Vì Sao Có Người Sinh Ra Đã Xinh Đẹp Có Người Lại Kém Sắc Câu Chuyện Nhân Quả Đáng Suy Ngẫm

Sống Thiện-Tâm An
84 Người theo dõi
187 Lượt xem video·10 thg 7, 2026
Điều gì quyết định dung mạo của một con người? Mời bạn cùng lắng nghe một câu chuyện nhân quả đầy ý nghĩa về vẻ đẹp và sự tu dưỡng của mỗi người.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis video presents a series of moral tales centered on the laws of karma, the nature of true beauty, and the inevitability of fate. Through stories of spiritual awakening, mystical encounters, and historical tragedies, it emphasizes that internal virtue and compassion are the only lasting values, while cruelty and arrogance inevitably lead to suffering.
Comments are disabled for this video.
Vì sao con người ngay từ khi sinh ra đã sở hữu dung mạo hơn người?
Rốt cuộc, điều gì quyết định vẻ đẹp hay xấu của một con người?
Xin mời bạn cùng lắng nghe câu chuyện dưới đây.
Vào những năm Hồng Vũ Triều Minh, có một chàng thư sinh tên Khương Văn Hần.
Đến tuổi thành gia lập thất, theo lời cha mẹ, chàng kết duyên với cô gái ở làng bên tên Lưu Nguyệt Như.
Nguyệt Như có dung mạo bình thường, nước da hơi ngầm, mỗi khi mỉm cười lại để lộ hàm răng không được đều.
So với những giai nhân tuyệt sắc trong các bức họa mà Khương Văn Hần từng ngắm nhìn,
nàng quả thật khác xa một trời một vực.
Chính vì vậy, trong lòng chàng luôn canh cánh một nỗi không vừa ý.
Năm ấy, Khương Văn Hần lên kinh cứng thí.
Đứng trước bức tường thành mờ ảo phía xa,
điều chàng nghĩ đến không phải là đề thi hay con đường công danh sắp mở ra,
mà là một ý định đã nung nấu từ lâu.
Chàng tự nhủ, nếu lần này bảng vàng có tên mình,
việc đầu tiên sẽ là bỏ người vợ đang chờ ở quê.
Trong suy nghĩ của chàng, sau này khi làm quan,
đứng bên một người vợ có dung mạo như thế thật khó khiến người khác coi trọng.
Đến kinh thành, sau khi hoàn thành kỳ thi vẫn còn vài ngày nữa mới công bố bảng vàng.
Chủ quán trọ nói với chàng rằng, phía tây thành có một ngôi chùa tên Bạch Vân,
hương khói quanh năm nghi ngút, rất nhiều sĩ tử đều tìm đến lễ Phật, cầu mây và vãn cảnh.
Nghe vậy, Khương Văn Hân liền nảy sinh hứng thú.
Sáng hôm sau, chàng thay bộ y phục trình tề rồi tìm đến chùa.
Quả nhiên, ngôi chùa vô cùng uy nghi và cổ kính.
Những cây cổ thụ vươn cao che kín bầu trời,
khói hương bảng lạng khiến khung cảnh càng thêm thanh tịnh.
Dạo một vòng quanh chùa, cuối cùng Khương Văn Hân dừng chân trước một bức bích hỏa.
Tiên nữ trong tranh đẹp đến mức khó có thể diễn tả bằng lời.
Dù là những bức hỏa mỹ nhân được tô vẽ lộng lẫy nhất, cũng không thể sánh bằng.
Chàng đứng lặng hồi lâu, ánh mắt như bị cuốn chặt vào từng đường nét trên bức tranh.
Đúng lúc ấy, phía sau vang lên một giọng nói trầm tĩnh.
Thí chủ thật có nhạ hứng.
Khương Văn Hân giật mình quay lại.
Trước mặt chàng là một vị lão hòa thượng.
Bần tăng là Huệ Dân, chủ trì chùa Bạch Vân.
Xin mạo mội làm phiền thí chủ.
Hai người bắt đầu trò chuyện.
Lão Phương Trượng nói năng ôn hòa, hài hước, khiến Khương Văn Hân dần cởi mở.
Chẳng mấy chốc, câu chuyện lại quay về bức hỏa trước mặt.
Khương Văn Hân chỉ tay vào vị tiên nữ, đôi mắt ánh lên vẻ say mề.
Thưa Phương Trượng, nếu trên đời thật sự có một người con gái đẹp như thế,
chỉ cần được gặp một lần thôi, tiểu sinh cũng mãn nguyện.
Lão Phương Trượng mìm cười hiền hậu.
Mời thí chủ vào thiền phòng.
Chúng ta vừa uống trà, vừa trò chuyện.
Trong thiền phòng, sau vài chén trà, Phương Trượng chậm giãi hỏi.
Theo thí chủ, từ xưa đến nay, người phụ nữ nào mới xứng đáng được gọi là đẹp nhất?
Khương Văn Hân không chút do dự đáp.
Đương nhiên là Dương Quỹ Phi.
Chỉ một nụ cười ngoảnh đầu đã khiến trăm vẻ đẹp đều phải lưu mờ.
Đến son phấn của sáu cung cũng mất đi sắc thắm.
Người có thể khiến bậc đế vương si mê đến vậy.
Dung mạo hẳn phải đẹp đến mức không gì sánh nổi.
Lão Phương Trượng khẽ gật đầu rồi hỏi tiếp.
Vậy thí chủ có muốn xem hiện nay nàng trông như thế nào không?
Khương Văn Hân lập tức sáng mắt.
Đương nhiên là muốn.
Tiểu sinh thật sự rất muốn tận mắt nhìn thấy.
Lão Phương Trượng mỉm cười.
Vậy xin thí chủ nhắm mắt lại.
Khương Văn Hân vừa khép mắt, bên tay liền vang lên ba tiếng mõ trầm hùng.
Một luồng gió nhẹ lướt qua.
Đến khi mở mắt ra, chàng kinh ngạc nhận thấy mình đang đứng giữa một bờ ruộng rộng lớn.
Trong thửa ruộng trước mặt, vài người đang cặm cụi cấy mã.
Lão Phương Trượng đưa tay chỉ về một người phụ nữ rồi bình thản nói.
Đó chính là kiếp chuyển sinh thứ bảy của Dương Quý Phị.
Nghe vậy, Khương Văn Hân liền nhìn theo hướng Lão Phương Trượng vừa chỉ.
Trước mắt chàng là một người phụ nữ thân hình thấp và thô.
Khuôn mặt vuông bẻ, hàng lông mày rậm rạp lộn xộn.
Đôi mắt tam giác đang trợn lên, đầy dữ tợn.
Dưới ruộng, chồng bà vì chân lún sâu trong bùn nên cấy mã chậm hơn đôi chút.
Chỉ vì vậy, người phụ nữ ấy liền trộp lấy một nắm mã ném mạnh về phía chồng.
Miệng không ngừng tuôn ra những lời chửi mắng cay nghiệt.
Giọng bà ta vang rội đến mức cách vài thửa ruộng vẫn nghe rõ mồn một.
Người chồng chỉ biết co rúng người, cuối gặm mặt chịu trận, không dám đáp lại nửa lời.
Khương Văn Hân nhìn cảnh tượng ấy mà không khỏi nhíu chặt đôi mày.
Lão Phương Trượng chậm dãi nói,
Đây chính là kiếp truyền sinh thứ bảy của Dương Quý Phi, hiện nay là người họ lưu ở thôn Dương Thụ, làng Lưu Gia.
Khương Văn Hân kinh ngạc đến sững sở.
Thưa Phương Trượng, chẳng lẽ người đang đùa với học trò sao?
Lão Phương Trượng chỉ mỉm cười, không hề tranh luận.
Vậy, hãy theo Lão Nạp đến một nơi khác.
Vừa dứt lời, ông Khẽ kéo tay áo Khương Văn Hân.
Ngay lập tức, trước mắt chàng tối sầm.
Đến khi ánh sáng hiện ra lần nữa, chàng đã đứng trong một đại điện uy nghiêm.
Trên chính điện là một vị quan mặc áo bào đỏ, đang ngồi sau chiếc bàn chất đầy sổ sách.
Đó chính là phán quan.
Lão Phương Trượng lên tiếng, vị thí chủ này muốn tra cứu hai người.
Phán quan Khẽ gật đầu, rút ra một quyền sổ rồi chậm dãi lật từng trang.
Khương Văn Hân ghé mắt nhìn.
Trên đó ghi rõ, Dương Quý Phi, tên thật Dương Ngọc Hoản.
Vì dung mạo tuyệt sắc mà được quân vương xủng ái, cuối cùng dẫn đến thiên hạ đại loạn.
Sau khi qua đời, trải qua bảy kiếp chuyển sinh, hiện là người họ lưu ở thôn Dương Thụ, làng Lưu Già.
Tính tình nóng nảy, dung mạo xấu xí.
Khương Văn Hân không khỏi sửng sốt.
Chuyện này, rốt cuộc là vì sao?
Phán quan Bình Thản đáp.
Sau khi Dương Quý Phi qua đời, hoáng khí trong lòng vẫn mãi không tan.
Hết kiếp này đến kiếp khác, bà luôn cho rằng mình là người bị oan,
chưa từng chịu nhìn lại lỗi lầm của bản thân, càng không muốn tích đức hành thiện.
Thật ra, bà ấy đã có vô số cơ hội để thay đổi chính mình.
Nhưng mỗi một lần, bà đều tự lựa chọn con đường hẹp nhất.
Nói xong, phán quan lại mở một quyển sổ khác.
Hãy xem thêm một người.
Hoàng hậu Hồ Thị của nước Nam Vũ.
Ông Trậm giải đọc.
Hồ Thị, mười đời trước, vốn là một con lợn rừng sống trong núi.
Có một lần bị lạc đường, được một con lợn rừng non dẫn lối đưa về.
Từ đó kết thiện duyên, truyền sinh làm người.
Suốt mười đời luôn giữ lòng lương thiện, chăm làm việc thiện, tích đức giúp người.
Đến kiếp này, trở thành hoàng hậu nước Nam Vũ, đoan trang hiền thục, đức hành.
Ngay sau đó, trước mắt Khương Văn Hân hiện lên hình ảnh của Hồ Thị ở kiếp hiện tại.
Đó là một người phụ nữ, có rung nhan tựa hoa đảo, đôi mắt trong veo như mặt nước mùa thu.
Mỗi ánh nhìn, mỗi cử chỉ, mỗi bước chân đều toát lên vẻ dịu dàng, đoan trang và thanh nhá.
Khương Văn Hân lặng người.
Trang chưa từng nghĩ rằng một người ở tiền kiếp chỉ là một con lợn rừng.
Vậy mà sau nhiều đời tu dưỡng, lại có thể sở hữu rung mạo và khí chất đẹp đến như thế.
Lão Phương Trượng nhìn Khương Văn Hân rồi chậm giải nói.
Hôm nay đẹp, chưa chắc sau này vẫn đẹp.
Hôm nay chưa đẹp, cũng không có nghĩa cả đời sẽ mãi như vậy.
Rung mạo của con người, ba mươi năm đầu là do cha mẹ ban trò.
Ba mươi năm sau lại do chính bản thân mình tu dưỡng mà thành.
Trong lòng nuôi dưỡng tâm niệm như thế nào, gương mặt rồi cũng sẽ dần mang dáng vẻ của tâm ấy.
Tiếng mõ lại vang lên ba hồi chậm lắng.
Khương Văn Hân chậm chậm mở mắt.
Trang mới nhận ra mình vẫn đang ngồi trong thiền phòng.
Chén trà trước mặt vẫn còn tỏa hơi ấm.
Như thế tất cả những gì vừa trải qua chỉ là một giấc mộng.
Trang lặng im rất lâu.
Rồi bất chợt đứng dậy cung kính chắp tay.
Đa tạ Đại sư, học trò đã hiểu rồi.
Lão phương trượng chỉ mìm cười hiền hòa.
Lão nạp đâu có làm gì, chỉ là để thí chủ ngủ một giấc mà thôi.
Ba ngày sau, bàng vàng được công bố.
Tên Khương Văn Hân không có trên bảng.
Ngày lên kinh, Trang mang theo bao khát vọng và sự tự tin.
Ngày trở về, chỉ còn lại gương mặt đầy vẻ mệt mỏi và thất vọng.
Suốt quãng đường về quê, lòng Trang nặng chĩu.
Ba năm khổ độc dường như tan thành mây khói.
Điều khiến Trang băn khoăn hơn cả là không biết phải đối diện với người vợ ở nhà như thế nào.
Ngày trở về, Lưu Nguyệt Như đang đứng trong sân cho gà ăn.
Vừa nhìn thấy chồng bước vào cổng, nàng khẽ sữa người.
Rồi không nói một lời, nàng vội đặt chiếc rổ trong tay xuống.
Bước đến nhẹ nhàng, nhận lấy bọc hành lý trên vai chồng.
Nàng không hỏi Trang thi đỗ hay trượt.
Cũng không hỏi vì sao Trang trở về với vẻ mặt buồn bá.
Tối hôm ấy, trên mâm cơm có thêm một đĩa thịt kho, món mà Khương Văn Hân yêu thích nhất.
Vừa gắp thức ăn vào bát chồng, nàng vừa dịu dàng hỏi.
Đường về có mệt lắm không?
Đi xa như vậy chắc vất vả lắm.
Trang ăn nhiều một chút nhé.
Chỉ mới ít ngày mà đã gầy đi nhiều rồi.
Khương Văn Hân lặng lẽ nhìn người vợ trước mặt.
Lần đầu tiên sau bao năm chung sống, Trang không còn nhìn nàng bằng ánh mắt soi xét dung mạo.
Trang nhẹ nhàng gắp thức ăn vào bát nàng.
Nàng cũng ăn đi.
Nàng còn vất vả hơn ta.
Lưu nguyệt như thoáng ngẩn người, rồi mỉm cười.
Hàm răng của nàng vẫn không đều như trước.
Nhưng cũng chính trong nụ cười ấy, Khương Văn Hân lần đầu nhận ra đôi mắt nàng cong cong như vầng trăng khuyết, chất chứa biết bao dịu dàng và ấm áp.
Ba năm sau, Khương Văn Hân lại lên kinh ứng thí.
Lần này, Trang đỗ đạt nhân nguyện và sau đó được bổ nhiệm là một vị quán.
Tuy chức tước không quá cao, nhưng cũng đủ để người đời kính trọng.
Có người nhiều lần khuyên Trang nạp thêm thiếp, hết giới thiệu cô gái trẻ đẹp này đến tiểu thư xinh xắn khác.
Thế nhưng, Khương Văn Hân chỉ mỉm cười rồi khéo léo từ chối tất cả.
Nghe xong câu chuyện này, có lẽ mỗi chúng ta đều không khỏi suy ngẫm.
Con người sống trên đời, điều đáng quý nhất không phải là dung mạo xinh đẹp hay sự giàu sang phú quý,
mà chính là một tấm lòng lương thiện và một nhân cách đáng kính.
Vẻ đẹp của gương mặt rồi sẽ đổi thay theo năm tháng,
nhưng vẻ đẹp của tâm hồn sẽ âm thầm hiện lên trong từng ánh mắt, nụ cười và cách mỗi người đối đái với cuộc đời.
Cổ nhân có câu, tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển.
Dung mạo của một người không chỉ do trời sinh, mà còn được bồi đắp bởi chính tâm niệm và cách họ sống mỗi ngày.
Một trái tim biết hướng thiện sẽ dần toát lên vẻ hiền hòa, phúc hậu.
Ngược lại, nếu trong lòng luôn chất chứa oán hận, ích kỳ và tham lam,
thì theo năm tháng, tất cả cũng sẽ hằn lên gương mặt.
Một người phụ nữ có tấm lòng lương thiện mới là người đẹp nhất.
Một người đàn ông biết sống có trách nhiệm mới là người giàu có nhất.
Vì vậy, đừng chỉ chăm chút cho vẻ bề ngoài, mà quên tu dưỡng tâm mình.
Khi trong lòng luôn giữ thiện niệm, biết sống tử tế và yêu thương người khác,
thì theo thời gian, dung mạo cũng sẽ dần phản chiếu chính tâm hồn ấy.
Bạn có đồng ý với điều đó không?
Xin cảm ơn quý cô bác, anh chị và các bạn đã dành thời gian lắng nghe câu chuyện.
Kính chúc quý cô bác, anh chị và các bạn luôn dồi dào sức khỏe,
tài lộc ngày càng hưng thịnh và gia đình mãi mãi bình an.
Ở Lâm Xuyên, có một chàng thư sinh tên là Đàm Sinh.
Một năm nọ, chàng khăn gói lên kinh tham dự kỳ thi hương với mong ước đổi thay vận mệnh.
Mong một ngày có thể công thành danh tỏi để báo đáp công ơn sinh thành của mẹ già.
Đường lên kinh vốn xa xôi phải băng qua biết bao núi đổi và làng mạc.
Hôm ấy, khi đi đến huyện Ngọc Sơn thì trời cũng vừa sụp tối.
Bóng chiều dần buông xuống, bốn phía trở nên vắng lặng.
Đàm Sinh đành tìm một quán trọ bình dân để nghỉ lại qua đêm, chờ sáng hôm sau tiếp tục lên đường.
Sau khi nhận phòng, chàng bắt đầu dọn chỗ nghỉ.
Đến lúc nhắc tấm chiếu lên để trải lại cho ngày ngắn, chàng bất ngờ phát hiện bên dưới có một bức tranh cuộn bị ai đó bỏ quên.
Đàm Sinh tò mò mở ra xem.
Trong tranh là hình một thiếu nữ mặc áo đỏ, dung mạo đoan trang, thanh tú,
đẹp đến mức chỉ cần nhìn một lần cũng khó lòng quên được.
Đôi mắt nàng như có thần, nụ cười dịu dàng mà sống động, tựa như chỉ cần một cái chấp mắt là có thể bước ra khỏi bức khỏa.
Bên cạnh bức tranh chỉ đề vỏn vẹn hai chữ.
Tứ nương.
Đàm Sinh liền mang bức tranh xuống đại sảnh hỏi chủ quán trọ.
Xin hỏi, bức tranh này là của ai vậy?
Chủ quán nhìn qua rồi lắc đầu đáp.
Không phải đồ của quán chúng tôi.
Dạo gần đây sĩ tử lên kinh dự thi rất đông, người đến người đi tấp nập.
Có lẽ một vị công tử trẻ tuổi nào đó.
Vô tình để quên, đến giờ vẫn chưa quay lại tìm.
Nghe vậy, Đàm Sinh lại mang bức tranh trở về phòng.
Một mình xa quê lên đường ứng thí, suốt nhiều ngày chỉ có bóng mình làm bạn.
Lòng chàng vốn đã chất chứa không ít cô quảnh.
Giờ đây, trước bức khỏa của một giai nhân tuyệt sắc, trong tim chàng không khỏi dấy lên những gợn sóng sao xuyến.
Chàng đứng lặng trước bức tranh thật lâu, ánh mắt chưa từng rời khỏi gương mặt của người thiếu nữ.
Sau một hồi ngắm nhìn, chàng khẽ mỉm cười, tự nói với chính mình.
Nếu đời này ta có thể cưới được một người con gái như trong tranh làm vợ,
thì dù công danh có ra sao, ta cũng chẳng còn điều gì phải tiếc nuối nữa.
Nói rồi, chàng cẩn thận treo bức tranh lên vách phòng, gọi một vò rượu nhỏ.
Lặng lẽ ngồi một mình dưới ánh đèn dầu leo lét.
Từng chén rượu được rót đầy rồi lại cạn.
Giữa căn phòng tĩnh mịch, chỉ còn tiếng gió khẽ khẽ lùa qua khung cửa
và tiếng chén rượu khẽ chạm vào nhau.
Men rượu dần ngấm, khiến gương mặt đàm sinh đỏ bừng, đầu óc cũng trở nên lâng lâng.
Trong cơn chén chóáng, chàng nâng chén rượu tiến lại gần bức tranh,
đưa chén đến trước đôi môi của người đẹp, rồi nửa đùa nửa thật cười nói.
Cô nương, nếu nàng thật sự có thể bước ra ngoài cùng ta uống một chén rượu,
thì đêm nay hẳn sẽ không còn cô quạnh nữa.
Điều kỳ lạ là ngay khi lời nói vừa dứt, ngọn đèn dầu trong phòng bỗng lay động.
Bóng người trên bức tường cũng khẽ zoom theo ánh lửa.
Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy,
đàm sinh dường như nhìn thấy người thiếu nữ trong tranh khẽ cong khóe môi,
nở một nụ cười dịu dàng.
Chàng chỉ nghĩ đó là ảo giác do men rượu gây nên, nên cũng không để tâm.
Cơn buồn ngủ nhanh chóng kéo đến,
đàm sinh loạn trọng trở về giường, vừa đặt lưng xuống,
đã chìm vào giấc ngủ say.
Không biết đã ngủ bao lâu, trong cơn mê mảng,
chàng trợt cảm thấy bên cạnh mình dường như có thêm một người.
Một mùi hương thoang thoảng phẳng phất trong căn phòng khiến chàng từ từ mở mắt.
Ngay trước mắt chàng là một thiếu nữ đang ngồi bên mép giường.
Nàng mặc bộ y phục đỏ,
giống hệt người trong bức tranh,
gương mặt dịu dàng,
đôi mắt trong veo khóe môi nở nụ cười hiền hòa,
lặng lẽ nhìn chàng như thể hai người đã quen biết từ rất lâu.
Đàm sinh giật mình đến mức lập tức bật dậy,
vội vàng bước xuống giường,
vừa kinh ngạc vừa lắp bắp hỏi
Cô, cô là ai?
Vì sao lại xuất hiện trong phòng ta?
Thiếu nữ khẽ mỉm cười,
giọng nói nhẹ nhàng như làn gió xuân.
Ta chính là tứ nương trong bức tranh.
Chẳng phải vừa rồi chàng đã mời ta ra uống rượu cùng sao?
Thấy chàng có lòng với ta,
nên ta mới đặc biệt đến đây bầu bạn.
Đàm sinh vừa sửng sốt,
vừa mừng dỡ đến mức không biết mình đang tỉnh hay đang mơ.
Nhìn người thiếu nữ bằng xương bằng thịt đang ngồi trước mặt,
mọi nỗi cô đơn trên đường thiên lý,
dường như đều tan biến.
Đêm hôm ấy,
hai người ngồi bên nhau chuyện trò rất lâu,
tiếng cười sen lẫn những lời tâm sự
khiến khoảng thời gian ngắn ngủi ấy,
trở nên vô cùng ấm áp và lưu luyến.
Đến khi trân trời vừa hồng sáng,
tứ nương mới chậm dãi đứng dậy.
Trước lúc rời đi,
nàng dịu dàng nói,
một nam một nữ,
nếu cùng đồng hành trên đường,
sẽ khó tránh khỏi miệng lưỡi người đời.
Ta sẽ đi trước,
đến quán trọ phía trước chờ chàng.
Kể từ hôm đó,
đêm nào tứ nương cũng đến gặp đàm sinh.
Dù chàng đi đến đâu,
nàng đều xuất hiện đúng như lời hẹn.
Mỗi tối,
hai người lại ngồi đối diện dưới ánh đèn,
cùng nhau trò chuyện đến tận khuya.
Những đêm dài nơi quán trọ
vốn lạnh lẽo và hiu quảnh,
từ đó cũng trở nên ấm áp
bởi sự hiện diện của nàng.
Ban ngày,
đàm sinh vẫn một mình tiếp tục lên đường,
chuyên tâm lo việc ứng thí.
Đến khi màn đêm buông xuống,
dù dừng chân ở bất cứ quán trọ nào,
tứ nương cũng lạnh lẽo xuất hiện
như một lời hẹn chưa bao giờ lỡ.
Hai người kể cho nhau nghe
những điều mắt thấy tai nghe trên đường,
rồi cùng chia sẻ những ước vọng về tương lai.
Mỗi lần chia tay lúc gần sáng,
cả hai đều lưu luyến,
nhưng chưa một ai nhắc đến
ngày phải rời xa.
Cứ như vậy,
đàm sinh thuận lợi đến được kinh thành,
còn tứ nương cũng vẫn luôn âm thầm đi theo.
Suốt quãng đường dài ấy,
nàng chưa từng vắng mặt lấy một lần.
Ở bên nhau lâu ngày,
trong lòng đàm sinh dần nảy sinh nhiều điều thắc mắc.
Chàng từng nhiều lần hỏi nàng họ gì,
quê quán ở đâu,
gia đình còn những ai.
Thế nhưng,
mỗi lần nghe đến những câu hỏi ấy,
tứ nương chỉ khẽ mỉm cười
rồi lạnh lẽ lảng sang chuyện khác,
tuyệt nhiên không chịu tiết lộ dù chỉ một lời.
Thời gian chẳng mấy chốc
đã đến ngay vào trường thi.
Nghĩ đến kỳ thi lần này
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tương lai của mình.
Đàm sinh chợt nhớ đến những điều kỳ lạ nơi tứ nương.
Chàng ngập ngừng một lúc rồi nói,
tứ nương,
nàng đã có bản lĩnh thần kỳ như vậy,
liệu có thể vào trường thi
giúp ta xem trước để thi được không?
Nghe xong, tứ nương lập tức lắc đầu.
Nàng nhẹ dọng đáp,
chuyện đó thì không thể.
Trong trường thi có thần nhân chấn giữ,
lại tuần tra vô cùng nghiêm ngặt.
Ta hoàn toàn không thể bước vào nơi ấy.
Thấy nàng trả lời dứt khoát như vậy,
đàm sinh cũng không nỡ ép thêm.
Chàng hiểu rằng nếu nàng đã nói không thể,
thì chắc chắn có lý do của nàng.
Nên chỉ đành gạt bỏ ý định ấy,
tập trung hết sức chuẩn bị cho kỳ thi.
Ít lâu sau, kỳ thi kết thúc.
Đàm sinh mang theo bao hy vọng
bước vào phòng thi,
nhưng cuối cùng vẫn không thể đỗ đạt như mong muốn.
Khi bảng vàng công bố,
tên chàng không có trên đó.
Dẫu trong lòng không khỏi thất vọng,
đàm sinh vẫn đành lặng lẽ thu dọn hành lý
để trở về quê.
Điều khiến chàng cảm thấy an ủi nhất
là suốt chặng đường ấy,
tứ nương vẫn luôn ở bên cạnh,
lặng lẽ đồng hành như từ trước đến nay.
Hai người cứ cùng nhau đi hết ngày này sang ngày khác.
Mãi cho đến khi
sắp trở lại huyện Ngọc Sơn,
nơi lần đầu tiên họ gặp gỡ,
tứ nương vẫn trở nên trầm lặng hơn hẳn.
Đêm hôm ấy, nàng nhìn đàm sinh
rất lâu rồi khẽ cất tiếng.
Ngày mai là đến nơi
chúng ta gặp nhau lần đầu.
Cũng là lúc ta phải rời đi.
Đàm công tử,
chúng ta nên nói lời từ biệt tại đây.
Nghe những lời ấy,
trái tim đàm sinh như thắt lại.
Chàng vội nắm lấy tay nàng
trong giọng nói đầy vẻ lưu luyến.
Ta vẫn chưa cưới vợ.
Ta muốn đưa nàng về nhà,
gặp mẹ ta, nói rõ mọi chuyện rồi
đường đường chính chính cưới nàng làm thề tử.
Ta không muốn chúng ta cứ mãi chia ly như thế này.
Ánh mắt tứ nương thoáng hiện
lên một nỗi buồn rất khó diễn tả.
Nàng nhìn đàm sinh thật lâu rồi
khẽ mỉm cười.
Duyên phận giữa chàng và ta chỉ có thể đi đến đây mà thôi.
Nói đến đó,
nàng nhẹ nhàng rút tay mình ra rồi nói tiếp.
Nhưng chàng cũng đừng quá buồn.
Sang năm,
tự nhiên sẽ có một mối lương duyên
đang chờ đợi chàng. Đến lúc ấy,
chàng sẽ hiểu tất cả.
Vừa dứt lời, thân ảnh của tứ nương
bỗng nhòe dần trong màn đêm.
Chỉ trong chớp mắt,
nàng đã biến mất, không còn để lại chút dấu vết nào
như thế chưa từng xuất hiện
trên thế gian.
Đàm sinh đứng lặng hồi lâu.
Trước mắt chàng chỉ còn màn đêm tĩnh mịch
và cơn gió lạnh khẽ lướt qua.
Còn người mà chàng luôn mong được gắn bó cả đời
thì đã rời đi, không một lời hẹn gặp lại.
Hôm sau,
đàm sinh lặng lẽ tiếp tục lên đường trở về quê.
Dọc suốt quãng đường,
trong lòng chàng vẫn không ngừng
nhớ đến tứ nương
và cuộc gặp gỡ kỳ lạ
tưởng như một giấc mộng.
Sau khi trở về quê,
đàm sinh vẫn không thể ngôi ngoai
nỗi nhớ dành cho tứ nương.
Hình bóng người thiếu nữ áo đỏ
luôn hiện lên trong tâm trí chàng,
từ nụ cười dịu dàng
cho đến những đêm dài cùng nhau
trò chuyện dưới ánh đèn nơi quán trò.
Mỗi khi nhớ lại những tháng ngày ấy,
lòng chàng lại dâng lên một nỗi buồn khó gọi thành tên.
Vì vậy,
làm việc gì chàng cũng mất tập trung,
tinh thần ngày một xa xút.
Thấy con trai mãi không chịu nghĩ
đến chuyện thành gia lập thất,
người nhà bắt đầu đứng ra thu xếp cho chàng
một mối hôn sự.
Cô gái được mai mối là một người xuất thân nghèo khó,
không nơi nương tựa.
Ban đầu,
đàm sinh một mực không muốn đồng ý.
Trong lòng chàng vẫn luôn ghi nhớ
lời hứa với tứ nương cũng chưa thể
buông bỏ đoạn duyên kỳ ngộ năm nào.
Thế nhưng,
trước sự khuyên nhủ hết lời của người thân,
chàng cuối cùng cũng đành thuận
theo ý gia đình.
Đến mùa xuân năm sau, hôn lễ được cử hành.
Đêm tân hôn,
khi đàm sinh nhẹ nhàng véng tấm khăn
chùm đầu của cô dâu lên,
chàng bỗng sưỡng sở, cả người như chết lặng.
Gương mặt trước mắt chàng
lại giống hệt tứ nương
trong bức tranh năm ấy.
Không chỉ rung màu, mà từng đường nét trên khôn mặt.
Ánh mắt và nụ cười cũng gần như
không có chút khác biệt nào.
Đàm sinh cố giữ bình tĩnh
rồi nhẹ nhàng hỏi chuyện.
Lúc ấy chàng mới biết,
trong gia đình, cô dâu cũng là người con thứ tư,
tên gọi ở nhà cũng chính là tứ nương.
Sự trùng hợp ấy
khiến đàm sinh càng thêm kinh ngạc.
Chàng mỉm cười rồi nửa đùa, nửa thật nói với vợ.
Trước đây,
khi chưa có ai mài mối cho ta,
ta từng mơ thấy một cô gái.
Sau khi tỉnh dậy,
ta nhớ mãi rung màu của nàng,
nên đã vẽ lại thành một bức tranh.
Đến hôm nay ta mới biết,
người xuất hiện trong giấc mơ năm ấy
lại chính là nàng.
Người vợ nghe xong thì không tin.
Liên bảo chàng mang bức tranh ra xem.
Đàm sinh mở chiếc giương,
cất giữ hành lý, cẩn thận lấy bức hỏa
đã theo mình suốt quãng đường lên kinh
rồi đưa cho vợ.
Vừa nhìn thấy bức tranh, nàng lập tức giữ người.
Thiếu nữ trong tranh giống hệt nàng.
Từ rung màu đến thần thái,
gần như không thể phân biệt được.
Nàng lặng người rất lâu,
mãi sau mới khẽ cất tiếng.
Ta, ta có một người chị gái sinh đôi.
Năm ngoái, chị ấy lâm bệnh rồi qua đời.
Hai chị em chúng ta từ nhỏ
đã giống nhau như đúc.
Nghe đến đó, trong lòng đàm sinh trật chấn động.
Lẽ nào người con gái
đã cùng chàng sớm tối bầu bạn
trên suốt chặng đường lên kinh năm ấy?
Chính là người chị gái sinh đôi của vợ.
Hay cuộc gặp gỡ tưởng như kỳ ảo ấy,
vốn chỉ là một sự sắp đặt
đầy huyền diệu của số phận.
Mượn hình bóng của người chị
để đưa hai con người có duyên với nhau
gặp gỡ trước.
Rồi đến khi thời cơ chín mồi,
họ mới thực sự nên nghĩa vợ chồng.
Có lẽ trên đời này,
duyên phận chưa bao giờ là điều đến một cách ngẫu nhiên.
Mỗi cuộc gặp gỡ,
mỗi lần chia ly,
mỗi người bước ngang qua cuộc đời ta
đều dường như đã có một sợi dây vô hình
âm thầm kết nối từ trước.
Có những người chỉ gặp một lần rồi
mãi mãi trở thành ký ức.
Nhưng cũng có những người đi một vòng thật lớn,
trải qua biết bao cách trở,
cuối cùng vẫn trở về bên nhau
như một sự an bài của số phận.
Cổ nhân có câu,
hữu duyên thiên lý năng tương ngộ,
vô duyên đối diện bất tương phùng.
Nghĩa là,
người có duyên thì dù cách nhau ngàn dặm
cũng sẽ có ngày gặp gỡ.
Còn người không có duyên,
thì dù đứng ngay trước mặt nhau cũng khó thể kết thành nhân duyên.
Nhìn lại câu chuyện của Đàm Sinh
và Tứ Nương,
ta càng cảm nhận rõ hơn sự kỳ diệu
của hai chữ duyên phận.
Tưởng rằng đó là một mối tình ngắn ngủi
chỉ tồn tại giữa thực và mộng.
Nhưng hóa ra lại là sự dẫn dắt
để đưa chàng đến với người
sẽ cùng mình gắn bó trọn đời.
Điều tưởng như đã mất,
đôi khi chỉ đang đổi một cách khác
để trở về.
Đức Phật từng dạy rằng,
mọi cuộc gặp gỡ trên đời đều không phải ngẫu nhiên.
Người xuất hiện trong cuộc đời ta
đều mang theo một nhân duyên nào đó.
Có những người đến để đồng hành.
Có những người đến để dạy ta một bài học.
Cũng có những người chỉ lặng lẽ
đi ngang qua,
để rồi để lại trong lòng ta
một dấu ấn không thể phai mở.
Dù kết cục ra sao,
mỗi cuộc gặp đều có ý nghĩa riêng của nó.
Bởi vậy, điều thuộc về mình
sẽ đến vào đúng thời điểm,
không cần quá nóng vội.
Còn những gì không thuộc về mình
thì càng cố cưỡng cầu,
càng dễ khiến lòng mình thêm mệt mỏi.
Thay vì mãi theo đuổi những điều không thể nắm giữ,
chi bằng hãy sống chân thành,
biết trân trọng những người đang ở bên cạnh
và gìn giữ từng nhân duyên
mà cuộc đời ban tặng.
Khi một người biết sống thiện lành,
giữ tâm ngay thẳng
và đối đái với mọi người bằng sự chân thành,
họ cũng đang âm thầm gieo xuống
những hạt giống tốt đẹp cho tương lai.
Đến một ngày nào đó,
những hạt giống ấy sẽ nảy mầm,
kết thành những nhân duyên tốt lành
và những quả ngọt xứng đáng.
Bởi suy cho cùng,
trên đời này, điều quý giá nhất
không phải là gặp được đúng người sớm hay muộn,
mà là khi nhân duyên đã đến,
cả hai đều biết trân trọng nhau.
Có như vậy,
cuộc gặp gỡ ấy mới thật sự trở thành
một đoạn nhân duyên viên mãn,
không phụ sự sắp đặt kỳ diệu của cuộc đời.
Người ta kể rằng,
có một người đàn ông chỉ vì một mồi lửa
đã thiêu chết 800 con rắn.
Nhiều năm sau, cả gia tộc của ông
cũng phải gánh chịu một kết cục bi thảm
khi hơn 800 người bị diệt môn.
Đó là một câu chuyện
đã được lưu truyền suốt hàng trăm năm,
khiến bất kỳ ai nghe qua
cũng không khỏi bùi ngùi và suy ngẫm.
Tương truyền,
trước khi vị đại nho nổi tiếng
thời nhà Minh là Phương Hiếu Nhụ trao đời,
cha của ông dự định xây
một ngôi mộ mới cho tổ tiên.
Để thể hiện lòng hiếu kính,
ông đặc biệt mời người am hiểu phong thủy
tìm giúp một vùng đất được cho là cát địa,
có phong thủy vô cùng tốt.
Đêm trước ngày khởi công,
cha của Phương Hiếu Nhụ
bỗng có một giấc mơ kỳ lạ.
Trong giấc mộng,
một ông láo mặc áo đỏ bước đến trước mặt ông.
Về mặt đầy lo lắng,
ông láo liên tục cúi mình vái lại
rồi khẩn khoản cầu xin.
Vùng đất mà ngài đã chọn
chính là nơi gia đình tôi đã sinh sống
qua nhiều thế hệ. Tôi chỉ xin ngài rộng lòng
cho chúng tôi thêm ba ngày, để con cháu
kịp rời đi hết. Sau ba ngày,
ngài hãy khởi công, tôi nhất định
sẽ ghi nhớ và bảo đáp ân tình này.
Ông láo hết lời văn nải,
lặp đi lặp lại lời thỉnh cầu
đến ba lần. Thế nhưng,
khi tỉnh giấc vào sáng hôm sau,
cha của Phương Hiếu Nhụ lại không mấy bận tâm
đến giấc mơ ấy. Trong lòng ông
nghĩ rằng, chuyện trong mộng vốn hư hư
thực thực, làm sao có thể tin là thật.
Hơn nữa, ngày lành tháng
tốt để động thổ đã được chọn
từ trước, đâu thể nói đổi là đổi.
Thế là, ông
vẫn sai người tiến hành khởi công
theo đúng kế hoạch. Nào ngờ,
khi những người thợ vừa đào xuống
chưa được bao lâu, từ dưới lòng đất bỗng
xuất hiện vô số rắn đỏ, tren
chúc bò lên dày đặc. Số lượng
nhiều đến mức phải lên tới hàng trăm con.
Lo sợ đàn rắn sẽ làm
hại mọi người, cha của Phương Hiếu Nhụ
lập tức ra lệnh phóng hỏa,
thiêu chết toàn bộ số rắn đỏ ấy.
Không ai ngờ rằng, ngay trong
đêm hôm ấy, ông láo mặc áo đỏ
lại một lần nữa xuất hiện trong giấc mơ
của cha Phương Hiếu Nhụ. Nhưng
lần này, gương mặt ông không còn
vẻ khẩn khoản cầu xin như trước,
mà chỉ còn lại nỗi đau đớn
và phận út đến tổt cùng.
Nước mắt không ngừng tuôn rơi,
ông nghẹn ngào nói,
Tôi đã hết lòng cầu xin Ngài, chỉ
mong có ba ngày để con cháu kịp chạy thoát.
Thế nhưng Ngài lại
nhẫn tâm dùng một mồi lửa thiêu
chết tám trăm con cháu của tôi. Ngài
đã khiến cả gia tộc tôi bị diệt vong.
Sau này, tôi cũng nhất định sẽ
khiến gia tộc của Ngài phải chịu kết cục tương tự.
Nói xong, ông láo liền biến mất.
Về sau, vợ chồng cha
của Phương Hiếu Nhụ sinh được một người con trai
và đặt tên là Phương Hiếu Nhụ.
Tương truyền rằng, khi vừa cất tiếng
khóc chào đời, đầu lưỡi của ông dài
và nhọn, hình dáng rất
giống lưỡi rắn. Lớn lên,
Phương Hiếu Nhụ nổi tiếng là người tài hoa
xuất trúng, học rộng hiểu nhiều,
văn trương uyên bác.
Nhờ tài năng và đức độ của mình,
ông được bổ nhiệm giữ chức Hàn Lâm học sĩ.
Ông luôn trung thành với Triều Định,
tính tình cương trực,
ngay thẳng. Vì thế được vua
và bá quan hết sức coi trọng.
Về sau, khi Minh Thái Tổ
qua đời, Yên Vương Chú Đệ khởi
binh tiến vào Nam Kinh, đoạt lấy ngôi báo.
Trước biến cô ấy,
phần lớn quan văn võ trong Triều
đều lựa chọn quý thuận.
Chỉ riêng Phương Hiếu Nhụ vẫn giữ
chọn khí tiết, quyết không cúi đầu,
thả chết chứ, nhất định không khuất phục.
Chú Đệ ra lệnh cho ông soạn
chiếu thư nhằm chứng minh việc mình lên ngôi
là chính danh. Thế nhưng,
Phương Hiếu Nhụ chỉ lặng lẽ
viết xuống 4 chữ, yên tặc soán vị.
Chỉ vòn vẹn
4 chữ ấy đã khiến Chú Đệ nổi
cơn thịnh nộ. Ông ta quát lớn,
chẳng lẽ người không sợ bị
Chu Di cử tộc sao?
Đối diện với cơn giận dữ của Bậc Đế Vương,
Phương Hiếu Nhụ vẫn giữ vẻ bình thản,
thần sắc không hề thay đổi.
Ông chỉ nhẹ nhàng đáp lại,
dù có Chu Di thập tộc thì có gì
đáng sợ. Cuối cùng,
trong cơn thịnh nộ của Chú Đệ, không
chỉ chính họ của Phương Hiếu Nhụ bị Chu Di,
mà ngay cả các môn sinh,
đệ tử của ông cũng đều bị sự tử.
Lịch sử gọi sự kiện ấy là
Chu thập tộc. Tương truyền rằng,
tổng số người gặp nạn trước sau
và khoảng 800 người,
chùng khớp một cách kỳ lạ với
800 con rắn đỏ đã bị thiêu chết
năm xưa. Câu chuyện này
đã được lưu truyền qua nhiều thế kỷ.
Thực hư ra sao, hậu thế tự
có sự phán đoán của riêng mình.
Nhưng điều mà câu chuyện muốn gửi gắm
vẫn luôn khiến người đời phải suy ngẫm.
Đôi khi, chỉ một niệm tư bi
cũng đủ để hóa giải một tai hỏa
đang âm thầm chờ đợi phía trước.
Ngược lại, chỉ một niệm thiếu lòng
chắc ẩn cũng có thể gieo xuống
một nhân duyên mà hậu quả của nó
rất khó để cứu ván.
Dẫu câu chuyện này là lịch sử
hay chỉ là một truyền thuyết được lưu truyền
trong dân gian, thì bài học mà nó để lại
vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay.
Có những việc tưởng chừng
chỉ là một quyết định trong phút chốc,
nhưng lại có thể để lại hậu quả
rất lâu dài. Vì thế,
trước mỗi lựa chọn trong cuộc sống,
nếu chúng ta biết nghĩ cho muôn loài,
biết giữ lòng nhân hậu
và nuôi dưỡng sự từ bi,
thì cũng chính là đang gieo những hạt giống
tốt đẹp cho tương lai của mình.
Bởi mỗi sinh mệnh trên thế gian
đều đáng được trân trọng.
Khi con người biết kính sợ sự sống,
biết nuôi dưỡng lòng thiện lương
và luôn giữ một niệm nhân từ
trong từng lựa chọn của mình,
cũng chính là lúc họ đang
âm thầm mở ra con đường
để thay đổi vận mệnh của chính mình.
Xin cảm ơn quý cô bác,
anh chị và các bạn
đã dành thời gian lắng nghe câu chuyện.
Hẹn gặp lại mọi người
trong những câu chuyện tiếp theo.
