Tinh Hoa TV mong muốn được phục vụ Quý khán giả tốt hơn, vì thế đừng chần chừ gửi những phản hồi, ý kiến, đóng góp của mọi người đến với Kênh thông qua các bình luận, like, share hoặc qua email của kênh:
⚛️ Video của chúng tôi có sử dụng hình ảnh, âm nhạc của bên thứ 3. Nếu bạn có khiếu nại bản quyền, vui lòng thông báo cho chúng tôi để có thể khắc phục những vấn đề liên quan.
Video kể về lịch sử ra đời của Bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1776, nhấn mạnh rằng nền móng của quốc gia không chỉ dựa trên vũ trang mà còn dựa trên sự thức tỉnh đạo đức, lòng can đảm của các nhà lập quốc và niềm tin vào những quyền tự nhiên bất khả xâm phạm của con người.
Nếu nước Mỹ không còn thiện lương, thì nước Mỹ sẽ không còn vĩ đại.
Khi một nhà luật học người Pháp đưa ra lời chuẩn đoán chính trị kinh điển này vào năm 1831,
ông đã chạm đến linh hồn thực sự của cuộc cách mạng Hoa Kỳ.
Một cuộc cách mạng không bắt đầu bằng súng đạn, mà bằng sự thức tỉnh, đạo đức.
Nhân cục móc lịch sử kỷ niệm 250 năm lập quốc của Hoa Kỳ.
Hãy cùng chúng tôi quay về mùa hè Philadelphia ngột ngạc năm 1776,
để thấy rằng đằng sau án văn bất khủ của chàng trai 33 tuổi Thomas Jefferson
hay thanh gương can đảm của quốc phụ George Washington,
không phải là một cuộc nổi loạn mù quán, mà là một lời hứa vĩ đại.
Con người được tạo dựng bình đẳng và tự do là món quà của đấng sáng thế.
Một thước phim lịch sử đầy máu, nước mắt và cả những bàn tay vô hình
đã nhào nặng nên quốc gia hùng mạnh nhất thế giới.
Thưa quý vị, xin hãy cùng chúng tôi quay về 250 năm trước
để chứng kiến các bậc quốc của Hoa Kỳ giành lấy độc lập như thế nào.
Tháng 6 năm 1776, Philadelphia nóng ẩm và nặng nề.
Lúc ấy, 13 thuộc địa Bắc Mỹ đã giao chiến với Anh quốc hơn một năm.
Tiến súng ở Lexington đã vang lên, máu đã đổ trên đồi bunker.
Những người dân thuộc địa đã cầm súng chống lại quân đội của vua George VIII
đến từ bên kia, Đại Tây Dương.
Nhưng trên danh nghĩa pháp lý, họ vẫn là thần dân của nhà vua nước Anh.
Điều đó có nghĩa là gì? Nghĩa là nếu họ tuyên bố độc lập,
họ không chỉ đưa ra một quan điểm chính trị mà họ đã phàm tội phản quốc.
Và những ai lãnh đạo phong trào này đều phải trả giá rất đắt.
Theo luật Anh quốc, thủ lĩnh của các phong trào như vầy
đều bị khép vào hành phạt rất ghê gớm, có từ thế kỷ 13.
Đơn cử như hiệp sĩ William Wallace, lãnh đạo của Scotland
chống lại nhà vua nước Anh để giành độc lập.
Sau khi ông ấy bị bắt thì phải chịu hành phạt gồm 4 bước.
Đầu tiên là treo cổ nhưng không để tử vong.
Sau đó là kéo lê nhưng không kéo đến chết.
Tiếp theo là mổ bụng.
Cuối cùng mới chém đầu rồi chặt thi thể làm 4 phần.
Các phần thi thể của vị hiệp sĩ này sau đó bị nhà vua nước Anh
treo trên khắp các thành thị lớn của Scotland
như một hình thức răng đe với những người có tư tưởng ly khai.
Những điều này đều là sự thật.
Quý vị có thể tra lại trong lịch sử.
Hình phạt này đến năm 1870 mới bị Anh quốc bãi bỏ.
Vì vậy khi 56 nhà lập quốc ở Philadelphia quyết định tiến tới độc lập
họ quả thực đã lựa chọn con đường rất căng đẳng.
Ngày nay hai chữ độc lập nghe rất nhẹ
nhưng năm 1776 độc lập là sinh tử.
Và vì đã quyết định độc lập nên họ phải làm một việc
nói rõ với thế giới lý do của mình.
Thế là vào ngày 11 tháng 6 năm 1776
Quốc hội lục địa thành lập một ủy ban gồm 5 người
để soạn thảo bản tuyên bố.
Trong đó có Benjamin Franklin
bậc lão thanh đức cao vòng trọng
có John Adams người sát bén mạnh mẽ
có tài biện luận
và có Thomas Jefferson
một đại biểu trẻ mới 33 tuổi đến từ Virginia.
Điều thú vị là người được giao viết chính lại là Jefferson.
Vì sao?
Nhiều năm sau Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ John Adams
khi hồi tưởng lại cuộc đối thoại giữa 2 người
đã nói như thế này.
Ông nói ông đưa ra cho Jefferson 3 lý do.
Thứ nhất, ông ấy là người Virginia.
Việc này nên do người Virginia dẫn đầu.
Bởi dù Massachusetts thay Boston
là nơi đi tiên phong trong cách mạng Mỹ
nhưng Virginia khi đó
lại là nơi đi đầu về tư tưởng độc lập của Hoa Kỳ.
Vì vậy người Virginia
phải là người bắt đầu viết bản tuyên ngôn này.
Thứ hai, ông Adams tự biết
mình là người khó tính, dễ gây tranh cãi
dễ bị nghi ngờ, không phải ai cũng thích.
Còn Jefferson thì trong mắt mọi người
lại là một chàng trai rất dễ mến.
Thứ ba, ông Adams nói
văn phòng của ông Jefferson
hay hơn ông gấp 10 lần.
Vậy là một khánh năng lịch sử
được đặt lên vai một người trẻ mới 33 tuổi.
Sau đó Jefferson đã bước vào
một quán trò nhỏ tại Philadelphia.
Trong 17 ngày, từ ngày 11 đến ngày 28 tháng 6
ông đóng cửa phòng, tập trung tinh lật
để viết bản thảo đầu tiên
của tuyên ngôn độc lập.
Đây quả là một phép màu.
Vì dù không nói là một án văn lưu danh thiên cổ
thì ít nhất cho đến hôm nay
tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ
vẫn là văn bản được người người truyền tụng
và rất dẫn bật nhất
trong chính trường hầu hết các quốc gia.
Vậy làm sao một văn kiện vĩ đại như vậy
có thể được viết nhanh đến thế?
Câu trả lời là Jefferson
không bắt đầu từ con số 0.
Đằng sau ông là cả một dòng tư tưởng
kéo dài nhiều thế kỷ
tuyên ngôn về quyền của Virginia
các bản dự thảo hiến pháp của Virginia
những cáo buộc đối với nhà vua nước Anh
triết lý của John Locke
về quyền tự nhiên, quyền sống
quyền tự do, quyền sở hữu
sự đồng thuận của người được quản trị
và quyền lật đổ bào quyền.
Xa hơn nữa là văn minh
Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại
và thời kỳ khai sáng châu Âu.
Nói cách khác, Jefferson
không phát minh ra tự do từ hư không.
Ông dành cả đời của mình
để nghiên cứu và chân cất
tinh thần tự do của văn minh phương Tây
để rồi đặt nó vào một văn kiện
ngắn gọn, sáng rõ và bất khủng.
Chính Jefferson về sau
cũng rất khiêm tốn.
Ông nói mục tiêu của ông không phải là
viết một án văn mới lạ,
không phải là khoe tài triết học
hay là tạo ra một hệ thống tư tưởng riêng.
Ông chỉ muốn bày tỏ tiếng nói chung
của người Hoa Kỳ.
Nguyên văn là
một sự biểu đạc tâm trí Hoa Kỳ.
Vậy linh hồn của tuyên ngôn độc lập
nằm ở đâu?
Nằm ở câu này
Con người đều được tạo dựng bình đẳng.
Thưa quý vị,
chúng ta phải đọc câu này thật cẩn thận.
Không phải chỉ là sinh ra bình đẳng
theo nghĩa sinh học,
không phải bình đẳng theo nghĩa mọi người giống nhau
về tài năng, tài sản, địa vị, trách nhiệm,
giới tính, vai trò hay kết quả đời sống
mà là được tạo dựng bình đẳng.
Có phẩm giá bình đẳng trước
nấn sáng thế hay sáng thế chủ?
Trong tiếng Anh, ông Jefferson
dùng từ creator.
Quyền căng bẳng của con người
không phải là món quà của nhà vua,
không phải ân hệ của quốc hội hay của nhà nước,
không phải sản phẩm của một sắc lệnh
hành pháp nào cả.
Quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc là những quyền không thể bị
thước đoạt bởi chúng đến từ nấn sáng thế.
Sau khi chàng trai Jefferson
hoàn thành bản thảo,
hai ông Benjamin Franklin
và John Adams góp ý
chỉnh sửa. Nhưng thử thách thật sự
đến khi văn kiện được đưa ra
trước quốc hội lục địa.
Các nhà lập quốc chỉnh sửa rất nhiều.
Gần một phần tư nội dung bị khắc bỏ.
Trong đó có đoạn Jefferson
lên án gây gắt buôn bán nô lệ,
lý do rất thực tế và rất đau đớn.
Nếu giữ đoạn đó, một số thuộc địa
miền Nam có thể rời khỏi liên minh
và sự nghiệp danh độc lập
có thể thất bại ngay từ trong trấn ước.
Jefferson ngồi đó,
nhìn câu chữ của mình bị cắt từng đoạn.
Người ta kể rằng lúc đó
sát mặt ông tái xanh.
Ông không nói một lời.
Ông Benjamin Franklin thấy vậy không đành lòng,
bèn đến gần ăn uổi người bạn trẻ của mình,
còn kể một câu chuyện cười nhỏ
để cậu ấy yên tâm chờ đợi.
Đến ngày 2 tháng 7 năm 1776,
quốc hội lục địa
thông qua nghị quyết độc lập.
Ông John Adams xúc động
đến mức viết thư cho vợ
là bà Abigail Adams
dự đoán rằng ngày 2 tháng 7
sẽ trở thành ngày lễ lớn của người Hoa Kỳ
trong mọi thế hệ sau này.
Ông đã hình dung những cuộc diễu hành,
tiến chuông, lửa trại, pháo hoa
vang khắp lục địa.
Ông đúng về tinh thần,
nhưng chỉ gần đúng về ngày tháng cụ thể.
Bởi ngày 3 tháng 7 và ngày 4 tháng 7 tiếp theo,
quốc hội lục địa tiếp tục
chỉnh sửa từng câu chữ
trong tuyên ngôn của ông Jefferson.
Đến chiều ngày 4 tháng 7,
văn bản cuối cùng mới được thông qua.
Dòng cuối ghi ngày 4 tháng 7
năm 1776,
và từ đó
ngày 4 tháng 7 trở thành
ngày độc lập của Hoa Kỳ.
Nhưng đây chưa phải là đoàn kết.
Tuyên ngôn ấy cần được chép chính thức
lên giấy gia dê.
Các thành viên quốc hội từ khắp các thuộc địa
phải đến ký. Khi ấy không có phi cơ,
không có xe hơi hay điện thoại,
người ta phải đi tàu hoặc đi ngựa.
Đến ngày 2 tháng 8,
quá trình ký tên mới diễn ra đầy đủ.
Người ký nổi bật nhất
là John Hancock,
chủ tịch quốc hội lục địa.
Bước lên bàn viết, ông ký một chữ ký
thật lớn, thật nổi bật.
Ký xong, ông nói với những người bạn
của mình rằng, tôi nghe nói vua George
của Anh quốc có cặp mắt bị mờ.
Tôi hy vọng ông ta không cần đeo kín
cũng có thể nhìn rõ tên tôi
trên tuyên ngôn độc lập này.
Đó không phải là vô trương,
đó là thách thức.
Chúng ta có thể thấy
các nhà lập quốc Hoa Kỳ rất dũng cảm.
Họ biết rằng nếu việc không thành
thì sẽ bị bắt giải về London,
hành tuyết rất mang rợ.
Nhưng họ vẫn ký thật lớn
để nói với đế quốc mạnh nhất thế giới rằng
chúng tôi không sợ.
Nhưng điều quan trọng hơn chữ ký
là cấu trúc của tuyên ngôn độc lập.
Văn kiện này có 3 phần.
Phần đầu là lời công bố trước thế giới.
Người Mỹ nói rõ vì sao
họ phải tách khỏi Anh.
Đây là tinh thần quan minh chính đại,
không âm mưu trong bóng tối,
không nật đổ vô trách nhiệm
hay bào loạn mù quán.
Họ trình bày lý do của mình trước nhân loại.
Phần thứ 2 là linh hồn của văn kiện.
Có người được tạo dựng bình đẳng,
đứng sáng thế ban cho con người
những quyền không thể bị tước đoạt.
Trong đó có quyền sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Chính phủ được lập ra
để bảo vệ các quyền ấy.
Quyền lực chính phủ đến từ sự đồng thuận
của người được quản trị.
Và nếu một ngày nào đó chính phủ trở thành bào quyền,
người dân có quyền thay đổi chính phủ ấy.
Đây không phải là nỗi loạn,
đây là quyền tự nhiên của nhân dân.
Vì vậy bản tuyên ngôn đã nói rõ
căn bản của Hoa Kỳ.
Phần thứ 3 thì liệt kê 27 tội trạng của Vua Anh
giả thích vì sao 13 thuộc địa
không còn có thể tiếp tục chịu sự cai trị ấy,
đồng thời tuyên bố các thuộc địa
sẽ đoàn tích lại thành Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ
The United States of America
và tuyên bố rằng
Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ
sẽ tách khỏi Vương quốc Anh
trở thành một quốc gia liên bang tự do
và độc lập.
Đây chính là lai lịch của tuyên ngôn độc lập.
Vậy Hoa Kỳ đã lập tức giành được độc lập
sau ngày 4 tháng 7 chưa?
Câu trả lời là chưa.
Tuyên ngôn độc lập không phải là cây đũa thần.
Sau văn kiện ấy là một chuỗi ngày tháng
dài đặng đẳng của chiến tranh,
thất bại, đói rét, đau ngủ,
nợ nần, khủng hoảng và tuyệt vọng.
Phải đến tháng 9 năm 1781,
quân đội Anh quốc mới bị lực lượng
do tổng tư lệnh lục quân lục địa
George Washington chỉ huy đánh bài
tại Yorktown, Virginia.
Đến năm 1783,
Hiệp ước Paris được ký kết
và nền độc lập của 13 tiểu bang Bắc Mỹ
được quốc tế công nhận.
Đến đây, chúng ta có thể tự hỏi,
trên con đường vô tuyền khoáng hậu này,
tại sao một lực lượng dân quân
yếu hơn, nghèo hơn,
thiếu huấn luyện hơn, thiếu vũ khí hơn
là có thể thắng quân đội
Có một yếu tố mà người hiện đại
thường cố tình bỏ qua,
đó là đạo đức và đức tiên.
Chúng tôi xin dẫn vài câu chuyện
để khán giả hiểu rõ.
Trước hết vào thập niên 1770
của thế kỷ 18,
có một sự kiện gọi là cuộc thảm sát Boston.
Khi đó, trước tòa nhà hải quan
ở Boston, người dân phản đối
nhà vua nước Anh đã xảy ra
xông đột với binh lính Anh quốc.
Vì dân chúng rất đông,
họ dồn binh lính vào góc tường.
Trong cảnh hỗn loạn, không ai ra lệnh,
nhưng binh lính vì sợ hãi nên đã nổ súng,
sát hại 5 người dân Boston.
Sau đó, dân chúng vô cùng phẫn nộ,
muốn báo thù.
Nhưng quý vị biết chuyện gì xảy ra sau đó không?
Một trong các nhà lập quốc Hoa Kỳ,
cũng là Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ,
John Adams,
đã điều tra sự thật
và đã ra tòa bào chữa cho những binh lính đó.
Ông nói rằng trong tình huống căng thẳng như vậy,
khi đám đông liên tục ném tuyết,
gạch đá về phía họ,
những người lính vì hoạn loạn
và vì muốn tự bảo vệ tính mạng,
nên đã nổ súng.
Vì vậy, phần lớn binh lính được tuyên vô tội,
chỉ một số rất ít bị kết tội ngội sát.
Và dĩ nhiên, vụ thảm sát Boston sau này
được tuyên truyền rất mạnh,
trở thành bằng chứng
về sự bảo ngược của Vua Anh.
Nhưng sự thật là, khi đó,
chính các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã bào chữa
cho những người lính của đối thủ của mình.
Hơn nữa, trước cách mạng Hoa Kỳ,
từng có một phong trào thức tỉnh đạo đức,
có thể gọi là Moral Reform.
Khi đó, người Mỹ đang đối mặt
với câu hỏi,
chúng ta muốn nổi dậy,
không cần vua nước Anh nữa,
từ nay không có nhà vua cai trị,
vậy ai sẽ quản người dân?
Chẳng phải là công dân tự quản đúng không?
Họ bèn tự hỏi nhau,
nếu nói vậy chúng ta có đủ tốt hay không?
Chúng ta muốn tự trị,
nhưng tự trị nghĩa là gì?
Một dân tộc không có đạo đức
thì không thể tự trị.
Vì vậy người Mỹ và những nhà lập quốc
đã dành 3 năm để tự kiểm điểm.
Cuối cùng họ đi đến kết luận,
chúng ta là những người có đạo đức,
chúng ta là những người chăm chỉ,
chúng ta là những người tiết kiệm,
có tiếng ngưỡng,
vậy nên chúng ta có thể tự quản lý chính mình.
Đó chính là sự tự giác về tư tưởng
và nền tảng tư tưởng trước
chiến tranh độc lập Hoa Kỳ.
Nhưng đây lại là một câu hỏi
mà một xã hội hiện đại rất ít khi dám tự vấn.
Ngày nay người ta thường hỏi
chúng ta có đủ quyền chưa?
Có đủ phúc lợi chưa?
Có đủ tiếng nói chưa?
Có đủ đại diện chưa?
Nhưng các thế hệ lập quốc hỏi một câu khác.
Chúng ta có đủ đạo đức để cai trị chính mình không?
Đây là điểm than chốt.
Ngài Quốc phụ George Washington hiểu điều đó.
Tại Valley Forge,
nơi quân đội lực địa của ông
đóng quân trong mùa đông khắc nghiệt
năm 1777-1778,
sau khi mất Philadelphia,
quân đội của ông rơi vào cảnh khốn cùng.
Họ thiếu thốn,
lạnh giá, mệt mỏi
và cần rất nhiều hỗ trợ.
Có câu chuyện kể rằng
khi đó rất cần y tá,
nhưng tướng Washington nói rằng
phụ nữ độc thân không được đến làm y tá
ở trại của ông.
Những người đến làm y tá chỉ có thể là vợ
của các binh sĩ đã kết hôn.
Vì sao?
Ngài Washington lúc đó giải thích rằng
vũ khí của chúng ta không bằng quân đội Anh,
huấn luyện cũng không bằng họ,
quân số cũng không bằng họ,
mọi thứ đều không bằng Anh quốc.
Nếu đạo đức của chúng ta cũng không bằng họ,
thì thượng đế sẽ không còn
che chở chúng ta nữa.
Cuối cùng thì Hoa Kỳ đã chiến thắng,
nhưng quý vị có biết chiến thắng đó
kỳ diệu đến nhường nào không?
Chiến tranh dành độc lập của Mỹ
vốn là cuộc đối đầu không cân sức
giữa một lực lượng dân quân sơ khai
và quân đội đế quốc Anh,
lực lượng viễn trinh hùng mạnh nhất thế giới
lúc bấy giờ.
Việc nước Mỹ có thể giành chiến thắng,
tự thân điều đó đã là một kỳ tích.
Lực lượng dân quân ấy sau này
được tổ chức thành lục quân lục địa.
Trong suốt cuộc chiến,
họ đã có tới 67 lần
rơi vào tình thế hiểm nghèo,
thậm chí là tuyệt cảnh.
Thế nhưng cứ mỗi lần như vậy,
lịch sử lại ghi nhận những bước ngoặt kỳ lạ
như có phép bầu cứu giúp,
giúp họ lội ngược dòng và chuyển nguy thành an.
Tổng tư lệnh George Washington
Ngay từ trước chiến tranh độc lập,
trong cuộc chiến giữa Pháp và Anh,
khi ngài Washington còn trẻ,
người ta kể rằng ông từng bị bắn thủng 4 lỗ trên áo,
nhưng đặn chỉ trúng vào áo
chứ không trúng người.
Hay có người ông cửi bị bắn chết,
nhưng bản thân ông lại không hề hứng gì.
Khi ấy, rất nhiều người tin rằng
ngài Washington là người được thần giữ lại
để hoàn thành đại nghiệp.
Bản thân ông Washington cũng quy việc đó
cho sự che chở của thần.
Trong chiến tranh độc lập sau này,
ông nhiều lần ở giữa lang đạn.
Ví dụ trong trận Princeton,
lục quân lục địa của tướng Washington
giao chiến bất ngờ với quân Anh.
Vì quân Anh là quân đội chuyên nghiệp
mạnh hơn rất nhiều, quân Hoa Kỳ
nhanh chóng bị đánh lùi.
Ông Washington đứng sau chiến tuyến thấy rằng
nếu không khéo thì toàn quân sẽ vỡ trận.
Ông bèn lên ngựa, tự tiến lên phía trước,
yêu cầu những binh sĩ đang tháo chạy
phải chỉnh tề hàng ngủ,
ổn định lại trận tuyến.
Lúc đó quân Anh từng bước áp sát
khi họ tiến đến ngay trước mặt.
Trong khu vực trống giữa 2 đội quân đối đầu,
Washington chỉ cách quân Anh
khoảng 30 mét.
Khi ấy quân Anh đồng loạt bắn hỏa mai,
nhắm thẳng vào tướng Washington,
khói súng bóp lên.
Phụ tá của Washington kéo mũ xuống che mắt
vì ông tin chắc tổng tư lệnh của mình đã tử trận.
Nhưng khi khói tan,
ông Washington vẫn ngồi thẳng trên lân ngựa,
không hề hấn gì.
Chính vì vậy, mãi về sau,
trong bài diễn văn nhầm chất nhiệm kỳ đầu tiên,
tổng thống George Washington
đã đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố này.
Ông khẳng định rằng,
không một dân tộc nào thấu hiểu
và biết ơn bàn tay vô hình hơn
người dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Bàn tay vô hình mà ngài Washington nhắc tới
chính là sự che chở của đấng tối cao
của thần.
Nhìn lại lịch sử,
mỗi bước đi trong hành trình lập quốc của nước Mỹ
dường như đều được định sẵn
và dẫn lối bởi thiên ý.
Vậy có phải đó là điều
đã khiến Hoa Kỳ trở thành
quốc gia hùng mạnh nhất?
Có một câu chuyện thế này.
Vào năm 1831,
nhà luật học người Pháp Alexis de Tocqueville
đã đến Hoa Kỳ du lịch
trong 9 tháng.
Ông vô cùng chấn động, vô cùng kinh ngạc.
Sau khi trở về châu Âu,
ông viết tác phẩm nổi tiếng Nền dân trị Mỹ.
Cuốn sách này lần đầu tiên giúp người châu Âu
nhận ra một nước Mỹ trẻ trung
và tràn đầy sức sống khi đó.
Trong sách, ông có một đoạn
đã trả lời câu hỏi nêu trên.
Nội dung như sau.
Tôi đã tìm kiếm sự vĩ đại và thiên phú
của nước Mỹ. Tôi tìm trong những
cảng biển rộng lớn và những dòng sông
hồng vĩ của họ, nhưng không tìm thấy.
Tôi tìm trên những vùng đất
màu mỡ và những thảo nguyên
vô tận của họ, nhưng không tìm thấy.
Tôi tìm trong những mỏ khoáng sản
phong phú và nền thương mại khổng lồ
của họ, nhưng vẫn không tìm thấy.
Nhưng khi tôi bước
vào nhà thờ của người Mỹ,
nghe trên bục giảng các mục sư
thắp lên ngọn lửa chính nghĩa,
cuối cùng tôi mới tìm thấy câu trả lời.
Nước Mỹ vĩ đại
vì nước Mỹ thiền lương.
Nếu nước Mỹ không còn thiền lương,
thì nước Mỹ sẽ không còn vĩ đại.
Thưa quý vị,
nếu nước Mỹ không còn thiền lương,
thì nước Mỹ sẽ không còn vĩ đại.
Câu này không phải là khẩu hiệu,
nó là chuẩn đoán chính trị.
Một nền Cộng hòa tự do không thể
tồn tại nếu người dân mất đạo đức.
Một kiến pháp giới hạn quyền lực
không thể vận hành nếu công dân
không có kỷ luật nội tâm.
Một xã hội tự do không thể bền vững
nếu tự do bị biến thành buôn thả,
nếu lòng nhân ái bị biến thành
phụ thuộc, nếu nhà nước bị
thần thánh hóa. Chúng ta hãy
so sánh cách mạng Mỹ với cách mạng Pháp
sẽ ra gần kề với nhau.
Cả hai cuộc cách mạng đều chống lại vương quyền,
nhưng kết quả khác nhau hoàn toàn.
Cách mạng Hoa Kỳ đặt tự do
trong khuôn khổ đạo đức, đức tin,
trách nhiệm và chính phủ giới hạn quyền lực.
Vì vậy, nó để lại
một nền cộng hòa bền vững.
Cách mạng Pháp lại cắt đứt với tiếng ngưỡng,
thừa phụng lý trí cực quan,
theo đuổi bình đẳng bằng bạo lực
và cuối cùng rơi vào khổng mối,
giếm giết, hỗn loạn.
Cả Paris hôi tanh mùi máu.
Cuối cùng Napoleon đã xuất hiện như
một hoàng đế mới, cai trị nước Pháp
và trinh phạt toàn bộ châu Âu.
Cách mạng Pháp về cơ bản đã thất bại.
Chắc quý vị cũng thấy,
đây là bài học rất lớn.
Tự do không thể tách khỏi đạo đức.
Bình đẳng cực đoan
nếu không có đức tin và trách nhiệm
sẽ biến thành bạo lực.
Và đây chính là lý do câu hỏi
độc lập trong thời hiện đại
trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Độc lập của Hoa Kỳ hôm nay
không chỉ là thoát khỏi Vua Anh,
độc lập hôm nay là một người dân
có quyền sống đời mình, làm việc,
sáng tạo, kinh doanh, nuôi dạy con cái,
giữ đức tin, bảo vệ tài sản,
phát biểu quan điểm
và theo đuổi ước mơ của mình
miễn là không xâm phạm quyền của người khác.
Nhưng độc lập cũng có nghĩa là trách nhiệm.
Còn tự do
không phải là muốn làm gì thì làm.
Tự do không phải là phá bỏ mọi giới hạn
hay là đòi chính phủ cung cấp mọi thứ.
Tự do càng không phải là trúc trách nhiệm đời mình
lên vai người khác
thông qua thuế má, phúc lợi
và nhà nước bảo mẫu.
Trong quan niệm của các vị cha lập quốc Hoa Kỳ
quyền tự do của con người
không phải là do con người tự ý quyết định
quyền đó là do đấng sáng thế
ban cho con người.
Cho đến nay, Hoa Kỳ là quốc gia
đã đưa ra một trong những lời hứa chính trị
vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại
có người được tạo dựng bình đẳng
và quyền tự do của con người
đến trước quyền lực của nhà nước.
Lời hứa ấy không tự hoàn thành
nó cần được mỗi thế hệ
bảo vệ, sửa chữa,
làm sâu sắc hơn và truyền lại.
Vì vậy, chúc mừng sinh nhật
250 năm Hoa Kỳ
và cầu mong người dân Hoa Kỳ
vẫn còn đủ lòng can đảm, đủ
đức tin và đủ trách nhiệm
để giữ lấy món quà tự do
mà các vị quốc vụ đã để lại.