Việt Nam Hai Trăm Triệu Năm Trước Trông Như Thế Nào? | Hồ Sơ Cổ Đại

Đình Sự
535 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis video explores the geological evolution of Vietnam over 200 million years, detailing how tectonic shifts transformed fragmented landmasses and shallow tropical seas into the modern landscape. It explains the formation of limestone karsts and discusses why the region's climate and geological activity have left few dinosaur fossils.
Có một sự thật mà rất ít người từng nghĩ tới, gần như toàn bộ bản đồ Việt Nam ngày nay,
từng không tồn tại theo cách chúng ta biết.
Không có đồng bằng sông Hồng, không có dãy trưởng sơn như hôm nay,
thậm chí nhiều vùng đất hiện nay từng nằm dưới đáy đại dương sâu,
trong khi những nơi khác lại là những hòn đảo cô độc giữa một thế giới hoàn toàn xa lạ.
Nếu có thể bước lui khoảng 200 triệu năm, bạn sẽ không nhận ra bất cứ điều gì quen thuộc.
Không phải vì thời gian đã xóa đi dấu vết của con người,
mà bởi chính trái đất khi ấy vẫn đang trong quá trình xây dựng Việt Nam.
Điều kỳ lạ hơn là tất cả những câu chuyện ấy vẫn còn nằm ngay dưới chân chúng ta,
trong những lớp đá ở Cao Bằng, trong hóa thạch ở Quảng Bình,
trong những dãy núi tưởng chừng vô chi mà mỗi lớp đá đều giống như từng trang nhật ký
bị khóa kín suốt hàng trăm triệu năm.
Vậy, nếu là luật mở từng trang nhật ký ấy ra,
Việt Nam của 200 triệu năm trước sẽ hiện lên như thế nào?
Khi nhắc đến Việt Nam, chúng ta thường nghĩ ngay đến những dãy núi đá vôi hùng vĩ,
những đồng bằng màu mỡ hay đường bờ biển kéo dài hơn 3.000 cây số.
Mọi thứ dường như đã luôn tồn tại như vậy.
Chúng ta lớn lên cùng bản đồ quen thuộc ấy và gần như mặc nhiên tin rằng
vùng đất này từ rất lâu đã mang hình dáng như ngày nay.
Nhưng sự thật lại khác rất xa những gì trực giác mách bảo.
Nếu có thể quay ngược thời gian, không phải vài trăm năm hay vài nghìn năm,
mà lui về khoảng 200 triệu năm trước,
bạn sẽ không tìm thấy bất kỳ điều gì giống với Việt Nam hiện đại.
Không có vịnh Hạ Long, không có Tràng An, không có dãy Trường Sơn,
thậm chí cũng chưa hề tồn tại một vùng đất có thể gọi là Việt Nam.
Nghe có vẻ khó tin, nhưng vào đầu kỷ du già,
chính hành tinh của chúng ta vẫn đang trong quá trình sắp xếp lại các mảnh ghép của mình.
Bề mặt trái đất không hề bất động,
những mảng kiến tạo khổng lồ vẫn âm thầm dịch chuyển với tốc độ chỉ vài cm mỗi năm.
Trong một đời người, con số ấy gần như không có ý nghĩa.
Nhưng khi thời gian được tính bằng hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu năm,
những chuyển động nhỏ bé ấy lại đủ sức thay đổi hoàn toàn diện mạo của cả một lục địa.
Những gì sau này trở thành lãnh thổ Việt Nam, khi ấy không phải là một khối thông nhất.
Một số khu vực nằm dưới vùng biển nhiệt đới nông,
nơi các dạng săn hô và vô số sinh vật biển phát triển mạnh mẽ.
Một số khác lại nằm ở rìa của những khối lục địa cổ,
liên tục chịu tác động của các lực kiến tạo bên dưới lòng đất.
Nói cách khác, mảnh đất mà chúng ta đang sống vẫn còn là một bức tranh chưa hoàn chỉnh,
với nhiều mảnh ghép nằm ở những vị trí hoàn toàn khác so với hiện tại.
Và chính ở đây, chúng ta bắt đầu nhận ra một điều rất thú vị.
Càng quay ngược về quá khứ, khái niệm quốc gia càng trở nên mờ nhạt,
địa chất không biết đến biên giới, cũng không biết đến tên gọi của bất kỳ dân tộc nào.
Đối với cháy đất, chỉ có những đại dương mở ra rồi khép lại,
những lục địa tách rời rồi và chạm, những dãy núi được nâng lên
rồi lại bị bao mòn trong vòng tuần hoàn kéo dài hàng trăm triệu năm.
Có lẽ, đó là điều khiến lịch sử địa chất trở nên hấp dẫn theo một cách rất riêng.
Lịch sử của con người được kể bằng những chiều đại,
những cuộc chiến và những biên cố chỉ kéo dài vài chục hay vài trăm năm.
Nhưng lịch sử của cháy đất lại được viết bằng thời gian,
chậm đến mức chúng ta gần như không thể cảm nhận, mỗi năm chỉ dịch chuyển thêm một chút.
Thế nhưng sau hàng trăm triệu năm, chính những chuyển động tưởng như vô hình ấy
đã tạo nên núi non, đại dương và toàn bộ khung cảnh mà chúng ta đang nhìn thấy ngày hôm nay.
Và rồi một câu hỏi khác xuất hiện.
Nếu hai trăm triệu năm trước vẫn chưa có Việt Nam như chúng ta biết,
vậy những tảng đá cổ nhất dưới chân chúng ta thực sự đến từ đâu?
Chúng được hình thành ngay tại vị trí hiện nay hay đã từng là một phần
của những vùng đất xa lạ trước khi cùng nhau tạo nên giải đất hình chữ X?
Muốn trả lời câu hỏi ấy, chúng ta sẽ phải tìm đến những nhân chứng lâu đời nhất của lịch sử,
không phải những cuốn sử, không phải những di tích của con người,
mà là những lớp đá từng nằm dưới đáy của một đại dương đã biến mất từ hàng trăm triệu năm trước.
Nếu những lớp đá có thể kể chuyện, thì điều đầu tiên chúng sẽ nói có lẽ là một sự thật
khiến nhiều người bất ngờ phần lớn những gì ngày nay là miền Bắc Việt Nam từng nằm dưới biển.
Không phải một vùng biển lạnh như chúng ta vẫn hình dung về đại dương ngày nay,
đó là một vùng biển nhiệt đới nông, ấm áp và tràn ngập sự sống.
Nước biển trông đến mức ánh sáng mặt trời có thể xuyên xuống đáy,
nhiệt độ ổn định quanh năm tạo điều kiện lý tưởng cho hàng nghìn loài sinh vật phát triển.
Nếu có thể lận xuống vùng biển ấy, bạn sẽ thấy một thế giới hoàn toàn khác với Việt Nam hiện đại.
Dưới làn nước xanh là những dạng săn hô khổng lồ trải dài, đến tất đường chân trời.
Xèn giữa những cụm săn hô là vô số loài động vật biển cổ đang bơi lội.
Những con ammonite với chiếc vỏ xoắn đặc trưng chậm dãi trôi theo dòng nước,
các loài nhuyễn thể bám kín đến đấy.
Bọt biển, huệ biển và vô số sinh vật không sương sống khác
có thể vì như những khu rừng nhiệt đới của đại dương cổ.
Điều thú vị là rất nhiều sinh vật trong số đó ngày nay đã hoàn toàn biến mất,
một số tuyệt chủng từ hàng chục triệu năm trước,
một số khác chỉ còn được biết đến qua những dấu tích hóa thạch.
Nhưng vào thời điểm ấy, chúng mới chính là những cư dân thống trị vùng biển
bao phủ phần lớn khu vực Đông Nam Á.
Thế nhưng, điều đáng kinh ngạc nhất lại không nằm ở chính những sinh vật đó,
mà nằm ở những gì chúng để lại sau khi chết.
Khi một con ammonite kết thúc vòng đời của mình,
chiếc vỏ canxi của nó lặng lẽ chìm xuống đáy biển.
Những dặn sàn hồ cũng vậy.
Qua hàng nghìn năm, rồi hàng triệu năm sát của vô số sinh vật biển
liên tục tích tụ thành những lớp trầm tích ngày càng dày hơn.
Ban đầu chỉ là những mảnh vụn rất nhỏ,
nhưng dưới sức nặng của các lớp trầm tích mới và áp lực khổng lồ từ lòng đất,
chúng dần bị nén chặt, kết dính và biến thành đá.
Đó chính là đá vôi.
Nói cách khác, rất nhiều khối núi đá vôi hùng vĩ
mà chúng ta nhìn thấy ở miền Bắc Việt Nam ngày nay
thực chất được hình thành từ sác của vô số sinh vật biển đã sống
và chết cách đây hàng trăm triệu năm.
Đó là một ý nghĩ thật khó hình dung.
Khi đứng trước những vách núi sửng sững của Hạ Long,
Tràng An hay cao nguyên Đá Đồng Văn,
chúng ta thường chỉ nhìn thấy đá.
Nhưng đối với các nhà địa chất,
mỗi lớp đá ấy giống như một cuốn biên niên sử khổng lồ.
Trong đó vẫn còn lưu giữ những chiếc vỏ hóa thạch,
những dâu vết của sàn hồ cổ và vô số sinh vật
từng bơi lội trong vùng biển đã biến mất từ rất lâu.
Có thể nói, những ngọn núi ấy không được sinh ra từ lửa
như nhiều người vẫn nghĩ.
Chúng được sinh ra từ biển,
thậm chí từ chính sự sống trong lòng biển.
Đó là lý do khi các nhà khoa học phát hiện hóa thạch của sinh vật biển
nằm giữa những dãy núi cao ở miền Bắc,
họ không xem đó là một điều bất thường.
Ngược lại, đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất
cho thấy nơi đây từng là đáy đại dương.
Nhưng rồi một câu hỏi khác lại xuất hiện.
Nếu tất cả từng nằm dưới biển,
vì sao ngày nay chúng lại nằm ở độ cao hàng trăm,
thậm chí hàng nghìn mét so với mực nước biển?
Thoạt nghe, điều đó gần như không thể xảy ra.
Làm sao đáy biển có thể biến thành núi?
Câu trả lời nằm ở một đặc điểm
mà con người rất khó cảm nhận trái đất luôn chuyển động.
Không phải bằng những biến đổi dữ dội diễn ra trong vài ngày hay vài năm,
mà bằng những chuyển động chậm đến mức chúng ta gần như không nhận ra.
Các mảng kiến tạo vẫn không ngừng ép vào nhau,
trượt xuống dưới nhau hoặc nâng đỡ nhau lên,
mỗi năm chỉ thêm vài cm,
một khoảng cách quá nhỏ để tạo ra khác biệt cho một đời người.
Nhưng địa chất không đo thời gian bằng đời người.
Nó đo bằng hàng triệu năm.
Và khi hàng triệu năm nối tiếp hàng triệu năm,
những lớp đá từng nằm dưới đáy biển bắt đầu bị ép,
bị uốn cong rồi từ từ được nâng lên cao.
Đại dương dần rút lui,
những lớp trầm tích hóa đá lộ ra trên mặt đất.
Theo thời gian, mưa, gió và dòng chảy tiếp tục bảo mòn chúng,
tạo nên những vách núi, thùng lũng và hang động mà chúng ta vẫn thấy ngày nay.
Nếu chỉ nhìn vào hiện tại,
gần như không ai có thể đoán rằng
một dãy núi hùng vĩ lại từng nằm sâu dưới lòng biển.
Nhưng đó chính là cách trái đất vận hành,
không vội vã, không ồn ào,
chỉ bằng những chuyển động nhỏ bé kéo dài
qua những khoảng thời gian vượt ngoài sức tưởng tượng của con người.
Và khi bức tranh về đại dương cổ dần hiện ra,
chúng ta cũng bắt đầu nhận ra rằng
biển mới chỉ kể một nửa câu chuyện.
Bởi trong lúc những sinh vật biển đang phát triển mạnh mẽ dưới làn nước ấm,
thì ở phía bên kia của hành tinh,
trên những vùng đất khô ráo,
một nóm sinh vật khác đang từng bước vươn lên thống trị thế giới.
Đó là thời đại của khủng long.
Đây cũng là phần hấp dẫn nhất,
bởi hình ảnh khủng long từ lâu
đã trở thành biểu tượng của cả một kỷ nguyên trong lịch sử trái đất.
Chúng xuất hiện vào cuối kỷ Tam Điệp,
khoảng 230 triệu năm trước,
và đến đầu kỷ Du Da,
tức khoảng 200 triệu năm trước.
Nhiều nhóm khủng long đã bắt đầu phát triển mạnh,
dần trở thành những động vật thống trị trên đất liền.
Nói cách khác,
vào đúng thời điểm chúng ta đang quay trở về trong hành trình này,
khủng long chắc chắn đã tồn tại.
Nhưng điều đó lại dẫn đến một câu hỏi khác.
Nếu khủng long đã xuất hiện trên trái đất,
vậy tại sao Việt Nam gần như không có những hóa thạch khủng long nổi tiếng như Trung Quốc,
Mông Cổ hay Bắc Mỹ?
Thọt nhìn,
nhiều người sẽ nghĩ câu trả lời rất đơn giản
có lẽ khủng long chưa từng sống ở đây.
Nhưng khoa học hiếm khi đi đến kết luận nhanh như vậy.
Thực tế là việc một loài từng tồn tại
và việc chúng để lại hóa thạch là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau.
Để một bộ xương khủng long có thể tồn tại đến ngày nay,
rất nhiều điều kiện đặc biệt phải xảy ra cùng lúc.
Sau khi con vật chết,
sác của nó cần nhanh chóng được trôn vùi dưới bùn,
cát hoặc trầm tích trước khi bị các loài ăn sác,
vi khuẩn và quá trình phân hủy phá hủy hoàn toàn.
Sau đó,
lớp trầm tích ấy phải tiếp tục được bảo tồn suốt hàng chục,
thậm chí hàng trăm triệu năm mà không bị biến dạng quá mạnh.
Chỉ cần một mắt xích trong chuỗi đó bị phá vỡ,
hóa thạch có thể biến mất mãi mãi.
Và đáng tiếc là phần lớn những gì ngày nay là lãnh thổ Việt Nam
lại không phải là nơi lý tưởng để bảo tồn những dấu tích mong manh ấy.
Trong suốt lịch sử địa chất,
khu vực này đã trải qua nhiều giai đoạn kiến tạo rất mạnh.
Các màng vỏ cháy đất liên tục va trạng,
nâng lên rồi ôn nếp.
Nhiều lớp đá bị biến chất dưới áp suất và nhiệt độ cao,
khiến những hóa thạch nếu từng tồn tại cũng có thể bị phá hủy hoàn toàn.
Chưa dừng lại ở đó, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam
cũng góp phần làm mọi thứ trở nên khó khăn hơn.
Mưa nhiều, sông ngòi dày đặc và quá trình phong hóa diễn ra liên tục
khiến các lớp đá cổ bị bao mòn qua hàng triệu năm.
Không ít tầng địa chất có khả năng chứa hóa thạch đã biến mất
trước khi con người kịp biết đến sự tồn tại của chúng.
Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là không phải mọi loại đá
đều có khả năng lưu giữ hóa thạch khủng long.
Phần lớn hóa thạch của các loài sống trên cạn
được tìm thấy trong các lớp trầm tích hình thành ở đồng băng, hồ nước
hoặc những con sông cổ.
Trong khi đó, như chúng ta vừa khám phá ở phần trước,
nhiều khu vực của Việt Nam vào đầu kỷ Dusa vẫn còn nằm dưới biển.
Điều đó đồng nghĩa với việc các lớp đá phù hợp
để bảo tồn hóa thạch khủng long trên cạn vốn đã không nhiều.
Vậy, tất cả những điều đó có đồng nghĩa
với việc khủng long chưa từng đặt chân lên vùng đất này.
Câu trả lời là chúng ta chưa thể biết,
và chính chữ chưa ấy mới là điều quan trọng.
Rất có thể, trên những vùng đất nổi nằm sen giữa các biển cổ khi đó,
khủng long đã từng sinh sống, săn mồi và sinh sản
như ở nhiều nơi khác trên thế giới.
Cũng rất có thể dấu tích của chúng đã bị phá hủy
trong những biến động địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm.
Hoặc cũng có khả năng, những hóa thạch ấy
vẫn còn nằm đâu đó dưới lòng đất,
chưa được phát hiện trong tương lai.
Đây là điểm mà mình thấy nhiều nội dung trên Internet
thường đơn giản hóa quá mức.
Thỉnh thoảng, bạn sẽ bắt gặp những tiêu đề khẳng định
chắc chắn rằng Việt Nam không có khủng long,
nghe thì dứt khoát, nhưng lại không phản ánh đúng cách khoa học vận hành.
Trong nghiên cứu cổ sinh vật học,
việc không tìm thấy bằng chứng không đồng nghĩa
với việc bằng chứng không tồn tại.
Đó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Lịch sử khoa học đã nhiều lần chứng minh điều này.
Có những loài động vật từng được cho là
chưa bao giờ tồn tại ở một khu vực nào đó,
cho đến khi một hóa thạch bất ngờ được phát hiện
và buộc toàn bộ giả thuyết cũ phải viết lại.
Khoa học không phát triển bằng những câu trả lời tuyệt đối.
Nó phát triển nhờ những bằng chứng mới.
Vì thế, câu trả lời trung thực nhất
ở thời điểm hiện nay là chúng ta chưa có đủ bằng chứng trực tiếp
để khẳng định khủng long từng sinh sống trên vùng đất này là Việt Nam,
nhưng cũng không có đủ cơ sở để khẳng định điều ngược lại.
Nghe có vẻ không thỏa mãn.
Thế nhưng trong khoa học,
chưa biết không phải là một thất bại.
Đó là một câu trả lời hoàn toàn hợp lệ.
Và đôi khi chính những khoảng trống ấy
lại là động lực để các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm.
Điều thú vị là dù chưa tìm thấy hóa thạch khủng long,
các nhà khoa học vẫn có thể tái hiện khá rõ
bức tranh về Việt Nam của hàng trăm triệu năm trước.
Họ biết nơi nào từng là biển,
nơi nào từng nhô lên thành đất liền,
tậm chí có thể ước tính môi trường sống
và khí hậu của từng khu vực.
Vậy, nếu không có những bộ xương khủng long
để kể chuyện, họ đã dựa vào điều gì?
Câu trả lời nằm trong những nhân chứng thẩm lạng hơn rất nhiều.
Đó là những lớp đá.
Nghe thì có vẻ kỳ lạ,
đa vốn là thứ vô chi,
lọng lẽ nằm đó qua hàng triệu năm.
Nhưng với các nhà địa chất,
mỗi khối đá đều giống như một trang sách
đã được viết từ rất lâu.
Điều quan trọng không phải là nó có đẹp hay không,
mà là nó được tạo thành từ đâu,
nằm ở vị trí nào
và đã trải qua những biến đổi gì
trong suốt lịch sử của trái đất.
Mỗi lớp đá đều lưu giữ một phần ký ức của hành tinh.
Có lớp được hình thành dưới đáy đại dương,
có lớp lại được tạo nên từ dòng dung nham
nguội đi sau một vụ phun trào núi lửa,
có lớp chứa đầy vỏ sò,
săn hô và những sinh vật biển cổ.
Cũng có những lớp gần như không có hóa thạch nào,
nhưng bản thân thành phần khoáng vật của chúng
lại đủ để kể một câu chuyện khác.
Điều thú vị là các nhà khoa học
không bao giờ chỉ nhìn vào một dấu vết duy nhất.
Họ ghép rất nhiều mảnh thông tin nhỏ lại với nhau,
giống như lắp một bức tranh ghép
đã mất gần hết các mảnh.
Một trong những công cụ quan trọng nhất
chính là khoáng vật.
Trong quá trình hình thành,
nhiều loại đá chứa các tinh thể khoáng vật
có khả năng lưu giữ thông tin
về thời điểm chúng được tạo ra.
Đặc biệt, một số khoáng vật như zircon
gần như được xem là chiếc đồng hồ của giới địa chất.
Khi tinh thể zircon kết tinh từ dung nham hoặc mama,
nó hấp thụ một lượng rất nhỏ nguyên tố uranium vào cấu trúc của mình.
Theo thời gian, uranium sẽ phân giã thành trì
với một tốc độ gần như không thay đổi.
Bằng cách đo tỷ lệ giữa hai nguyên tố này,
các nhà khoa học có thể tính được tuổi của tinh thể
với độ chính xác đáng kinh ngạc.
Đôi khi xe số chỉ ở mức vài triệu năm
trong một khoảng thời gian kéo dài hàng trăm triệu,
thậm chí hàng tỷ năm.
Nghe có vẻ rất phức tạp.
Nhưng điều đó cũng có nghĩa là chỉ từ một tinh thể nhỏ bé,
các nhà nghiên cứu đã có thể xác định
thời điểm một lớp đá được hình thành.
Không chỉ vậy.
Đôi khi họ còn tìm thấy những lớp cho núi lửa mỏng
nằm xen giữa các tầng đá trầm tích.
Đối với người bình thường,
đó chỉ là một lớp đá màu khác biệt.
Nhưng với giới địa chất,
đó giống như một mốc thời gian được chính thiên nhiên đánh dấu.
Bởi mỗi vụ phun trào núi lửa
đều diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn
trên thang đo địa chất.
Nếu xác định được tuổi của lớp cho ấy,
họ cũng sẽ biết những lớp đá nằm phía trên
và phía dưới được hình thành trước hay sau thời điểm đó.
Rồi đến hóa thạch chỉ thị.
Không phải mọi hóa thạch đều giúp xác định nhiên đại,
nhưng có những loài sinh vật chỉ tồn tại
trong một khoảng thời gian địa chất
tương đối ngắn và phân bấu rất rộng.
Khi phát hiện hóa thạch của chúng trong một lớp đá,
các nhà khoa học gần như có thể xác định
ngay lớp đá ấy thuộc về giai đoạn nào
của lịch sử trái đất.
Đó là lý do những chức vỏ ammonite
hay những hóa thạch sinh vật biển nhỏ bé
lại có giá trị lớn đến vậy.
Chúng không chỉ cho biết nơi đó từng là biển,
mà còn giúp xác định khoảng thời gian vùng biển ấy tồn tại.
Phong cùng là địa tầng.
Nếu coi mỗi lớp đá là một trang sách,
thì địa tầng chính là nghệ thuật đọc các trang sách
theo đúng thứ tự.
Thông thường, lớp nằm sâu hơn sẽ hình thành
trước lớp nằm phía trên.
Tuy nhiên, do các chuyển động kiến tạo,
đôi khi cả cuốn sách ấy bị gấp lại,
ngưng đi hoặc thậm chí lộn ngược.
Vì thế, công việc của nhà địa chất không chỉ là tìm đá,
mà cũng là tìm hiện phía sau cách
những lớp đá ấy sắp xếp với nhau.
Điều mình thấy thú vị nhất là tất cả những phương pháp này
đều không đòi hỏi phải tìm thấy
một bộ xương khủng long hoàn chỉnh.
Chỉ cần một lớp cho núi lửa,
một chiếc vở sò hóa thạch,
hay một tinh thể dơ con chỉ vài mm,
chừng đó đôi khi đã đủ
để tái dựng cả một môi trường tồn tại
từ hàng trăm triệu năm trước.
Nghe thật khó tìm.
Nhưng chính nhờ những mảnh ghép nhỏ bé ấy
mà chúng ta biết nhiều vùng ở miền Bắc Việt Nam
từng nằm dưới biển,
chúng ta biết những dãy núi đá vôi
được hình thành từ trầm tích sinh học.
Và chúng ta cũng biết rằng,
có những khối đá trên lãnh thổ Việt Nam
còn cổ xưa hơn rất nhiều so với
thời kỳ khủng long phát hiện.
Điều đó có nghĩa là khi khủng long
bắt đầu bước đi trên mặt đất,
một số khối đá dưới chân
chúng ta ngày nay đã tồn tại từ trước đó rất lâu.
Có lẽ, đây là điều khiến mình ấn tượng nhất
về địa chất.
Nó gần như không kể chuyện
bằng những sự kiện lớn.
Không có những trận chiến.
Không có những vị anh hùng.
Không có những khoảnh khắc làm thay đổi lịch sử
chỉ sau một đêm.
Thay vào đó, toàn bộ câu chuyện của trái đất
được ghép lại từ vô số chi tiết cực nhỏ.
Một tinh thể chỉ vài mm,
một hóa thạch bé bằng lòng bàn tay,
một lớp cho núi lửa mỏng
đến mức dễ bị bỏ qua.
Nhưng chính những chi tiết tưởng như vô nghĩa ấy
lại mang trong mình ký ức của cả một đại dương
đã biến mất, của những lục địa từng và chạ
và của một thế giới không còn tồn tại.
Và khi tất cả những mảnh ghép ấy
được đặt đúng vị trí của chúng,
bức tranh về Việt Nam cách đây 200 triệu năm
cũng dần hiện ra rõ nét hơn bao giờ hết.
Điều đáng kinh ngạc nhất
là tất cả những câu chuyện ấy
đều kết nối với nhau.
Chúng kể về một vùng đất chưa bao giờ đứng yên.
Khoảng 200 triệu năm trước,
phần lớn những gì ngày nay
là lãnh thổ Việt Nam vẫn đang trong quá trình hình thành.
Có nơi nằm dưới một vùng biển
nhiệt đới nông, nơi sự sống phát triển
mạnh mẽ giữa những dạng sàn hồ rộng lớn.
Có nơi chỉ là rìa
của các khối lục địa cổ,
liên tục bị những chuyển động kiến tạo âm thầm tác động.
Qua hàng chục triệu năm,
những đại dương ấy dần biến mất,
những lớp trầm tích dưới đáy biển bị nén ép,
ốn cong rồi từ từ nâng lên khỏi mặt nước.
Biển trở thành núi,
đáy đại dương trở thành cao nguyên.
Những lớp đá từng nằm sâu dưới làn nước
giờ đây lại đứng sừng sững giữa bầu trời.
Nếu chỉ nhìn vào hiện tại,
chúng ta sẽ nghĩ đó là điều hiển nhiên.
Nhưng trên thang thời gian của địa chất,
đó là một hành trình kéo dài hàng trăm triệu năm.
Trong suốt quãng thời gian ấy,
các mảng kiến tạo chưa bao giờ ngưng chuyển động.
Chúng va chạm,
tách rời, rồi lại dịch chuyển theo những hướng khác nhau.
Mỗi lần dịch chuyển đều làm thay đổi địa hình,
dòng chảy của đại dương
và cả khí hậu của một vùng rộng lớn.
Khi biển lùi đi,
những vùng đất mới xuất hiện.
Khi núi được nâng lên, khí hậu cũng thay đổi theo.
Những hệ sinh thái cũ biến mất
trong khi những hệ sinh thái mới dần hình thành.
Sự sống cũng không ngừng thay đổi cùng hành tinh.
Những sinh vật từng thống trị các vùng biển cổ
rồi biến mất.
Khủng long vươn lên
làm bá chủ trên đất liền suốt hàng trăm triệu năm
trước khi chịu trùng số phận
với rất nhiều loài khác trong một sự kiện tuyệt chủng lớn.
Sau đó là thời đại của các loài thú.
Rồi cuối cùng,
rất lâu sau tất cả những biến động ấy,
con người mới xuất hiện.
Đó là một chi tiết mà mình luôn cảm thấy đáng suy ngẫm.
Chúng ta thường có xu hướng
xem lịch sử loài người là trung tâm của mọi câu chuyện.
Nhưng nếu nhìn từ góc độ địa chất,
con người chỉ xuất hiện
ở những khoảnh khắc cuối cùng
của một bộ phim đã kéo dài hơn 4 tỷ năm.
Có một cách hình dung rất thú vị.
Hãy tưởng tượng toàn bộ lịch sử
của cháy đất được nén lại thành
đúng 24 giờ.
Khi đó, những đại dương đầu tiên xuất hiện
từ rất sớm, sự sống đơn bào chiếm
gần như cả ngày dài.
Khủng long chỉ bước lên sân khấu vào khoảng hơn
10 giờ tối, sự kiện tuyệt chủng
khiến chúng biến mất diễn ra
chưa đầy một giờ trước nửa đêm.
Còn con người?
Chúng ta chỉ xuất hiện trong vài giây cuối cùng
trước khi đồng hồ điểm 12 giờ.
Điều đó cũng có nghĩa là thời điểm cách đây
khoảng 200 triệu năm
khi Việt Nam vẫn đang dần được hình thành
đã là gần nửa bộ phim trước khi con người
có cơ hội bước lên sân khấu.
Nghĩ theo cách ấy, chúng ta sẽ nhìn
những ngọn núi quanh mình bằng một cảm giác
hoàn toàn khác.
Một dãy núi không đơn thuần
chỉ là đá.
Nó từng là đáy biển.
Một cao nguyên không chỉ là vùng đất cao.
Nó là kết quả của những lực kiến
tạo âm thầm hoạt động suốt hàng chục triệu năm.
Ngay cả một viên đá nhỏ
bên vệ đường cũng có thể đã bắt đầu
hành trình của mình từ khi những loài
khủng long đầu tiên còn chưa xuất hiện.
Có lẽ đó mới là điều hấp dẫn nhất
khi tìm hiểu về quá khứ của Việt Nam.
Không phải để trả lời
câu hỏi vùng đất này từng có những loài
sinh vật nào hay từng trải qua những biến cố gì.
Mà để nhận ra rằng
chính mảnh đất dưới chân chúng ta
là một thực thể luôn thay đổi.
Không có điều gì trên bề mặt trái đất
thực sự bất biến.
Mỗi ngọn núi đều từng mang một hình dạng khác.
Mỗi dòng sông đều từng chảy
theo một hướng khác.
Mỗi viên đá đều từng thuộc về một thế giới khác.
Và chính hàng trăm triệu năm
chuyển động không ngừng ấy đã tạo nên
vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Việt Nam.
Nhưng có lẽ
hành trình ấy vẫn chưa kết thúc.
Các mảng kiến tạo vẫn tiếp tục dịch chuyển.
Núi vẫn đang bị bào mòn.
Đồng bằng vẫn không ngừng được bồi đắp.
Trong khi đường bờ biển vẫn thay đổi
theo từng thiên ninh kỷ.
Những biến đổi ấy diễn ra quá chậm để chúng ta nhận ra
trong một đời người.
Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng đã dừng lại.
Và đó cũng dẫn đến một câu hỏi lớn hơn.
Nếu hàng trăm triệu năm
trong quá khứ đã đủ để biến đáy đại dương
thành núi, biến những mảnh lục địa
rơi rạc thành một đất nước,
thì hàng chục hay hàng trăm triệu năm
trong tương lai sẽ còn viết tiếp câu chuyện ấy
theo cách nào?
Có lẽ câu trả lời vẫn đang được chính trái đất
âm thầm viết tiếp ngay dưới chân chúng ta
từng ngày, từng năm
và từng triệu năm sau nữa.
