This document confirms the download of an audio file pursuant to the Content License as defined in the Pixabay Terms of Service available at https://pixabay.com/service/terms/
Pixabay, a Canva Germany GmbH brand Pappelallee 78/79 10437 Berlin Germany
Pixabay is a user-contributed stock content website. The above-named Licensor is responsible for this audio file. Pixabay monitors uploaded audio files only to a reasonable extent. Pixabay cannot be held responsible for the acts or omissions of its users and does not represent or warrant that any required third-party consents or licenses have been obtained.
For any queries related to this document please contact Pixabay via [email protected].
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Bài phân tích đối chiếu Cách mạng Hoa Kỳ năm 1776 với triết lý của Albert Camus để lý giải lý do nước Mỹ không trở thành một chế độ độc tài sau khởi nghĩa. Tác giả khẳng định thành công của Hoa Kỳ không chỉ nằm ở quân sự mà đến từ nền tảng đạo đức, niềm tin vào quyền tự nhiên và sự kỷ luật nội tâm, coi đó là điều kiện tiên quyết để duy trì tự do bền vững.
Là thế nào để chống lại bên công mà không tự mình trở thành một kẻ ác bức mới?
Đó là câu hỏi mòn Artbox Karmel đặt ra trong tác phẩm Con Người Nổi Loạn.
Quý vị cứ nhìn lại mà xem, lịch sử có phung số của các mạng khởi đầu bằng những lời hứa rất đẹp về tự do,
về công bằng, về giải phóng con người.
Vậy mà rất nhiều trong số đó lại kết thúc bằng nhà tù, bằng kiềm duyệt và bằng sợ hãi.
Những người từng đứng lên chống lại ác bức, cuối cùng lại tự tay dựng nên một bộ máy ác bức mới.
Vì sao lại như vậy?
Karmel nhìn ra một cái vẫy về nhân tính rất trần ruộng.
Khi người ta tin rằng mục đích của mình là điều đối đúng, là chân lý không thể sai,
thì họ bắt đầu cho phép mình làm bất cứ điều gì để đạt được nó.
Họ biệt minh cho bạo lực bằng hai chữ công lý.
Họ biệt minh cho đàn ác bằng một tương lai tươi sáng.
Họ biệt minh cho việc tương đoàn tự do của người khác bằng lời hứa về một thế giới tốt đẹp hơn.
Và chính từ cái khoảnh khắc đó, cái nội loạn bắt đầu biến thành đúng cái thứ mà người ta từng chống lại.
Điều Karl Marx mơ tới chỉ là một thế giới nơi con người có quyền bất đồng mà không bị trầm phạt.
Bởi một khi chính quyền tự cho mình cái quyền phán quyết đâu là chân lý duy nhất,
thì hai chữ tự do chỉ còn là cái tên người ta đặt cho sự phục tùng.
Ông đã chứng kiến quá nhiều lần cái điều nguy hiểm nhất của loài người,
và nó không phải là cái ác dám tự nhận mình là cái ác.
Thứ đáng sợ nhất là khi cái ác phát lên mình sanh nghĩa của công lý.
Vậy mà, quý vị biết không, giữa phong số của cách mạng đã sụp đúng vào cái bể đó,
lại còn đúng một cuộc thoát ra được.
Một cuộc cách mạng dám lật đổ nguyên cả đế quốc mạnh nhất thế giới,
nhưng không để ra lấy một ông bạo chúa nào, không mái chém, không khủng bố, không thanh chân.
Đó chính là cuộc cách mạng thai sinh ra hợp chủ của Quốc Hoa Kỳ mùa hè 5.776.
Và vào ngày 4 tháng 7 đã tròn 250 năm sau,
Linh Oanh sẽ cùng quý vị ngồi lại đi tìm câu trả lời cho câu hỏi lớn nhất,
vì sao chỉ riêng người Mỹ thoát ra được, không rơi vào lời nguyện của Cambridge.
Chúng ta hãy bắt đầu từ một chữ mà ngày nay nghe rất nhẹ, chữ độc lập.
Bây giờ quý vị nói hai chữ độc lập, nó nhẹ như một câu khẩu việu im trên áo thôn,
nhưng vào mùa hè 5.776 ở Philadelphia, hai chữ ấy nặng bằng cả một cái máy chém.
Bởi trên danh nghĩa pháp lý,
những người dân thuộc địa Bắc Mỹ khi đó vẫn là thần dân của vô nước Anh, tức vua George VIII.
Cầm súng chống lại nhà vua, tuyên bố tách khỏi vương quyền.
Đó không đơn thuần là một quan điểm chính trị, đó là tội phản quốc.
Và quý vị có biết luật nước Anh trừng phạt kẻ phản quốc như thế nào không ạ?
Liệu anh xin kể quý vị nghe một câu chuyện có thật.
Ai từng xem bộ phim Tráng tim dũng cảm của Mel Gibson,
hẳn còn nhớ hình ảnh người anh hùng Scotland William Wallace.
Năm 1305, sau khi bị bắt vì dám lãnh đạo dân Scotland dành độc lập khỏi nước Anh,
Wallace phải chịu một hình phạt gồm nhiều lớp, mỗi lớp là một tầng địa ngục.
Đầu tiên người ta treo cổ ông, nhưng cố tình không cho ông chết,
rồi kéo lên ông trên đường cũng không cho chết, rồi mổ bụng ông khi ông vẫn còn sống.
Cuối cùng mới chặt đầu rồi sẻ thi thể ra làng bốn phần,
đen bêu ở bốn thành thị lớn của Scotland.
Như một lời cảnh cáo lạnh lùng gửi tới bất cứ ai còn dám mưa tới hai chữ độc lập.
Đây không phải chuyện cổ tích rùng rợn, đây là luật.
Và cái luật ấy, quý vị có tin được không, mãi tới năm 1870,
nước Anh mới chính thức bãi bỏ, nghĩa là vào năm 1776,
khi các nhà lập quốc Hoa Kỳ đặt bốt ký tên mình,
cái hình phạt Phanthagia vẫn còn viên hiệu lực.
Vậy mà có 56 con người đặt ký.
Hãy hình dung, 56 con người phần lớn là những nhân vật có tên tuổi,
có gia sản, có gia đình, có tất cả để mất.
Họ thường biết rằng, nếu cuộc cách mạng thất bại, họ sẽ bị giải về London
và chết đúng theo cái cách kinh hoàng của Wallach.
Thế mà họ vẫn ký.
Đây chính là điểm làm em muốn quý vị dừng lại một chút,
bởi trước khi tìm hiểu họ đã viết gì trong thương quân độc lập,
chúng ta cần hiểu họ đã đánh cực cái gì để viết ra nó.
Họ đánh cực chính cái cổ của mình.
Bây giờ quay lại với căn phòng lịch sử ấy.
Ngày 11 tháng 6 năm 1776,
Quốc hội lục địa lập ra một bữa văn 5 người để soạn thảo bản tuyên bố.
Trong đó, Benjamin Franklin, bậc lão thành đứng ca vọng trọng khi ấy đã ngoài 70 tuổi,
có Sean Adams, một luật sư sát bén, cấm cỏi hùng biện,
và có một chàng trai mới 33 tuổi đến từ Virginia, tên là Thomas Jefferson.
Điều thú vị, quý vị biết không,
Vì sao?
Nhiều năm sau chính Sean Adams kể lại rằng,
ông đã đưa cho Jefferson 3 lý do.
Thứ nhất, Jefferson là người Virginia,
mà Virginia khi đó là ngọn cờ đầu về tư tưởng độc lập.
Nên việc này phải đến người Virginia dẫn dắt.
Thứ hai, Adams tự nhận mình là kẻ khó ưa,
hay gây tranh cãi, không được lòng người.
Còn Jefferson thì ai gặp cũng mến.
Và thứ ba, Adams thẳng thắn thừa nhận,
văn của Jefferson hay hơn văn của ông cấp 10 lần.
Thế mà một sứ mệnh lịch sử được đặt lên vai một người 33 tuổi.
Trong khoảng 17 ngày, Jefferson đóng cửa căn phòng trọ ở Philadelphia,
dồn hoạt toàn bộ tâm lập để viết.
Và ở đây có một điều,
Lemon muốn nói cho rõ,
để quý vị được hiểu đọc rằng,
thiên tài là chuyện tự nhiên rơi từ trên trời xuống.
Jefferson không sáng tạo ra tự do từ hư không,
đằng sau ngoài quốc của ông là cả một dòng tư tưởng chảy xài nhiều ký kỷ,
là chức lý về quyền tự nhiên của John Locke,
quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu,
quyền được sống giữa một chính quyền do chính mình đồng phận,
và cả quyền lật đổ bạo quyền.
Là văn minh Hy Lạp và Lamã cổ đại,
là cả thời kỳ khai sáng của châu Âu.
Chính Jefferson về sau cũng khiêm tố nói rằng,
ông không hề có ý định viết ra một điều gì mới lạ,
không khoe tài chiết học,
không dựng lên một hệ thống tư tưởng riêng.
Ông chỉ muốn nói lên tiếng nói chung của người Vĩ,
một sự biểu đạt tâm trí của cả một dân tộc.
Và linh hồn của bản tuyên ngôn ấy nằm gọn trong một câu,
rằng mọi con người đều được tạo dựng bình đẳng.
Quý vị, hãy nghe thật kỹ câu này,
không phải bình đẳng theo nghĩa sinh học,
không phải ai cũng giống ai về tài năng, tài sản hay số phận,
mà là được tạo dựng bình đẳng,
bình đẳng về phẩm giá trước đớn sáng thế.
Và đây vẫn là chỗ chấn động nhất.
Jefferson viết rằng,
những quyền căng bẳng của con người,
quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc
không phải là món quà nhà vua Ban cho,
không phải ân huệ của quốc hội,
cũng không phải sản phẩm của một sắc lệnh hành chính nào cả.
Chúng đến từ đứng tạo phá.
Và bởi vì chúng đến từ một nơi cao hơn mọi quyền lực trần gian,
nên không một quyền lực trần gian nào có thể thức đoán chúng.
Quý vị có thấy sự liều lĩnh trong câu chữ đó không?
Nó lật ngược cả một chân tự đã tồn tại hàng ngàn năm.
Cái chân tự mà trong đó nhà vua Ban ơn,
còn thân dân cúi đầu tạ ơn.
Jefferson nói không, quyền của con người có trước nhà vua,
và nhà vua sinh ra để phục vụ cái quyền ấy chứ không phải ngược lại.
Nhưng con đường từ bản thảo tới bản chính thức không hề êm ả.
Khi văn kiện được đưa ra trước quốc hội lục địa,
gần một phần tư nội dung của Jefferson bị cắt bỏ.
Trong đó cũng cả một đoạn ông lên án gây khắc việc buôn bán nô lệ.
Lý do cắt bỏ vừa thực tế vừa cay đắng,
nếu sự đoạn đó lại một vài thủ địa nền nang có thể rời khỏi liên minh,
và cả sự nghiệp độc lập có thể tàn vỡ ngay từ trong chiếc nước.
Người ta kể rằng Jefferson ngồi đó lặng lẽ nhìn từng câu chữ tâm thuyết của mình bị gạch đi.
Sắc mặt tái đi mà không nói một lời.
Ông Franklin thấy vậy không đành lòng đem ghé lại gần,
kể cho người bạn trẻ câu chuyện vui để ăn uổi.
Một chi tiết rất nhỏ thôi nhưng nó cho chúng ta thấy,
những con người vĩ đại ấy cũng biết đau biết tiếc,
và biết nhân dựa vì đại cục.
Vào ngày 2 tháng 7 năm 1776,
Quốc hội lục địa thông qua nghị quyết độc lập,
John Adams, xúc động tới mức viết thư cho vợ là bà Abigail,
tuyên đoán rằng ngày này sẽ trở thành ngày lễ lớn của người Mỹ đời đời về sau
với những cuộc diễu hành, tiếng chuông, lửa chạy và phá hoa vang khắp lục địa.
Ông đã đúng về tinh thần, chỉ sai đúng hai ngày về mạng lịch sử.
Bởi phải tới chiều ngày 4 tháng 7,
sau khi tiếp tục chỉnh sửa từng câu từng chữ,
bản văn cuối cùng mới được thông qua,
và từ đó ngày 4 tháng 7 trở thành ngày độc lập của Hoa Kỳ.
Có một chi tiết mà Levin rất thích,
người ghi tên nổi vấn nhất trên bảng đơn nguồn độc lập là John Hancock,
trưởng tịch quốc hội lục địa.
Ông đặt bức ký một chiếc ký thật to, thật đậm,
chiếm gần chậm một khoảng giấy.
Tương truyền ghi xong, ông còn nói đùa với bạn bè rằng
ông cố ý kiến lớn như vậy để cho Vosges bên Anh
không cần đeo kính cũng đạt được tên mình.
Câu nói này đến nay vẫn chỉ là một xem thại,
chưa ai kiểm chứng được,
nhưng nó nói lên đúng cái khí phách của những con người ấy.
Họ biết rõ, nếu thất bại, họ sẽ mất đầu.
Vậy mà họ vẫn ghi thật to
như để nói thẳng vào mặt đế quốc mạnh nhất thế giới rằng
chúng tôi ở đây, chúng tôi không xấu mặt và chúng tôi không hề sợ.
Bản tuyên côn ấy có ba phần,
phần đầu là nơi công bố đường hoàng trước cả thế giới
về lý do tách khỏi nước Anh,
không âm mưu trong bóng tối, không phá phách vô cứ,
mà trình bày lẽ phải của mình trước toàn nhân loại.
Phần thứ hai là linh hồn,
là tuyên ngôn về quyền con người tính từ đấm sáng thế
mà Linh Anh vừa đề cập,
cùng với một ý tưởng tá bạo không kém
rằng chính quyền sinh ra là để bảo vệ những quyền ấy,
quyền lực của nó đến từ sự đồng thuận của người dân.
Và nếu một ngày nào đó nó biến thành bạo quyền
thì người dân có quyền thay đổi nó.
Và phần thứ ba liệt kê 27 tội trạng của vô nước Anh
để giải thích vì sao 13 tuyệt địa không thể tiếp tục chịu đựng,
đồng thời tuyên bố hợp nhất lại thành hợp Trung Quốc-Bắc Kỳ,
một quốc gia liên bang, tự do và độc lập.
Nhưng khoan, đừng tưởng cực kỳ xăng là có ngày độc lập.
Tuyên ngôn độc lập không phải cây đụa thần.
Sau tờ giấy ấy là những năm dài đẳng đẳng của chiến tranh,
cuộc thất bại, đói giết, đảo ngũ, khổ hoảng và tuyệt vọng.
Phải tới mùa thu 5781,
quân Anh mới bị tạo quân của tổng tư lệnh George Washington
đánh bại tại Wagtown, bang Virginia,
nơi viên tướng Anh Cornwallis buông súng đầu hàng vào tháng 10 năm đó.
Và phải tới năm 1783, khi hiệp ước Paris được ký kết,
nền độc lập của 13 tiểu bang mới thực sự được thế giới công nhận.
Và bây giờ chúng ta đến với câu hỏi lớn nhất của cả bài.
Câu hỏi mà Liên bang tin nhiều người xem sẽ bất ngờ với câu trả lời.
Vì sao một đám dân quân xanh dưới ít hơn về quân số,
kém hơn về vấn nguyện, thân thiệt về vũ khí
lại có thể đánh bại đội quân viễn trinh nhà nghề mạnh nhất hành tinh?
Và sâu hơn nữa, vì sao cuộc cách mạng này lại không rơi vào lời nguyện của Cambridge,
không tự ăn thịt chín những đứa con của mình như cách mạng Pháp và cách mạng Na sau này?
Người hiện đại chúng ta thường thích những câu trả lời gọn gàng.
Nào là nhờ nước Anh ở quá xa, nào là nhờ nước Pháp giúp giúp?
Những điều đó đều có phần đúng,
nhưng có một yếu tố mà thời đại quốc nay hay cố tình làm tránh,
thậm chí thấy ngượng khi nhắc tới, đó là đạo đức và đức tin.
Câu chuyện thứ nhất xảy ra vào năm 1770,
sáu năm trước này độc lập, gọi là vụ thảng sát Boston.
Hôm đó, trước tòa nhà hải quan ở Boston,
đám đông dân chúng phẫn nộ dồn một đoàn lính Anh vào chân tường,
nén đá nén tiết chở ruộng.
Trong cơn hỗn loạn, không ai ra lệnh,
nhưng những người lính vì bằng sợ đã nổ súng giết chết 5 người dân Boston.
Cả thành phố sôi sục căm hờn, đòi báo thủ.
Và quý vị biết chuyện gì đã xảy ra không ạ?
Một trong những nhà lập quốc,
người sau này trở thành Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ,
John Adams, đã đứng sang nhận bào chữa
cho chính những người lính Anh đó trước tòa.
Ông lập luận rằng,
trong tình thế bị đám đông phê ép và tấn công tới tất,
những người lính đã nổ súng vì bằng lạc và vì bản tăng tự vệ.
Kết quả phần lớn được tuyên vô tội,
chỉ một số rất ít bị kết tội vô sát.
Quý vị hãy suy nghĩ,
chính những người đang muốn làm cách mạng để chống lại nước Anh,
lại ra toàn đứng ra bảo vệ công lý cho những người lính của nước Anh.
Đó không phải là sự yếu đuối.
Đó là một dân tộc tin rằng,
công lý phải đứng cao hơn cả lọc thủ hận của phe mình.
Và một dân tộc như thế,
khi làm cách mạng sẽ không dễ biến cách mạng thành một cuộc tràn thủ đẫm máu.
Câu chuyện thứ hai còn sâu hơn nữa.
Trước khi cầm súng,
người Mỹ đã tự đặt cho mình một câu hỏi
mà gần như không một xã hội hiện tại nào ngày ngay dám hỏi.
Họ nói với nhau,
chúng ta muốn đuổi vương nước Anh đi.
Chúng ta muốn tự can trị lấy mình.
Nhưng khoảng đã,
tự trị nghĩa là không còn ông vô nào can quản nữa.
Vậy thì lấy ai giữ cho xã hội khỏi loạn?
Chẳng phải là chính mỗi người công dân phải tự giữ lấy mình hay sao?
Và nếu vậy thì phải hỏi tiếp,
liệu chúng ta có đủ tốt để tự can trị hay không?
Bởi một dân tộc không có đạo đức thì không thể tự trị.
Tự do mà thiếu kỷ luật, nội tâm thì chỉ dẫn tới ngỗ loạn.
Người Mỹ đã dành nhiều năm để tự kiểm điệp chính mình như thế.
Và cuối cùng họ đi tới thiết luận rằng
chúng ta là một dân tộc trang trì,
tiết kiệm,
có tin ngưỡng,
có đạo đức
cho nên chúng ta xứng đáng và đủ sức tự quản lý mình.
Quý vị thấy sự khác biệt ở đây không?
Ngày nay,
người ta thường hỏi chúng ta đã đủ quyền lợi chưa?
Đủ phúc lợi chưa?
Đủ tiếng nói chưa?
Đủ trải diện chưa?
Còn thế hệ lập quốc thì hỏi một câu hoàn toàn khác.
Chúng ta có đủ đạo đức để tự ca trị chính mình hay không?
Đây chính là điển thanh chốt.
Một dân tộc chỉ biết đòi quyền mà quên mất trách nhiệm
sớm muộn cũng sẽ tự tay sang nục tự do của mình
cho một kẻ mẹp nào đó
để đuổi lấy một chút yên ổn.
Câu chuyện thứ ba là về con người vĩ đại nhất của cuộc cách mạng ấy,
Tổng Tư lệ George Washington.
Vào mùa đông 5777 bước sang 5778,
sau khi đến mắt Philadelphia,
đạo quân của ông còn cụ tại Valley Fort
trong cảnh khốn cùng,
thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả giày,
lính chết vì đói và vị xét còn nhiều quân chết vì đạn.
Vậy mà giữa cảnh ấy,
Washington vẫn khắc khe giữ lấy kỷ cương
và đạo đức trong doanh trại.
Có một sai thoại kể rằng,
ngay cả việc ai được vào trại chăm sóc thương minh,
ông cũng đặt ra điều kiện chặt chẽ,
cốt để giữ cho quân đội không xa và phòng túng.
Sai thoại ấy đúng sai tới đâu ta khó kiểm chứng,
nhưng tinh thần của Washington thì rất rõ ràng.
Chính ông từng nói, đại ý rằng,
vũ khí của chúng ta thua họ,
huấn luyện thua họ,
quân ngu cũng thua họ,
mọi thứ đều thua,
vậy nếu đến cả đạo đức của chúng ta cũng thua nó,
thì thượng đế sẽ không còn che chở cho chúng ta nữa.
Và đây mới là điều kỳ lạ.
Người ta kể rằng,
trong suốt cuộc chiến,
đạo quân lục địa đã không biết bao lần rơi vào tuyệt cành,
từng chừng bị xóa sổ,
nhưng lần nào cũng có một bước ngoại lạ lùng
kéo họ ngược trở lại từ bên bờ vực.
Bản thân Washington là hiện thân rõ nhất cho điều đó.
Từ thời trẻ,
trong cuộc chiến giữa Anh và Pháp
ở trận Monongahe,
năm 1755,
người ta kể rằng,
áo khóc của ông thủng tới 4 nỗ đạn,
mấy con ngựa ông cưỡi bị bắn gột dưới thân,
vậy mà bản thân ông không hề hằng gì.
Rồi trong chính cuộc chiến sành độc lập
ở trận Princeton,
đầu năm 1777,
khi quân Mỹ đang bị đền nuôi,
Washington một mình phiên ngựa lên tận tuyến đầu,
để chỉnh đốn lại hàng ngũ đang tan vỡ,
ông tiến tới chỉ còn cách quân Anh
chừng 30 bước chân.
Quân Anh đồng loạt nổ súng,
khói súng trùng,
kiếm lấy người ông.
Viện dịch quan phụ tá
đứng gần đó tin chắc tổng tư lệnh đại trung đạn,
liền kéo ngũ trên mặt không dám nhìn.
Nhưng khi làn khói lan đi,
Washington vẫn ngồi thẳng trên lưng gựa,
bình thẳng, không muốn viết thương.
Chính vì những khoảnh khắc như vậy,
mà nhiều năm sau,
trong bài diễn văn nhận chức nhiệm
Washington đã trịnh trọng
nhấn tới một bàn tay vô hình
đang sợ sát vận mệnh nước Mỹ,
và ông nói rằng không một dân tộc nào
phải biết ơn bàn tay vô hình ấy
nhiều hơn người dân Mỹ.
Đến đây, có lẽ nhiều quý vị
vẫn thấy hơi chiều tượng.
Đạo đức thì liên quan gì
tới chuyện thắng thua một cuộc chiến?
Liên quan gì tới chuyện một cuộc cách mạng
có biến thành bão quyền hay không?
Liệu anh xin đưa ra một ví dụ
thật đời thường để quý vị thấy ngay.
Đó chính xác là vi kịch
của biết bao cuộc cách mạng trong lịch sử.
Đuổi được bão chúa đi mới chỉ là phần dễ.
Sống với tự do mà không
tự biến mình thành một đám đông hỗn loạn.
Để rồi phải xước về một bão chúa mới,
đó mới là phần khó nhất.
Và người Mỹ đã làm được cái phần khó ấy.
Không phải nhờ họ may mắn,
mà nhờ trước khi đuổi ông chủ nhà cũ,
họ đã tự gian cho mình
cái đạo đức và kỳ luật để có thể tự quả.
Bây giờ chúng ta hãy làm
một phép so sánh mà chính lịch sử
đã đảy sẵn ra cho chúng ta.
Cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp
xảy ra gần như cùng một thời,
chỉ cách nhau hơn một thập niên.
Cả hai đều chống lại vương quyền,
đều nhân danh tự do,
nhưng kết cục thì khác nhau một trời một vực.
Cách mạng Mỹ đặt tự do vào trong một cái khung,
cái khung của đạo đức,
của đức tin, của trách nhiệm
và của một chính quyền bị giới hạn tuyệt lực.
Nhờ cái khung đó mà nó để lại
một nền cộng hòa bền vững cho tới tận hôm nay.
Còn cách mạng Pháp thì chặt đứt luôn
cái khung ấy, tôn thờ lý trí một cách thực đoan,
đòi bình đẳng bằng bạo lực
để rồi trợt dài vào khủng bố và chén giết.
Cả kinh tỉnh Paris tanh nồng mồi máu,
máy chén làm việc không ngơi nghỉ.
Và cuối cùng từ đóng đổ nát ấy,
một hoàng đế mới tên Napoleon
bước ra cai trị nước Pháp
và gieo sắp chiến tranh khắp châu Âu.
Cách mạng Pháp về cơ bản
đã ứng nghiệm đúng nơi nguyên của Cambridge,
kẻ chống bạo quyền đã đẻ
ra một bạo quyền mới.
Còn vì sao cách mạng Pháp
với biến bao lời câu đẹp đẽ về tự do,
bình đẳng, bác ái,
lại trợt dài vào biển báu như thế?
Thì đó là một câu chuyện dài
mà Linh Anh xin hẹn kể với quý vị
trong một video riêng.
Vậy, bí mật của người Mỹ nằm ở đâu?
Vào năm 1831, một nhà tư tưởng người Pháp
tên là Alexis de Tocqueville
sang Mỹ 9 tháng trời
rồi trở về viết nền tác phẩm
Slingsan, nền dân trị Hoa Kỳ.
Lâu nay người ta vẫn tuyển tụng
một câu được cho là của ông
rằng đất Mỹ vĩ đại bởi vì đất Mỹ thiện lương
và nếu một ngày đất Mỹ
không còn thiện lương nữa thì đất Mỹ
cũng sẽ không còn vĩ đại.
Các nhà nghiên cứu ngày nay đã tra tìm rất kỹ
và không hề thấy câu nói y hệt như vậy
trong bất cứ trang sách nào của Tocqueville.
Cho nên, ta chỉ nên
xem đó là một câu tương truyền
chứ không phải nguyên văn của ông.
Nhưng điều thú vị là cái tinh thần của câu ấy
thì lại đúng là điều Tocqueville
đã thật sự viết ra.
Ông đã đi tìm nguồn gốc sức mạnh
của nước Mỹ và ông nhận ra
nó không nằm ở những càng biển sầm bất,
không nằm ở những cánh đồng phiêu nhiêu,
cũng không nằm ở những mỏ bán sản dầu gó.
Ông cho rằng cái giữ
cho nền tự do của nước Mỹ đứng vững
chính là phong hóa, là đạo đức
và tín ngưỡng của người dân.
Nói cách khác, thứ làm nên nước Mỹ
không phải là tài nguyên mà là tâm hồn
của những con người sống trên đất ấy.
Và điều này ăn khóc một cách lạ lùng
với chính câu nói của Bastiat
mà quý vị có thể đã nghe ở đâu đó
rằng quyền sống, quyền tự do
và quyền tư hữu không hề tồn tại
bởi vì con người đặt ra luật pháp
mà ngược lại chính vì những quyền ấy
đã có sẵn từ trước
nên con người mới phải đặt ra luật pháp để bảo vệ chúng.
Đặt cạnh nhau,
quý vị sẽ thấy các nhà lập quốc Hoa Kỳ,
ông Tocqueville và ông Bastiat
đều chạm tới cùng một chân lý
rằng tự do là một món quà thiên liêng
có trước cả nhà nước
và một khi con người quên mất điều đó
họ quay sang thần thành hóa nhà nước
biến tự do thành vông thạc
biến lòng nhân ái thành sự lệ thuộc
thì nền cậu Hoa dù hung mạnh tới đâu
cũng sẽ mục ruộng dần từ bên trong.
Và đó chính là lý do
vì sao câu hỏi về độc lập
tưởng như đã cũ kỹ suốt 250 năm
thật ra lại nóng hổi hơn bao giờ hết
trong thời đại của chúng ta.
Bởi độc lập của nước Mỹ hôm nay không còn là chuyện
phát khỏi một ông vua bên kia đại dương.
Độc lập hôm nay là quyền của mỗi con người
được sống cuộc đời của mình
được làm việc, sáng tạo, kinh doanh
nuôi dạy con cái, giữ lễ thức tin
bảo vệ tài sản
nói lên chính kiến và theo đuổi sức mơ
của riêng mình miễn là không xâm phạm
tới quyền của người khác.
Nhưng độc lập cũng đồng nghĩa với trách nhiệm
tự do không phải là muốn làm gì thì làm
không phải là phá bỏ mọi giới hạn
cũng không phải là chút cánh nặng
cuộc đời mình lên vai người khác
rồi ngồi chờ một nhà nước bảo mẫu
lo cho mình từ đầu đến cuối.
Trong mắt các vị tra lập quốc
tự do của con người không phải
do con người tự ban cho mình
mà là món quà của đứng sáng thế
và bởi vậy nó luôn đi kèm với cuộn phận
phải sống cho xứng đáng với món quà ấy.
Bây giờ xin phép Liên bang quay trở lại
với câu hỏi mới đầu
câu hỏi về đời nguyền của Cambridge
vì sao chỉ riêng người Vĩ thoát được đời nguyền
kẻ chống bạo quyền lại không
trở thành một bạo quyền mới.
Bây giờ có lẽ Vĩ đã có câu trả lời
không phải vì họ thông minh hơn
người Pháp hay người Nga
không phải vì họ may mắn hơn
mà vì ngay từ đầu
họ đã không hề tôn thờ quyền lực
không hề tôn thờ nhà nước
không hề tin rằng có một đám người nào đó
nắm sữ chân lý duy nhất
họ chỉ tin vào một điều giản dị và vĩ đại
rằng tự do là món quà của trời
và việc của con người
chỉ là canh giữ lấy nó cho tử tế
chơi nhỏ quyền lực ra
trói nước lại để không một ông vua
một quốc hội hay một đám đâu nào
có thể tự phong mình làm chủ nhân của lãi phản
đó chính là cỗ máy
mà 56 con người điều mạng kia
đã chế tạo ra ở Philadelphia
và điều kỳ diệu nhất
là cỗ máy ấy tới hôm nay
chọn 250 năm sau
vẫn còn đang chạy
lời ngựa ấy chưa bao giờ tự nó hoàn thành
nó cần mỗi thế hệ giềm giữ
sửa chữa, làm cho sâu sắc hơn
rồi trao lại cho đời sau
và có lẽ đó cũng là câu hỏi mà mỗi chúng ta
dù đang đứng ở bất cứ đâu
trên thế gian này
đều nên một lần tự hỏi với mình
chúng ta có đủ đảm đức
đủ trách nhiệm và đủ căn đảm
để xứng đáng với quán quà tự do
mà mình đang có trong tay hay không