Vương quốc Champa từng là một trong những thế lực hùng mạnh nhất Đông Nam Á, sở hữu hạm đội khiến các tuyến hải thương khiếp sợ, đánh bại Angkor và xây dựng nên những công trình kỳ vĩ như Thánh địa Mỹ Sơn. Từ một nền văn minh biển rực rỡ với thương cảng quốc tế, trầm hương, tín ngưỡng Ấn Độ giáo và kỹ thuật xây tháp bí ẩn, Champa đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam và khu vực. Thế nhưng sau nhiều thế kỷ hưng thịnh, vương quốc này dần suy yếu và cuối cùng thất bại trước Đại Việt, khép lại một chương huy hoàng kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Điều gì đã khiến một vương quốc từng làm rung chuyển Đông Nam Á đi đến kết cục ấy?
Video này tái hiện toàn cảnh lịch sử vương quốc Champa, từ nguồn gốc cư dân Nam Đảo, sự hình thành nhà nước Lâm Ấp đến thời kỳ hưng thịnh về hải quân và thương mại. Nội dung nhấn mạnh những thành tựu độc đáo về kiến trúc tháp gạch, hệ thống chính trị liên bang, cùng những xung đột nội bộ và cuộc đối đầu với Đại Việt dẫn đến sự suy vong và hòa nhập văn hóa.
Những tòa tháp này đã đứng đây suốt hơn 1.600 năm.
Chúng là nhân chứng lịch sử cho một đế chế từng làm dung chuyển Đông Nam Á.
Ngay cả kinh độ ăn co của Khmer Hùng Mạnh cũng phải quỳ gối trước ngọn lửa hung tàn của họ.
Một nền văn minh rực rỡ với trầm hương, biển cả và những vị vua được coi như hiện thân của thần thánh.
Nhưng vinh quang càng trói lọi, vực thẳm càng sâu.
Vương triều rực rỡ ấy cuối cùng đã bị nghiền nát dưới vó ngựa thiện chiến của nhà Lê.
Hãy ngược dòng thời gian để đánh thức một ký ức bị lãng quên, vương quốc Tràm Pà.
Mọi dân tộc vĩ đại đều bắt đầu bằng một huyền thoại.
Và người Tràm Pà cũng vậy.
Chuyên kề rằng tại núi Đại An có một đôi vợ chồng già.
Hôm ấy họ bắt gặp một thiếu nữ xinh đẹp đang hái trộm dừa.
Vì không có con cái, ông bà nhận nàng làm con nuôi.
Đến một ngày mưa lũ nỏ, cô gái mới lộ thân phận là tiên nữ Thiên Ý Ana.
Vì nhớ trốn bồng lai, nàng hóa vào khu cỗ kỳ Nam rồi trôi giạt sang phương Bắc.
Tại Trung Hoa, Thiên Ý Ana nhanh chóng nên duyên với Thái tử Bắc Hải.
Nhưng do nhớ quê, nàng chọn vượt biển trở về.
Lúc này, cha mẹ nuôi đã khuất.
Thiên Ý Ana xây mộ thờ cúng và bắt đầu hành trình khai sáng dân tộc Tràm Pà.
Bà dạy họ cấy cấy, chăn nuôi và đặt ra các quy tắc lễ nghi đầu tiên.
Chuyên thiết này đã phản ánh phần nào nguồn gốc của vương quốc Tràm Pà.
Họ thuộc về nhóm cư dân Nam Đảo,
một trong những hệ ngôn ngữ rộng lớn trải dài khắp Thái Bình Dương và Đông Nam Á Hải Đảo.
Hơn 3.000 năm trước, từ vùng Đài Loan,
cộng đồng này bắt đầu hành trình vượt biển, di cư đến Philippines, Malaysia hay Indonesia.
Và rồi khoảng 500 năm trước Công Nguyên,
một nhánh trong số đó bắt đầu đặt chân lên dải bờ biển miền Trung Việt Nam.
Nơi đây vốn dĩ đã là nơi cư trú của người bản địa thuộc nhóm Môn Khờ Mè,
đặc biệt ở vùng núi và trùng rục.
Sự gặp gỡ giữa hai cộng đồng đã tạo nên một quá trình giáo thoa văn hóa sầu sắc,
làm tiên đê cho sự xuất hiện của văn hóa xa huỳnh.
Tuy nhiên, sự yên bình không kéo dài lâu.
Năm 111 trước Công Nguyên, sau khi đánh bải Nhà Triệu,
Hán Vũ Đế đặt ách thống trị lên các vùng đất Nhật Nam, Cửu Trân và Giao Trị.
Suốt thế kỷ thứ 2, những cuồng nổi dậy nổ ra liên tiếp nhưng đều bị dập tắt.
Cho đến năm 192, tại khu vực Tượng Lâm, tương ứng với vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay,
Khu Liên, con trai một vị quán địa phương, đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.
Sự kiện này làm rung chuyển trật tự khu vực.
Một nhà nước độc lập đầu tiên hình thành trên nền đất từng thuộc về Thiên Triều.
Sự liệu Trung Hoa gọi nó bằng cái tên là Mấp.
Đây được xem là nhà nước sớm nhất của vườn quốc trọng bà.
Sau khi giành được quyền tự chủ, là Mấp liên tục phải đối mặt với các cuộc tấn công của các triều đại phương Bắc.
Mỗi lần bị đánh bật khỏi những vùng đất vừa kiểm soát, họ lại nhanh chóng củng cố lực lượng rồi tiếp tục tiến xuống dọc duyên hải miền Trung để mở sống lãnh thổ.
Phần đông dân cư là Mấp xuất thân từ dân tộc Nam Đảo nên họ rất am hiểu biển cả.
Nhờ vậy, họ có thực hiện các chuyến vượt đại dương đến tận Trung Hoa hay Gia Và và học hỏi địch nhiều kỹ thuật hàng hải quan trọng.
Người là Mấp thường sử dụng ghé bầu, một loại thuyền treo tay, mũi ngẩn cao với buồm hình tử giác lệch hoặc hình tam giác.
Loại thuyền thân thon và dài ấy đã ưu thế lớn khi lướt sóng với tốc độ cao.
Trong một bức phu điêu tại Bayeux, các nhà nghiên cứu đếm được khoảng 23 tay treo ở mỗi bên, cho thấy chiến thuyền này có thể dài hơn 30 mét.
Các tay treo đội chương mũ trông giống như bông hoa, phần mũi thuyền được chạm khắc hình đầu quái vật nổi bật,
trong khi phần đuôi cong vút lên phía sau, khiến tông thể chúng trông khá giống những con tàu vạch kinh nổi tiếng của châu Âu.
Nhờ ghi chép lịch sử xác nhận, người Trăm có thể xây dựng những lực lượng thủy quân cực kỳ hùng hậu từ rất sớm.
Năm 979, Đại Cầu Việt rơi vào hỗn loạn sau cày chết của Vô Đình Tiên Hoàng.
Nhân cơ hội này, Vô Phê Mị Thuế Thứ Nhất lập tức huy động hơn 1.000 chiến thuyền chuẩn bị đánh thẳng vào Hoa Lư.
Tuy nhiên, do gặp bão lớn nên kế hoạch đã sụp đổ.
Dù cuộc tấn công chưa kịp bắt đầu, nhưng nó cho thấy năng lực tổ chức và hậu cân trên biển của Trăm Pà đã đạt đến trình độ rất cao.
Trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 7, nơi bộ hoàng tộc tuy thường xuyên xảy ra tranh chất, nhưng lãnh thổ Lâm Bấp vẫn không ngừng mở rộng.
Phàm vi ảnh hưởng của họ dần lan tới Phú Yên, vươn sâu lên Tây Nguyên và kết nối sang cả vùng Nam Lào ngày nay.
Nhiều cộng đồng cư dân sống dọc giãi Trường Sơn cũng bắt đầu liên minh hoặc thân phục người Trăm Pà.
Đầu thế kỷ thứ 7, trung tâm quyền lực được chuyển về khu vực Trà Kiệu thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay.
Cũng từ thời điểm này, tên Trăm Pà bắt đầu xuất hiện trong các văn bía chữ Phạm.
Sự thay đổi đó phản ánh bước chuyển lớn của quân quốc.
Từ một chính quyền địa phương nổi dậy chống phương Bắc, trở thành một quốc gia hàng hải có bản sắc riêng biển.
Thủy quân dần được trang bị nỏ, lao và nhiều loại vũ khí cận chiến khác.
Trong một số trường hợp, họ còn sử dụng áo giáp làn từ mây đan để tăng khả năng cơ động trên thuyền.
Thủy binh Trăm Pà thường phối hợp nhịp nhàng với bộ binh và đặc biệt là tượng binh.
Khi vua ra trận hoặc thực hiện các chiến dịch lớn, hàm đội thuyền chiến luôn đi kèm với lực lượng hỗ trợ hùng hậu này để tạo nên sức mạnh áp đảo cả trên sông Ngòi lẫn đất liệt.
Một trong những trận thắng lấy lừng nhất diễn ra vào năm 1177.
Trước đó, vương quốc Trăm Pà và đế chế Angkor đã trải qua nhiều thế kỷ giao tranh căng thẳng.
Đình điểm là cuộc tấn công bằng tượng binh năm 1170 của quân Khmer đã khiến Trăm Pà chịu tổn thất nặng nề.
Khi Yaya Indravarman đệ tứ lên ngồi, ông ngay lập tức nung nấu kế hoạch phục thủ.
Ban đầu, Indravarman đệ tứ định xây dựng đội kỳ binh thần tốc sau khi học được kỹ thuật bắn cung trên lưng ngựa từ một người hoa đám tàu rạt vào bờ biển Trăm Pà.
Tuy nhiên, do nhà tống từ chối bán ngựa chiến, nhà vua lên kế hoạch xoay chuyển cục diện bằng một cuộc hành quân chưa từng có.
Thay vì tiến quân bằng đường bộ qua rừng nguy hiểm trở, hàm đội Trăm Pà men theo bờ biển phía nam, dối tiến vào hệ thống sông Ngôi Cộng.
Từ đây, họ ngược dòng tiến sâu vào nổi địa Khmer, đâm thẳng lên hồ Tôn Lê Sáp, vùng trung tâm giao thông và viết mạch của địa chế An Khó lúc bấy giờ.
Sự xuất hiện bất ngờ của kẻ thù khiến hệ thống phòng thủ của người Khmer hoàn toàn bị tê liệt.
Quân đội Trăm Pà nhanh chóng tràn vào kinh độ.
Trận chiến này ám ảnh đến mức, hình ảnh những binh sĩ Trăm Pà trên thuyền đã được người Khmer khắc lại trên các phủ điêu đá tại Đền An Co và Bài Hỏ.
Sau trận tháng này, An Khó đã bị chiêm đóng đến khoảng năm 1181.
Sức mạnh áp đảo của đội binh Trăm Pà không chỉ được dùng để trinh phạt các địa chế lục địa, mà còn biến vương quốc này thành nối khiếp sợ trên các tuyến hải lộ viết mạch.
Trong thế kỷ 12, họ thường xuyên tổ chức đánh cướp tàu buôn Ả Rập, Bồ Đào Nha và Hà Lan qua lại trên Biển Đông, tại khu vực đảo Côn Lôn và Phú Quý.
Chiến lệ phẩm sau đó còn được dùng làm vật cống cho các khoảng địa phương Bắc.
Nhìn vào những hạm đối chiến thuyền hùng mảnh ấy, chắc hẳn chúng ta sẽ cho rằng Trăm Pà phải có một bộ máy trung ương tập quyền tuyệt đối như cách mà Đại Việt vận hành.
Nhưng thực tế lại hoàn toàn khác.
Phường quốc này được xây dựng trên dài đất hẹp ngang và bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ngang ra biển.
Việc di chuyển giữa các vùng phải vượt đeo cao bằng dường rậm hoặc đi bằng đường biển.
Vì vậy, thay vì cố gắng tập trung quyền lực, Trăm Pà lựa chọn cơ chế chính trị liên bang.
Mỗi vùng sẽ có vua riêng, quân đội riêng và gần nhất tự trị trong lãnh thộc của mình.
Trong từng tiểu vương quốc ấy cũng có sự phần chia quyền hành giữa các lãnh chối địa phương.
Và như một kết quả tất yếu, chính quyền trung ương chỉ mang tính biểu tượng.
Nhưng trong một đất nước bị chia cắt như vậy, làm thế nào để giữ được sự thống nhất?
Câu trả lời nằm ở niềm tin tôn giáo.
Các vị vua Trăm Pà được coi là hiện thân của thần Shiva, đứng quỷ diệt và tái tạo.
Danh sưng của họ thường kết thúc bằng đuôi Vaman hoặc thêm chữ Sri, nghĩa là đứng tối cảo.
Theo tầm bia có niên đại, vào khoảng cuối thế kỷ thứ tư, được tìm thấy trước đền A1 tại Mỹ Sơn.
Vua Brad Gravaman Đệ Nhất đã cho xây dựng một ngôi đền linh thiêng để thờ thần Padre Zavara, vị thân được mệnh danh là Chúa Tể May Mắn.
Padre Gravaman là vị vua đầu tiên đặt nền móng cho toàn bộ quần thể Thánh điện Mỹ Sơn.
Bản thân danh sưng Padre Svara cũng mang đầy dấu ân tôn giáo, bởi phần đầu Pad là tên vua, còn Svara nghĩa là đứng tối thượng, ám chỉ thần Shiva.
Đây chính là bằng chứng cho thấy Champa đã sử dụng thần quyền làm sợi dây biện chặt các tiểu quốc cho một trình thể cố định.
Khi có nguy biến, nhà vua có thể nhân danh thần linh để huy động nhân dân.
Sự hình thành cơ chế quyền lực này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn minh Ấn Độ với tín hướng bà là môn giáo.
Sự liệu Trung Quốc hồi thế kỷ thứ ba chép rằng, vương quốc này về phía Nam thì giáp phủ Nam.
Hai nước gồm rất nhiều bộ lạc và liên kết với nhau.
Lợi dụng núi non hiểm trở, họ không quyền phục Trung Quốc.
Từ thời điểm này, trên nẻo đất miền Trung nổi lên một quốc gia độc lập chịu ảnh hưởng Ấn Độ.
Tổ chức xã hội của Ngày Ấn dựa trên nguyên tắc phân quyền, không có biên giới cố định.
Quyền lực tối cao của vua lan tọa theo kiểu vong tròn ảnh hưởng, càng xa trung tâm càng lòng lẻo.
Champa thư hưởng toàn bộ đặc tính đó.
Không chỉ vậy, xã hội Champa đã tiếp nhận luật Mannu của đạo Bảo-Lam-Môn để phân chia cư dân thành bốn đẳng cấp.
Định chế này đảm bảo quyền lãnh đạo, chính trị và quân sự luôn nằm trong tay những dòng vương tôn quý tộc, có liên hệ huyết thống trực tiếp với nhà vua.
Dù vậy, trước khi chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ, người Champa đã có tín ngưỡng của riêng mình.
Họ quan niệm rằng thiên nhiên và mọi vật thể xung quanh đều có linh hồn.
Với người Champa, cuộc sống sau khi chết mới là nơi con người tồn tại mãi mãi.
Khi văn hóa Ấn Độ được du nhập vào từ thế kỷ thứ tư, các vị thần của tín ngưỡng Bảo-Lam-Môn đã hòa quyện với thế giới cũ.
Bộ ba thần linh Chimerti gồm Brahma thần sáng tạo, Vishnu thân bảo tồn và Shiva thân hủy diệt và tái thiết được đón nhận mạnh mẽ.
Những đứng linh thiêng ấy được cư dân Champa phụng thờ trong không gian đền tháp cổ.
Ngoài ra hình tượng tương ứng còn xuất hiện qua các phủ điệu.
Nổi bật tại các công trình cao tầng hay tạo tác toàn khối bằng đá quý, hợp kim sẫm màu, vàng cùng nhiều đối tượng siêu nhiên khác.
Điểm giao thoa lớn nhất giữa tín ngưỡng bản địa Champa và văn minh Ấn Độ được thể hiện rõ nhất ở ngẫu tượng Lingayoni.
Khi Ấn Độ gió hình thành, thân thoại kể rằng Shiva xuất hiện dưới dạng một cột lửa mà hình sinh thực nam giới.
Về sau, người Champa biểu trưng hóa thành cặp Lingayoni để thờ vụ.
Trong đó, Linga là trụ đại diện yếu tố nam, Yoni là bệ thể hiện yếu tố nữ.
Biểu tượng ấy thường đặt trong đền tháp đại diện thần linh và khả năng sinh sôi của vạn vật.
Tại Champa, hệ thống Lingayoni mang đặc trưng riêng với số lượng lớn, hình dạng phong phú.
Ngoài những dạng trên, còn tồn tại kiểu có khắc khuân mặt ở phần đỉnh, được gọi là Mukha Linga.
Trong nghệ thuật Champa, trường hợp này rất hiếm.
Chỉ có một ví dụ tiêu biểu nhất nằm trong lòng tháp chính, Poklong Garai.
Hình tượng đó có thể đại diện cho vị vô cùng tên, phản ánh sự gắn kết giữa quyền lực thế tục với yếu tố thiêng liềng.
Và thật thiếu sót nếu bàn về văn hóa Champa mà bỏ qua dĩ sản kiến trúc vô cùng đặc sắc.
Điểm gây kinh nhạc nhất đối với doanh nghiên cứu hiện đại, nằm ở kỹ thuật xây dựng gần như không sử dụng mạch vữa.
Dù vẫn còn nhiều tranh luận, một giả thuyết được nhắc đến rộng rãi cho rằng,
cư dân Champa đã dựng tháp bằng cạch mộc trừa nụng.
Những viên cạch này màu đỏ hồng hoặc đỏ sẫm, độ súc cao, chứa một tỷ lệ cát nhất định,
có thể do nguồn đất xét tự nhiên hoặc được phá trội.
Trước khi xếp trồng, chúng được làm ẩm, miết và ép chặt vào nhau.
Từ đó tạo nên một lớp liên kết chặt chẽ, dù không hề sử dụng chất kết dính truyền thống.
Sau khi hoàn thiện, toàn bộ công trình có thể đã được nung lên để biến thành một khối vững chắc.
Do đất xét khô chậm và cần giữ độ ẩm trước khi ra nhiệt, vật liệu không thể đổ lỏng như bê tông hiện đại.
Thay vào đó, từng viên cạch được tạo hình riêng, phơi xe rồi mới đem ghép lại theo từng lớp.
Các lớp gạch được xếp sò lè và ép chặt.
Khi hoàn thành, từ mỏng đến thân tháp gần như trở thành một khối vật liệu thống nhất, chỉ xen kẽ một số chi tiết đá để giảc cửa.
Có gia đình cho rằng, quá trình thiết công diễn ra từ dưới lên trên, còn việc nung tiến hành theo chiều ngược lại để giảc nguy cơ nước vỡ.
Tuy nhiên, cửa chế chính xác đến nay vẫn chưa được giải máu hoàn toàn.
Phần đỉnh tháp luôn thu nhỏ dần so với thân và đế nhằm giữ ổn định trọng tâm.
Vì vậy, thường được xây dựng rất dày, có thể lên tới gần 2 mét.
Trong quá trình xây dựng, đất được đổ đầy cả bên trong lấp bên ngoài để làm bể đất tạm thời và tạo mặt bằng thao tác.
Cách này vừa đóng vai trò như giàn ráo, vừa giúp giữ ổn định kết cấu khi công trình còn chưa hoà thiện.
Việc trạm khắc được thực hiện trực tiếp trên gạch còn ẩm, diễn ra song song với quá trình xây dựng.
Điều đó lý giải vì sao hoa văn trên tháp có độ liền mạch và tinh xào rất cao.
Phương pháp dùng đất làm bể đỡ, đòi hỏi diễn thích rộng, khiến các cung tháp xây sát nhau như tại Thánh địa Mỹ Sơn, khó phát triển chiều cao ở giai đoạn sau.
Đây cũng là một trong những hạn chế của kỹ thuật này.
Khi đạt đến đỉnh, phần chóp thường được để trống trong thời gian ngắn để vật liệu xe lạp.
Sau đó, quá trình gia nhiệt có thể tiến hành từ trên xuống dưới theo từng lớp.
Lửa được duy trì liên tục cho đến khi toàn bộ kết cấu đạt độ cứng cần thiết.
Cuối cùng, phần đất bên trong được lấy ra và nung bổ sung để hoàn thiện toàn bộ khối tháp.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng kỹ thuật này chủ yếu áp dụng cho các công trình tôn giáo.
Trong khi đó, nhà ở, giường nước hay mộ táng thường sử dụng gạch nung hoặc đá kết hợp vữa vôi và phụ ra hưu cờ.
Theo quan niệm của người trang phá, mỗi ngôi tháp phải được xây dựng với bộ cục hình vuông tượng trưng cho mặt đất.
Hệ thống cửa chính luôn mở về hướng đông để đón nhận ánh sáng mặt trời.
Trong khi các mặt còn lại thường là cửa giả nhằm tạo sự cân đối kiến trúc.
Phần nóc tháp gồm nhiều tầng xếp nếp thu nhỏ dần về phía đỉnh nhọn cao phút, gợi nhắc hình ảnh ngõ núi Meru, nơi các vị thần tối cao cư ngủ.
Không gian bên trong thường rất chật hẹp và tối tăm, vốn chỉ dành để đặt biểu tượng linga jolie hoặc tượng thờ.
Mọi nghi lễ tôn giáo quan trọng nhất đều diễn ra ở khu vực ngoại vi, thay vì tổ chức ngay tại lòng địch kín đáo.
Nghệ thuật xây dựng Tràm Pà trải qua nhiều giai đoạn phát triển với những diện mạo rương biển.
Phong cách hòa lài và phương đông vào thế kỷ thứ 9 gây ấn tượng mạnh nhờ phân cửa vòm có mũi tròn bao phủ lên các lối đi.
Chu cửa thường mang hình bát giác làm từ xa thạch, kết hợp hòa văn lá, cọng xoắn hướng ra bên ngoài.
Đến thế kỷ thứ 10, phong cách Mỹ Sơn A1 vườn tới đỉnh cao với cấu trúc cột ốp mặt tường thành từng đồi đổi xứng.
Giữa các khoang không gian ấy, những bức tượng hình người được tạo khắc dưới các tầng tháp xếp cao, rồi thu hẹp dần một cách nghiệp nhạc.
Vượt sang giai đoạn bình định, thế kỷ 11-12, giới nghệ nhân lại chuyển hướng tập trung vào mạng khối thay vì đi sâu vào chi tiết đường nét.
Cửa vòm thế kỷ này được vuốt nhọn sắc sảo, đi kèm hệ thống gân sống nổi bật chạy dọc các mép tường gạch thô giáp.
Sự chuyển đổi thẩm mỹ này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy tạo hình của người Champa khi tiếp nhận ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ.
Hiện nay, giải đất miền Trung còn lưu giữ hơn 20 di tích lịch sử quan trọng, tiêu biểu phải kể đến Thánh địa Mỹ Sơn, công trình kiên trúc được UNESCO công nhận là di sản phản hóa thế giới.
Thánh địa Mỹ Sơn được xây dựng liên tục trong khoảng thời gian dài từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13.
Đây là trung tâm tôn giáo chính của Vương quốc Champa, danh riêng cho việc thờ phụ thần Shiva.
Vị trí địa lý của Thánh địa được lựa chọn cẩn thận, công trình nằm trong một vòng tròn núi đồi bào bỏ.
Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là biểu tượng của vũ trụ quan Ấn Độ giáo, nơi trung tâm thung lũng tượng trưng cho núi Meru, trục của vũ trụ.
Dòng sông Thúc Bồn chảy gần đó tượng trưng do dòng nước thiêng thanh tảnh.
Sự kiên cố và tinh xảo của những tòa tháp Champa không chỉ minh chứng cho trình độ kỹ thuật gạch khổng vữa bậc thảy,
mặc vào là biểu tượng cho sự thịnh vượng của một vườn quốc.
Nhưng họ lấy đâu răng nguồn lực khổng lồ để duy trì mọi thứ trên dài đất nguyên trung hẹp và khô khẳng.
Trong giai đoạn đầu, Champa cơ bản là một quốc gia nông nghiệp.
Họ nổi tiếng với việc trồng loại lúa ngắn ngày có sản lượng cao, gọi là lúa chiêm.
Người dân không chỉ canh tắc ở vùng đồng bằng mà còn phát triển hình thức dụng bậc thang ở các vùng cao.
Hệ thống thủy lợi đa dạng được xây dựng, chia làm hạch cấp.
Thủy lợi quốc gia bao gồm các canh dài vài trăm mét và thủy lợi địa phương là những đường dẫn nước nhỏ vào dụng.
Ngoài lúa gạo, cư dân tự cung tự cấp bằng cách trồng rau và tràn nuôi.
Để phục vụ nhu cầu của vua chúa và các công trình tôn giáo, thủ công nghiệp Champa phát triển mạnh mẽ.
Tuy nhiên đỉnh cao nhất là kỹ thuật nùng gạch.
Người Champa biết trồng bông, đay và xe sợi.
Nhưng chia khóa trước sự phát triển của vương quốc nằm ở kinh tế biển.
Khác với các quốc gia láng giềng với truyền thống nông nghiệp lúa nước lâu đời.
Một bộ phận lớn cư dân Champa thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo.
Họ vốn là những người biển thực thụ di cư từ các đoạc vương Nam.
Nhờ qua lời kể của nhà thơ Champa Invasara.
Nếu người Kinh, Việt mỗi khi có chuyện đau buồn thường kêu trời đất ơi.
Thì người Champa lại thang ngược là trời biển ơi.
Nhờ lợi thế giáp biển, vương quốc Champa từng bước xây dựng mạnh lệ bến cảng nội nghiệp.
Đóng vai trò là cửa ngõ giò thường quốc tế.
Tiêu biểu trong số đó là thành thị nại.
Trong tâm của tiểu quốc Viyaya, khu vực Bình Định ngày nay.
Một bản ghi chép của viên thông ngôn người Trung Quốc từng đến Viyaya vào khoảng năm 1413 mô tả rằng.
Cách kinh đô chừng 100 dặm về phía đông bắc là hải cảng Tân Châu Cảng.
Vên bờ dựng một ngọn tháp đá làm cột bốc cho tàu thuyền.
Thương thuyền từ khắp nơi hội thủ tại đây để neo đầu và lên bờ.
Nơi này còn có một pháo đài mà người ngoại quốc gọi là Thùy Thị Nại tức Thành Thị Nại.
Khu vực này thực chất là một đầm phá rộng lớn với diện tích gần 5000 hectare mặt nước.
Vùng đồng băng phía tây được bồi đáp như phu sa của sông Côn và sông Hà Thanh qua nhiều thế kỷ.
Ở phía đông, bán đảo phương mai với các dãy núi kéo dài tạo thành bức bình phong tự nhiên trẻ trán gió bão.
Trong khi phía nam mở lối trực tiếp ra biển đông.
Quan trọng hơn, vị trí này nằm ngay trên con đường tơ lộ trên biển kết nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Ở giai đoạn sớm trước thế kỷ thứ 10, Thị Nại chủ yếu giữ vai trò là một cảng khu vực phục vụ tiểu quốc Vì Dài Á.
Tuy nhiên bước sang đầu thế kỷ 11, khi trung tâm quyền lực của Champa chuyển về đây, Thị Nại nhanh chóng vươn lên đảm nhận vị trí càng biển quan trọng nhất.
Bên trong khu độ thị tồn tại Tháp Bình Lâm, một công trình kiến trúc mang phong cách chuyển tiếp từ Mỹ Sơn Á 1 Bình Định.
Việc xây dựng tháp tôn giáo quy mô lớn đòi hỏi nguồn lực kinh tế mạnh, phản ánh sự giàu có của hoạt động thương mại.
Nguồn thu từ buôn bán về Ấn Độ, Trung Quốc, Đại Việt cùng các khu vực lên cận đã tạo điều kiện cho tầng lớp cầm quyền đầu tư vào kiến trúc.
Nhiều khả năng các thư nhân trước khi ra khơi đã đến Tháp Bình Lâm để cầu nguyện cho hành trình an toàn trên đại dương.
Thống quá Thị Nại cùng nhiều cảng khác như Chiêm Thạnh, Champa đã trở thành một đầu mối thương mại liên vụng.
Những vùng quốc ven biển này bán gì cho thế giới bên ngoài?
Câu trả lời nằm ở Trầm Hương, từ gỗ quý hiếm được xem như vàng đèn từ bấy giờ.
Ngày Trăm đã xây dựng một cấu trúc kinh tế thông minh, đóng vai trò là nhà điều khối thương mại độc quyền.
Họ thu gom Trầm Hương cùng ngà vòi, sừng tê từ các bộ tộc trên giãi Trường Sơn,
sau đó vận chuyển dọc theo những con sông lớn đổ về cảng thị ven để bán cho thư nhân nước ngoài.
Trầm Hương Trăm Ba được coi là loại tốt nhất thế giới, được giới quý tộc yêu thích.
Nó không chỉ là dược liệu hay nước khoa, mà còn là linh hồn của các nghị lễ tôn giáo.
Sự giàu có từ Trầm Hương cho phép vương chiều Trăm Ba rát vàng bạc lên đỉnh nhiều tòa tháp cổ.
Do vậy, thế kỷ hoang kim của Trăm Ba cũng không thể kéo dải mãi mãi.
Vương quốc này chưa bao giờ hoàn toàn thống nhất,
nên chính trị phân mạnh giúp từng vùng có điều kiện phát triển lợi thế riêng, cũng khiến họ dần dời và trừa rẽ.
Theo truyền thuyết, tầng lớp vương tôn cai trị Trăm Ba đều bắt nguồn từ hai dòng họ lớn.
Mỗi nhánh lựa chọn một vật tổ riêng để khẳng định nguồn gốc và tình trình danh.
Nhóm phía Nam gắn liền với hình tượng cây cao, vì vậy giới nghiên cứu thường gọi họ là thị tộc cao.
Còn nhóm phía Bắc lại sử dụng cây dừa làm biểu trưng, nên được biết đến giới tên thị tộc dừa.
Chỉ những người thuộc hai dòng dõi này mới có quyền kế vị ngai vàng,
đồng nghĩa phải nằm trong đẳng cấp 3 Lam Môn hoặc sát đế lĩ.
Kẻ ngoài hoang tộc, dù xuất trúng hay can trường, cũng khó bước lên vị trí tối cao nếu không chứng minh được huyết thống.
Tuy nhiên, trong lịch sử Trăm Ba vẫn xuất hiện một số trường hợp ngoài lệ hiếm hòi.
Những nhân vật không thuộc tầng lớp quý tộc thường phải viện dẫn yếu tố thần linh hoặc chính danh siêu nhiên để hợp tức hóa quyền lực.
Tiêu biểu như Phạm Văn, vốn là người tràn dè gốc họa,
hay Liêu Kỳ Tông, một người Việt từng mưu cầu ngai vị nhưng không được dân chúng thừa nhận.
Thi tộc Dừa chịu ảnh hưởng Ấn Độ đến muộn nhưng lại sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa.
Trái lại, thi tộc Cao tự xem mình là dòng vương tôn chính thống và duy trì đức tin Bà Lam Môn giáo một cách nghiêm ngạc hơn.
Bầu thuẫn giữa hai bên dân Cao khi phe Cao thường tỏ thái độ kinh miệt đối phương, xem họ như tầng lớp kém thuẩn khiết.
Chính định kiến ấy khiến mối liên kết giữa hai vùng lãnh thổ luôn trong trạng thái mong manh và thiếu biển vững.
Sự chê rẽ kéo dài đã trực tiếp làm suy yếu năng lực chống lại các thiên lực bên ngoài.
Khi một trung tâm quyền lực như Visaya bị tấn công, các tiều quốc phía Nam thường phản ứng chậm chẳng,
thậm chí đứng ngoài, gọi đó là vấn đề không liên quan đến mình.
Tình trạng xung đột nội bộ liên tục giữa hai phe khiến không biết nào chịu nhượng bộ đối phương.
Nhiều giai đoạn hốt loạn kéo dài, đền hình như thời kỳ 1129-1139,
đã tiêu hào nghiêm trọng nguồn lực và nhân lực của toàn vượt quốc.
Cảnh binh đao triền miên cùng với chính sách thuế khóa ngày càng nặng nề,
dần đến sự phản đối của quân chúng làm suy yếu nền tảng 60.3.
Trong khi đó, đối thủ lớn nhất của họ là Đại Việt thì ngày càng mở rộng ảnh hưởng.
Suốt nhiều thế kỷ, biên giới giữa hai bên luôn biến động,
với núi Đồng Trụ và sau này là sông Lam Nghệ An làm danh giới mỏng mảnh.
Với quốc Trạm Pa tận dụng sự suy yếu của các triều đại phía Bắc để mở rộng lãnh thổ.
Ngược lại, chính quyền Đại Việt luôn nỗ lực đẩy lùi đối phương về phía nam sông Lam để bảo đảm an ninh biên thủy.
Bước ngoạt thực sự đến vào năm 1981, sau nhiều lần bị Trạm Pa quẩy nhiễu,
Lê Hoàn lần đầu tiên thân trinh cầm quyền đi trinh phạt.
Kết quả là Trạm Pa bắt đầu rơi vào thế yếu, dân trở thành một tiểu quốc triều cống.
Đến thế trần, mối quan hệ có lúc nóng ấm qua cuộc khôn nhân của công chúa Huyền Trân
giúp Đại Việt mở rộng thêm Châu Âu và Châu Lý, thuộc khu vực từ phía nam tỉnh Quảng Trị
đến phía bắc tỉnh Quảng Nam.
Tuy nhiên, sự giao thoa này lại đặt ra một thách thức mới về quản lý hành chính và di dân với Trạm Pa.
Người Việt bắt đầu vượt đèo Hải Vân, tiến vào vùng đất biên giới.
Không thể chấp nhận tình cảnh đến nước suy yếu.
Cuối thế kỷ 14, dưới sự lãnh đạo của vua chế Bổng Nga, Trạm Pa đã tạo nên một kỳ tích lịch sử.
Tận dụng sự suy yếu của nhà Trần, ông thực hiện nhiều cuộc viễn trình giả bắp.
Trong đó có 3 lần đánh chiếm Thành Thăng Long khiến quân dân Đại Việt khiếp sợ.
Thế nhưng, vào năm 1390, tức cuộc tấn công lần thứ 4, khi đang điều khiển chiến thuyền trên sông Hải Triều, chế Bổng Nga đã trúng hỏa tiễn và tử trận.
Việc mất đi người thủ lũng kiệt xuất ngay trên xa trường đã khiến quân đội Trạm Pa phải rút chạy về nước.
Sau khi chế Bổng Nga mất, một vị tướng đã xóa người vùa, dẫn đến sự trì dạy sâu sắc trong nội bộ hoàng tộc.
Hai vị hoàng tử, thậm chí vì sợ bị ám hại, đã phải chạy sang Đại Việt xin tỉ nạn.
Đến năm 1470, sau khi đất nước đã đi vào ổn định, vua Lê Thánh Tông quyết định siết chặt vùng Hóa Châu ở phương Nam.
Khu vực này vốn là chiêm động và cổ lũy.
Hai vùng từng được vua Trạm Pa đích lại, nhượng lại cho nhà hồ từ năm 1402.
Từ đó trở đi, nơi đây luôn là điểm nóng trành chấp.
Tháng 8 năm 1471, thành sự vụ phát dữ rồi.
Bàn La Trà Toàn dẫn hơn 10 vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp Hóa Châu nhằm giành lại lãnh thổ Đà Mắt.
Để đáp trả, Đại Việt quyết định chiêm phạt bằng một đoàn quyết định.
Lê Thánh Tông thân hành soạn bình chiềm sách, rồi cho phiền ra chữ Nôm để phổ biến rộng rãi trong quần ngũ.
Mọi khâu chuẩn bị được tiến hành chặt chẽ.
Từ tổ chức binh lực đến điều động hậu cần đều đạt mức hoàn chỉnh hiếm thấy.
Ngày mông 7 tháng 2, Đại quân xuất phát.
Hơn 1.000 chiến thuyền trợ lực lượng tinh nhuệ tiến ra biển.
Đội hình tiến qua các cửa tần ấp và cựu tỏa.
Hàm đội hướng thẳng vào Thị Nải, cửa ngõ quan trọng của Trạm Pa.
Chiến dịch chuyển nhanh sang Thế Cầu Ngáp Đảo.
Các tuyến phong thủ lần lượt bị xuyên thủng trong sự ghép liên tục.
Kinh đô Chao Ban rơi vào vòng quay.
Với cốt Trạm Pa bị bắt của Hoàng Tộc.
Hàng vạn binh lính trở thành tù binh.
Đây không chỉ là một chiến thắng quân sự.
Đó là bước ngoặt quyết định số phận Trạm Pa.
Bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa được khôi phục.
Lãnh phố Đại Việt mở rộng tới vùng Vi Aya, tương ứng bình định ngày nay.
Những cuộc tập kích ven biển chấm dứt.
Tháng 6 năm 1471, bộ máy hành chính được thiết lập.
Thừa tuyên Quảng Nam ra đời như đơn vị thứ 13 của Đại Việt.
Đến năm 1832, mọi nỗ lực duy trì quyền tự trị cuối cùng của họ kết thúc dưới thời vô mình mạng.
Sau đó, cư dân Trạm Pa bước vào một thế kỷ lưu lạc kéo dài suốt nhiều thế kỷ.
Một bộ phận trong số họ chọn rời quê hương để chạy sang Campuchia, Malaysia hay Indonesia.
Nhiều nhóm khác vướt biển tới đảo Hải Nam và vùng phía Nam Trung Hoa.
Còn tại nước ta, thức tính vẫn còn khoảng 180.000 dân tộc Trạm.
Chủ yếu tập trung tại Ninh Thuận, Bình Thuận và khu vực Nam Bộ.
Vượt quốc Trạm Pa có thể đã lùi vào dĩ vãng sau những biến động khắc nghiệt của lịch sử.
Nhưng những gì họ để lại chưa bao giờ thực sự biến mất.
Dấu vết của một nền văn minh biển vẫn còn hiện hữu trong từng tòa tháp gạch đỏ rực,
trong điệu mũi uyển chuyển của người Trạm,
trong tiếng trống ghi năng
và cả trong những lớp trầm tích văn hóa âm thầm hòa vào đời sống hiện đại.
Trạm Pa, một đời chế hùng mạnh,
mãi là một phần rực rỡ, bí ẩn và đầy kiêu hãnh của dòng chảy lịch sử Việt Nam và Đông Nam.
Trạm Pa