có thể hạn chế quyền tự do
của các cá nhân bên ngoài Trung Quốc.
New Zealand thì nói thẳng không nhân nhượng.
Là luật này không có hiệu lực pháp lý
tại New Zealand. Ngoại trưởng
Winston Peters tuyên bố thẳng
rằng Bắc Kinh có thể đưa ra luật
nhưng không có nghĩa là họ áp dụng
được ở nước khác. Tuy nhiên,
chỉ nói như vậy là chưa đủ. Bởi Đảng Cộng sản
Trung Quốc không nhất thiết cần Tòa án
New Zealand, Canada hay Hoa Kỳ
công nhận luật của họ. Họ có thể
dùng luật này để đe dọa tinh thần,
tạo sợ hãi, gây áp lực với
cộng đồng hải ngoại. Đảng áp xuyên quốc gia
không cần lúc nào cũng bắt người.
Đôi khi chỉ cần khiến con người tự
im lặng. Đó là mục tiêu thật sự
gieo rắc nổi sợ hãi.
Vì vậy, khi nhìn vào bức tranh toàn cảnh,
chúng ta đang chứng kiến hai gọng kiềm đối nghịch
trong trật tự thế giới mới.
Ở mặt trận kinh tế quân sự,
Tổng thống Trump đang siết vòng vay quanh Trung Quốc
bằng cách tái cấu trúc Bắc Mỹ,
trinh phạt Iran. Ở mặt trận
pháp lý tư tưởng, Đảng Cộng sản Trung Quốc
đang siết vòng vay quanh các dân tộc diễu số,
người bất đồng chính kiến, tín ngưỡng
và cộng đồng hải ngoại.
Câu chuyện ngày 1 tháng 7 là ngày nhắc nhở
về câu hỏi lớn trật tự thế giới
sắp tới sẽ do ai định hình.
Bình luận của chúng tôi đến nay là hết.
Xin cảm ơn quý vị khán giả
và hẹn gặp lại lần sau.