Lịch Sử Việt Nam: Tại Sao Chăm Pa - Nền Văn Minh Rực Rỡ 1700 Năm Lại Biến Mất Hoàn Toàn?

Đình Sự
535 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIVideo này trình bày chi tiết về lịch sử vương quốc Champa và quá trình Nam Tiến của Đại Việt. Từ những xung đột quân sự thời nhà Lý, nhà Trần đến các cuộc chinh phạt của nhà Lê và Chúa Nguyễn, nội dung làm rõ sự chuyển biến từ một liên minh tiểu quốc rực rỡ thành một phần lãnh thổ Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh những di sản văn hóa còn lưu giữ.
Dọc theo dài đất miền trung Việt Nam ngày nay, nơi những tháp gạch cổ kính,
rêu phòng vẫn lặng lẽ đứng giữa nắng gió,
từng tồn tại một vương quốc khủng mạnh và huyền bí, kéo dài suốt hơn 1.000 năm lịch sử.
Đó chính là vương quốc Champa, một nền văn minh rực rỡ,
chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Ấn Độ với tín ngưỡng thật thần Shiva.
Những đền tháp nguy Nga và một hạm đồi thương thuyền từng làm mưa làm gió trên khắp vùng biển Đông Nam Á.
Nhưng cũng chính dài đất hẹp,
và dài này lại nằm ngay sát cạnh một quốc gia láng giềng phía Bắc,
đang không ngừng lớn mạnh.
Đó là Đại Việt.
Trong suốt gần 1.000 năm,
hai nền văn minh này đã trải qua một mối quan hệ đầy phức tạp,
lúc hoài hiếu giao thương, lúc lại bình đào khói lửa,
để rồi cuối cùng dẫn đến một quá trình lịch sử vừa bi tráng, vừa tất yếu mà hậu thể vẫn quen gọi
là Công cuộc Nam Tiến, nơi Đại Việt dần dần thôn tính,
và sáp nhập toàn bộ lãnh thổ Champa vào bản đồ của mình.
Trước khi đi sâu vào diễn biến của cuộc xung đột kéo dài cả thiên niên kỷ,
chúng ta cần dừng lại một chút để hiểu rõ hơn về bản chất
và đặc trưng của nền văn minh Champa cổ đại.
Khác hẳn với người Việt, vốn theo mô hình nhà nước tập quyền,
chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa nhò giáo Trung Hoa,
vương quốc Champa lại được tổ chức theo mô hình các tiểu vương quốc liên minh lỏng lèo,
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn minh Ấn Độ Giáo.
Người trăm tôn thờ vị thần Shiva là đứng tối cao,
xây dựng nền hàng trăm ngôi đền tháp,
bằng gạch nung đỏ với kỹ thuật xây dựng độc đáo,
mà cho đến ngày nay, các nhà khoa học vẫn chưa thể lý giải hết
được bí ẩn với chất kết dính giữa các viên gạch.
Nền kinh tế của Champa giờ chủ yếu vào hoạt động hàng hải,
với các thương càng sầm uốt, tấp nập thuyền buôn từ khắp nơi trên thế giới,
bao gồm cả các thương nhân Ả Rập, Bà Tư, Trung Hoa và Java
tìm đến để trao đổi các mặt hàng quý giá như trầm hường, nà voi,
và đặc biệt là các loại gia vị quỳ hiếng.
Về mặt tổ chức chính trị,
Vương quốc Champa trong suốt lịch sử của mình
chưa bao giờ thực sự trở thành một quốc gia thống nhất theo đúng nghĩa,
mà luôn tồn tại dưới dạng liên minh của nhiều tiểu quốc khác nhau,
trải dài từ khu vực Quảng Bình cho đến tận Bình Thuận ngày nay,
bao gồm các địa danh nổi tiếng như Indrapura ở phía Bắc,
Amaravati ở khu vực Quảng Nam,
Vijaya tại Bình Định,
Kuthara ở Khánh Hòa
và Panduranga ở cực Nam thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận.
Mỗi tiểu quốc này thường có một dòng dõi vương tộc riêng
và chỉ liên kết lỏng lẻo với nhau
thông qua mối quan hệ tông giáo và huyết thống,
chứ không có một bộ máy hành trình trung ương thống nhất
và chặt chẽ như mô hình nhà nước quân chủ tập quyền
mà người Việt đã xây dựng ở phương Bắc
trên cầu trúc chính trị phân tán
và thiếu sự thống nhất bền vững này.
Về sao đã trở thành một trong những nguyên nhân sâu xa
khiến Champa gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức kháng cự lâu dài
Để hiểu được cội nguồn của cuộc xung đột kéo dài cả thiên ninh kỳ này,
chúng ta cần quay ngược thời gian về những thế kỷ đầu công nguyên
khi vương quốc lầm ấp,
tiền thân của Champa được hình thành tại khu vực Trung Bộ Việt Nam ngày nay.
Với vị trí địa lý là một giải đất hẹp
bị kẹp giữa dãy Trường Sơn hiểm trở và biển đông mênh mông,
người Champa đã phát triển một nền kinh tế dựa chủ yếu vào thương mại hàng hải
và các cuộc cướp phá bằng đường biển.
Họ xây dựng nên nhiều tiểu vương quốc giải giác
từ Indrapura ở phía Bắc cho đến Panduranga ở phía Nam,
mà trong đó Vicha.
Tức đồ bàn hay trà bàn thuộc bình định ngày nay
thường đóng vai trò là kinh đồ quan trọng nhất trong nhiều thế kỷ.
Nền văn linh Champa đã để lại cho nhân loại
những công trình kiến trúc tôn giáo tuyệt mỹ như Thánh điệm Mỹ Sơn,
nơi được xem là trung tâm tôn giáo linh thiêng bậc nhất của vương quốc trong hàng trăm năm.
Mối quan hệ giữa Champa và các chiều đại phương Bắc của người Việt
bắt đầu trở nên căng thẳng ngay từ khi Đại Việt vừa giành được độc lập tự chủ
sau hơn một ngàn năm bị phương Bắc đổ hộ.
Vào năm 982, dưới thể vua Lê Đại Hành, tức Lê Hoàng của nhà tiên Lê,
sau khi xứ giả Đại Việt bị vua Triềm Thành giữ một cách vô cớ và ngạo mạn,
nhà vua đã đích thân cầm quân Nam Chính.
Cuộc trinh phạt này tuy diễn ra tương đối ngắn ngủi,
nhưng đã đạt được thắng lợi vang rội, quân Đại Việt tiến thẳng vào kinh đồ Indrapura,
chém chết vua Triềm ngay tại trận tiền
và cướp về rất nhiều vàng bạc trầu báu cùng các nhà công và vũ nữ cung địch.
Đây được xem là cuộc đùng độ quân sự quy mô lớn đầu tiên,
đặt nền móng cho mối quan hệ đầy sóng gió giữa hai quốc gia trong nhiều thế kỷ tiếp theo,
và cũng là lần đầu tiên người Việt thể hiện rõ tham vọng mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
Sự kiện năm 982, tùy mang tính chất trừng phạt nhất thời hơn,
là một chiến dịch xâm chiếm lãnh thổ có tính toán lâu dài,
nhưng nó đã gieo vào tâm thức của cả hai dân tộc một tiền lệ quan trọng.
Đối với triều đình Đại Việt non trẻ vừa mới lập quốc,
chiến thắng này giúp khẳng định sức mạnh quân sự và uy thế chính trị của một quốc gia độc lập,
không còn phải khiếp sợ trước bất kỳ thế lực láng giềng nào,
kể cả những vương quốc từng có truyền thống hàng hải và quân sự đáng gờm như Champa.
Còn đối với phía Chiêm Thành,
sự kiện kinh đô Indrapura thất thủ và bị tàn phá cũng buộc họ phải suy nghĩ lại về chiến lược đối ngoại của mình,
dần chuyển trọng tâm chính trị và tôn giáo về phía Nam,
đến khu vực Vijaya an toàn hơn,
Bước sang thời nhà Lý, mối quan hệ giữa hai nước tiếp tục chứng kiến nhiều biến động dữ dội hơn nữa.
Nhà Lý, với nền tảng chính trị vững chắc và quân đội hùng mạnh,
đã nhiều lần đưa quân Nam Trinh nhằm giăn đe những cuộc quấy nhũ biên giới của người Champa.
Định điểm của giai đoạn này là cuộc trinh phạt lịch sử vào năm 1069,
dưới chiều vua Lý Thánh Tổng.
Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ việc Chiêm Thành nhiều lần trái lệnh Triều Cống,
lại còn liên kết với nhà Tống ở phương Bắc nhằm gây sức ép lên Đại Việt.
Vào đúng thời điểm, nhà Lý đang phải tập trung lực lượng đối phó với nguy cơ xâm lược từ phương Bắc,
khiến cho mối đe dọa kép này trở nên vô cùng nguy hiểm đối với sức an nguy của quốc gia.
Vua Lý Thánh Tổng đã đích thân Thổng lĩnh Đại quân,
cùng với sức phò tá của Thái Uy Lý Thượng Kiệt,
một danh tướng lỗi lạc bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.
Khiến đánh Chiêm Thành,
cuộc hành quân của Lý Thánh Tổng diễn ra với khí thế mạnh mẽ,
tiến theo cả đường bộ lẫn đường Việt.
Quân Đại Việt đã đánh bại quân đội Chiêm Thành trong nhiều trận huyết chiến ác liệt,
cuối cùng tiến chiếm được kinh Đô Vi Trà.
Tương truyền rằng, trong lúc chiến sự đang ràng cò ác liệt và có dấu hiệu bất lợi,
vua Lý Thánh Tổng từng có ý định rút quân trở về.
Nhưng nhờ sự động viên khích lệ của các cường lĩnh dưới trướng,
đặc biệt là quyết tâm sát đá của Lý Thượng Kiệt,
nhà vua mới quyết định tiếp tục chiến dịch,
và cuối cùng đã giành được thắng lợi vẻ và ngoài mong đợi.
Trong lúc thế trận đang diễn biến vô cùng phức tạp và có nguy cơ xa lầy,
vua Chiêm Thành lúc bấy giờ là chế củ đã phải bỏ trốn khỏi kinh thành,
nhưng cuối cùng vẫn bị quân Đại Việt do Lý Thượng Kiệt chỉ huy bắt sống được.
Đứng trước nguy cơ mất nước hoàn toàn, chế củ buộc phải chấp nhận một điều kiện vô cùng nặng nề,
đó là dân nộp ba châu phía bắc của Chiêm Thành,
bao gồm châu Địa Lý, châu Ma Linh và châu Bố Chính,
tương ứng với khu vực tỉnh Quảng Bình và một phần Quảng Trị ngày nay,
để đổi lấy tự do và mạng sống của mình.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lãnh thổ Đại Việt được mở rộng đáng kể về phía Nam,
thông qua một hiệp ước chính thức, đánh dấu bước ngoặt quan trọng đầu tiên trong tiến chỉnh Nam,
tiến kéo dài nhiều thế kỷ sau này của dân tộc Việt Nam.
Sau sự kiện chấn động ấy, mối quan hệ giữa hai nước bước vào một giai đoạn tương đối ổn định hơn,
tuy thỉnh thoảng vẫn xảy ra những cuộc chiến tranh biên giới nhỏ lẻ.
Nhà Lý tiếp tục chính sách vừa cứng rắn về quân sự, vừa mềm dẻo về ngoại giao,
nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài ở vùng binh cương phía Nam,
thường xuyên cho tổ chức các đoàn xứ giả qua lại trao được công phẩm,
đồng thời cũng không ngần ngại xuất binh trấn áp mỗi khi phía Chiêm Thành có dấu hiệu trở mặt
hoặc chậm chẽ chiều cống theo lệ định.
Trong khi đó, vương quốc Champa cũng dần thích nghi với thực tế mất đi phần lãnh thổ phía Bắc,
chuyển trọng tâm phát triển kinh tế và quân sự vào khu vực trung tâm quanh Villa, nơi có địa thấy hiểm trở hơn,
với núi non bao bọc và cờ biển thi nại thuận lợi cho việc phòng thủ,
cũng như phát triển hoạt động hàng hải thương mại.
Ba châu đất mới sắp nhập là địa Lý, Ma Linh và Bố Chính,
ban đầu vẫn còn tương đối hoang vu, thưa thất dân cư,
do phần lớn người Champa bản địa đã di cư về phía Nam để tránh sự cai trị của người Việt.
Triều đình nhà Lý đã phải mất nhiều thập kỷ để từng bước ổn định và phát triển vùng đất mới này,
thông qua chính sách khuyến khích di dân, miễn giảm thuế khóa cho những hộ dân tình nguyện vào khai khẩn,
đồng thời cho xây dựng các cơ sở hạ tầng như đường xá, đồn lũy,
nhằm củng cố vững chắc chủ quyền lãnh thổ trước nguy cơ bị chiêm thanh tìm cách chiếm lại.
Bước sang thời nhà Trần, quan hệ hai nước bắt đầu bằng một giai đoạn khá hòa hảo,
với nhiều cuộc trao đổi xứ thần và giao thương muôn bán.
Nhưng bên dưới bề mặt yên bình ấy vẫn luôn tiềm mẩn những mẩm mống xung đột chưa được giải quyết trên đề.
Đặc biệt là khi quân Mông Nguyên hùng mạnh nhiều lần tràn xuống xâm lực cả hai nước,
Bục Đại Việt và Chiêm Thanh trong một số thời điểm phải tạm gác lại Thù Hàn
để cùng nhau đối phó với kẻ thù chung đến từ phương Bắc.
Một trong những sự kiện lãng mạn nhưng cũng đầy toan tính chính trị nhất trong lịch sử quan hệ Việt-Chiêm
chính là cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân của Đại Việt và vua Champa là Chế Mân diễn ra vào năm 1306.
Vua Trần Nhân Tông sau khi đã nhường ngồi cho con và xuất ra tù hành
trong một lần ru ngọa đến Chiêm Thành đã được vua Chế Mân tiếp đón vô cùng nồng hậu và trong không khí thần tình ấy.
Nhà vua đã hứa gả con gái mình là công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân
nhằm thắt chặt quan hệ băng giao giữa hai nước vốn đã trải qua nhiều thế kỷ xung đột.
Lời hứa này ban đầu đã vấp phải sự phản đối kịch liệt từ nhiều đại thần trong triều đình Đại Việt.
Bởi lẽ hôn nhân giữa một công chúa cành vàng lá ngọc với một vị vua ngoại quốc theo tín ngưỡng khác biệt
là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử triều đình.
Tuy nhiên, vì đại cục và lợi ích lâu dài của quốc gia,
vua Trần Anh Tông cuối cùng vẫn quyết định thực hiện lời hứa của vua cha.
Để đón được công chúa về làm hoàng hậu,
Chế Mân đã chấp thuận dâng tặng cho Đại Việt hai châu Âu và châu Lý.
Tương ứng với khu vực Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay như một sính lễ cưới vô cùng hậu hính.
Đây để xem là một bước tiến quan trọng khác trong công cuộc mở rộng lãnh thổ về phương Nam của Đại Việt.
Được thực hiện không phải bằng gươm ráo mà bằng con đường hôn nhân chính trị khéo léo.
Sau khi tiếp nhận hai châu đất mới,
vua Trần Anh Tông đã cho đổi tên thành Châu Thuận và Châu Hóa,
đồng thời tổ chức việc di dân từ các vùng đồng bằng phía Bắc vào khai khẩn định cư,
xây dựng nên nền tảng ban đầu cho vùng đất Thuận Hóa sau này.
Vốn sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam
ở những thế kỷ tiếp theo khi trở thành kinh đô của Triều Nguyễn.
Tuy nhiên, cuộc hôn nhân định mệnh này lại không kéo dài được lâu.
Chỉ một năm sau khi thành hôn, vua Chế Mân đột ngồi qua đời,
khiến triều đình Đại Việt vô cùng lo lắng cho số phận của công chúa Huyền Trân
bởi theo phong tục hỏa táng của người trầm lúc bấy giờ.
Hoàng hậu sẽ phải lên gian hỏa thiêu để tuẫn táng theo chồng,
một tập tục vô cùng khắc nghiệt và xa lạ đối với văn hóa Đại Việt.
Vua Trần Anh Tông đã phải cử tướng Trần Khắc Trung sang Chiêm Thành với danh như Viễn Tàng,
nhưng thực chất là để tìm cách giải cứu công chúa khỏi số phận bi thảm này.
Bằng một kế sách vô cùng khéo léo,
giả vờ xin phép được tổ chức nghị lễ treo thuyền ra biển
làm lễ chiêu hồn theo phong tục Đại Việt trước khi hỏa táng.
Trần Khắc Trung đã thành công đưa được công chúa Huyền Trân lên thuyền vượt biển trở về Đại Việt an toàn.
Sau một hành trình kéo dài nhiều tháng trời đầy gian nan trên biển,
sự kiện này khiến quan hệ hai nước một lần nữa trở nên căng thẳng
và việc sở hữu hai châu Âu Lý cũng trở thành một điểm nóng tranh chấp ở Mỹ trong nhiều năm sau đó.
Khi phía Chiêm Thành nhiều lần tìm cách đòi lại phần lãnh thổ
đã mất thông qua các cuộc tấn công quân sự nhỏ lẻ dọc biên giới.
Câu chuyện về công chúa Huyền Trân sau này
đã trở thành một trong những giai thoại lịch sử được truyền tụng rộng rãi nhất trong dân dàn Việt Nam.
Thể hiện sự hy sinh thầm lạng của một người phụ nữ vì lợi ích chung của quốc gia dân tộc,
đồng thời cũng phản ánh một phương thức mở rộng lãnh thổ đầy tính nhân văn
nhưng cũng không kém phần đau xót trong lịch sử bang giao giữa hai dân tộc.
Nếu như giai đoạn trước đó chứng kiến ưu thế gần như tuyệt đối nghiêng về phía Đại Việt
thì đến cuối thế kỷ 14,
cục diện đã hoàn toàn đảo ngược
nhờ sự xuất hiện của một vị vua kiệt xuất bên phía Chiêm Thành
đó chính là Chế Bồng Nga,
được sự sách Đại Việt mô tả với đầy sự khiếp sợ và nề phục.
Trong bối cảnh nhà Trần đang bước vào giai đoạn suy vong
với nội bộ triều đình lục đục, quyền thân lộng hành và quân đội suy yếu nghiêm trọng,
Chế Bồng Nga đã nắm bắt thời cơ vàng
Chế Bồng Nga không chỉ đơn thuần
là quấy phá biên giới như các đời vua trước,
mà ông đã tổ chức những đội quân thủy bộ tinh nhệ tiến sâu
vào tận trung tâm lãnh thổ Đại Việt.
Đáng kinh ngạc hơn cả,
trong khoảng thời gian từ năm 1371 cho đến năm 1390,
quân đội của Chế Bồng Nga đã nhiều lần tiến đánh
và chiếm được Kinh Thành thẳng lòng,
khiến vua quan nhà Trần phải nhiều phen bỏ chạy tán loạn.
Cứ mỗi lần đại quân Chiêm Thành tràn đến,
Kinh Thành lại chìm trong biển lửa,
cung điện bị đốt phá,
cuộc cải bị cướp bóc sạch sẽ,
dân chúng khiếp sợ chạy nạn khắp nơi.
Sức mạnh quân sự của Chế Bồng Nga
trong giai đoạn này mạnh đến mức.
Nhiều sự ra sau này
đã ví ông như một cơn ác mộng thực sự
đối với vương triều nhà Trần đang trên đá suy tàn.
Ngay trong lần đầu tiên vào năm 1371,
ham đội chiến thuyền của Chế Bồng Nga
đã theo đường sông tiến thẳng vào Thăng Long,
trong khi triều đình nhà Trần hoàn toàn bị động,
không kịp trở tay.
Vua Trần Rợi Tông buộc phải cùng hoang tộc bỏ chạy khỏi Kinh Thành,
để lại toàn bộ cung điện lầu son gác tía
cho quân Chiêm Thành mặc sức đốt phá,
cướp bóc trong nhiều ngày lên.
Đến năm 1377,
triều đình nhà Trần quyết định
tổ chức một cuộc nam trình quy mô lớn
nhằm trả đũa.
Đích thân vua Trần Rợi Tông
thống lĩnh đại quân tiên
đánh kinh Đồ Vi Gia của Chiêm Thành.
Tuy nhiên, đây lại là một quyết định sai lầm nghiêm trọng
khi chế Bồng Nga đã khôn khéo dùng kế nghi bình,
giả vơ bỏ thành rút lui,
như quân Đại Việt và một trận địa mai phục
được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước.
Kết quả là quân Đại Việt bị đánh cho tàn tác.
Chính vua Trần Rợi Tông
cũng tử trận ngay tại chiến trường.
Đây là một trong những thất bại quân sự nặng nề
và nhục nhã nhất trong toàn bộ lịch sử
các cuộc trình phạt phương Nam của người Việt.
Sau chiến thắng vang dội này,
thanh thế của chế Bồng Nga
càng lên cao trước từng có.
Ông tiếp tục tổ chức thêm nhiều đợt tấn công khác
vào các năm 1379,
1382 và 1383.
Liên tục làm cho Thăng Long
một lần nữa rơi vào tay quân Chiêm Thành,
khiến cho cả Triều Đình Nhà Trần
rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng.
Gần như bất lực hoàn toàn
trước sức tấn công nhiều vũ báo của đối phương.
Trên sức ép quân sự khủng khiếp từ phương Nam,
Triều Đình Nhà Trần
đã nhiều lần cử sứ giả sang cầu hoa,
thậm chí phải nhượng bộ nhiều điều kiện nặng nề.
Nhưng chế Bồng Nga
vẫn không ngừng các cuộc tấn công của mình.
Nhà Trần cũng đã cố gắng tổ chức nhiều cuộc phản công
nhằm chặn đứng đà tiến quân của Chiêm Thành.
Nhưng hầu hết đều thất bại thảm hại
trước tài dụng binh xuất quỷ nhập thần
của vị vua Trăm này.
Có những giai đoạn
cả vùng đồng băng sông Hồng
chìm trong không khí hoảng loạn.
Khi tin tức về đại quân Chiêm Thành
đang tiến đến ngày càng rôn rập,
khiến Hoàng gia Nhà Trần
phải nhiều lần di tản đi lánh nạn
ở những vùng đất xa xôi héo lánh.
Vận mệnh của cuộc chiến tranh kéo dài này
cuối cùng đã thay đổi
một cách đầy kịch tính vào năm 1390.
Trong một trận thủy chiến quyết định
trên sông Hải Triều,
nay thuộc khu vực Hương Yên,
khi chế Bồng Nga đang thân trinh
chỉ huy hạm đội của mình tìm đánh Đại Việt.
Một viên tướng nhỏ dưới quyền ông
là Ba Lậu Kê
vì bất mãn đã bí mật đầu hàng
và tiết lộ vị trí chính xác của thuyền chỉ huy
cho tướng Nhà Trần là Trần Khát Trần.
Nhờ có thông tin quý giá này,
quân Đại Việt đã tập trung toàn bộ hỏa lực pháo binh
nhắm thẳng vào chiến thuyền của chế Bồng Nga,
khiến vị vua kiệt suất này
trúng đạn từ trận ngay tại chỗ.
Cái chế độc ngột của chế Bồng Nga
đã gây ra một cú sốc cực lớn
đối với toàn bộ quân đội chiêm thành.
Không còn ghi chủ tướng tại ba lãnh đạo,
quân đội chiêm thành nhanh chóng rơi vào cảnh hỗn loạn
và tan rã hoàn toàn,
phải rút chạy về nước trong sự hoảng loạn tốt độ.
Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng,
Kể từ đây, thế và lực của chiêm thành suy yếu nghiêm trọng
không bao giờ còn có thể phục hồi lại
được sức mạnh quân sự đáng gờm
như giới thời chế Bồng Nga nữa.
Trong khi đó, Đại Việt,
dù cũng chịu nhiều tổn thất nặng nể,
nhưng đã kịp thời rút ra được bài học quý giá
về sự cần thiết phải củng cấu sức mạnh quân sự
để bảo vệ vững chắc vùng binh cường phía Nam.
Giai đoạn 20 năm cuối thế kỷ 14,
giới thời chế Bồng Nga,
vẫn thường được các nhà sử học xem
là một trường hợp đặc biệt và hiếm hòi
trong toàn bộ tiến trình quan hệ Việt-Chiêm
khi mà cán cân quyền lực tạm thời
nghiêng hẳn về phía chiêm thành.
Điều này có thấy rằng, kết quả cuối cùng
của cuộc đối đầu kéo dài cả thiên niên kỷ
giữa hai dân tộc không hề mạng tính
thất định ngay từ đầu,
mà phụ thuộc rất nhiều vào tài năng
của những nhà lãnh đạo cụ thể
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Nếu như nhà Trần khi đó không may mắn thoát khỏi
được đạt tấn công như vũ báo của chế Bồng Nga,
rất có thể cục diện lịch sử
của cả khu vực đã có thể rẽ
sang một hướng hoàn toàn khác.
Chính vì vậy, sau khi vượt qua được giai đoạn nguy hiểm này,
triều đình Đại Việt qua các thời kỳ
sau đó đều đặc biệt coi trọng
việc xây dựng một quân đội thường trực hùng mạnh,
có kỷ luật, cùng hệ thống phòng thủ
biên giới kiên cố tại khu vực Nghệ An
thanh hóa nhằm tránh lập lại thảm kịch
tương tự trong tương lai.
Sau khi nhà Trần suy vọng,
Hồ Quý Ly lên ám quyền và lập nên nhà Hồ
đã tiếp tục theo đuổi chính sách bành trứng
lãnh thổ về phía Nam,
với thái độ cứng rắn hơn hẳn so với các triều đại trước.
Lợi dụng lúc Triêm Thành đang suy yếu
sau cái chết của chế Bồng Nga,
Hồ Quý Ly đã liên tục gây sức ép
buộc triều đình Triêm Thành phải cắt nhựng thêm
nhiều phần đất đai, bao gồm vùng Triêm Động
và Cổ Lý, tương ứng với khu vực Quảng Nam
và Quảng Ngãi ngày nay.
Hồ Quý Ly cũng cho tổ chức
việc di dân quy mô lớn, đưa hàng
vạn hộ dân từ vùng đồng bằng Bắc Bộ vào khai khẩn
inh cư tại những vùng đất mới
nhằm củng cố vững chắc chủ quyền lãnh thổ,
đồng thời xây dựng các thành lũy phòng thủ
kiên cố dọc biên giới phía Nam.
Tuy nhiên, thật kỳ trị vị của nhà Hồ
chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn ngủi
trước khi bị quân minh xâm lược,
khiến công cuộc Nam tiến tạm thời
bị gián đoạn trong suốt 20 năm Bắc
thuộc lần thứ tư đầy đau thương của dân tộc
khi mà toàn bộ tâm sức của nhân dân Đại Việt
phải dồn vào cuộc đấu tranh
giành lại độc lập dân tộc.
Sau khi lê lời lãnh đạo của khởi nghĩa Lam Sơn
thành công, đánh đuổi quân minh,
giành lại độc lập và lập nên
nhà Lê Sơ vào năm 1428.
Vấn đề Chiêm Thành lại
một lần nữa trở thành mối quan tâm hàng đầu
của triều đình mới. Trong những năm đầu,
nhà Lê Sơ tập trung chủ yếu vào việc
ổn định tình hình nội bộ và khôi phục đất nước
sau chiến tranh. Nên quan hệ
với Chiêm Thành tương đối yên bình,
thậm chí hai bên còn nhiều lần trao đổi sứ thần
và cống phẩm theo lệ cũ.
Nhưng phía Chiêm Thành, dưới sự trị
vì có một vị vua hiếu chiến là Trà Toàn
lại liên tục có những hành động khêu khích
quấy như vùng biên giới phía Nam
thường xuyên cho quân vượt biên cướp bóc tài sản
bắt cóc dân chúng Đại Việt,
thậm chí còn cấu kết với nhà Minh ở phương Bắc
nhằm gây sức ép quân sự lên Đại Việt.
Đúng như những gì Chiêm Thành
từng làm trong quá khứ dưới thời chế Bồng Nga
khiến cho triều đình nhà Lê
không thể tiếp tục nhấn nhìn được nữa.
Đứng trước tình hình đó,
vị vua anh Minh và có tai thao lực quân
sự xuất trúng của nhà Lê Sơ
là Lê Thánh Tông đã quyết định phát động một cuộc trinh phạt
quy mô lớn chưa từng có
nhằm giải quyết rứt điểm mối đe dọa từ phương Nam.
Trước khi xuất quân,
Lê Thánh Tông đã cho chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng
và chủ đáo trong suốt nhiều năm trời.
Từ việc đóng mấy hàng trăm chiến thuyền,
huấn luyện bình sĩ theo những chiến thuật mới
cho đến việc tích chữ lương thảo,
vũ khí đầy đủ.
Nhà vua còn đích thân soạn thảo một bản hịch dài
với lời lẽ đánh thét,
liệt kế tội trang của trào toàn
nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ
đồng thời tạo dựng tính chính danh
cho cuộc trinh phạt trước triều thần và bách tính.
Vào năm 1471,
sau khi đã chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt
từ hậu cần, lương thảo cho đến
chiến thuật quân sự,
Lê Thánh Tông đã đích thân thống lĩnh
một đạo quân khổng lồ được sửa sách
ghi lại lên đến hơn 20 vạn người,
bao gồm cả thủy quân và bộ binh,
tiến thẳng về phía nam với quyết tâm sắp đá
phải tiêu diệt tận gốc mối họa Triêm Thành.
Cuộc trinh phạt của Lê Thánh Tông
được tổ chức một cách vô cùng bài bản
và khoa học, kết hợp nhuận nhuyễn
giữa tấn công đường thủy và đường bộ.
Quân đội Đại Việt đã liên tiếp đánh bại
các tuyến phòng thủ của Triêm Thành,
tiến sâu về phía nam
với tốc độ chóng mặt.
Tại nhiều địa điểm quan trọng như cửa biển Thị Nại,
quân Triêm Thành đã cố gắng tổ chức phòng ngư quyết liệt,
huy động hàng vạn quân
cùng nhiều thất voi chiến,
nhưng vẫn không thể ngăn cản được sức tấn công mạnh mẽ.
Và các tổ chức của quân đội Đại Việt
vừa đã được trang bị hỏa khí
và có kinh nghiệm giấy dạng từ cuộc kháng chiến
chống quân mình trước đó.
Sau nhiều trận giao tranh ác liệt,
quân Đại Việt đã tiến đến bao vây Kinh Đô Vi Da,
tức Đồ Bàn,
thành trì kiên cố bậc nhất của Triêm Thành.
Trận công thành Vi Da diễn ra vô cùng khốc liệt.
Với sự tranh lịch lực lượng quá lớn,
thành trì kiên cố được xây dựng qua nhiều thế hệ cuối cùng
cũng không thể chủ vững được.
Thành đã thất thủ sau nhiều ngày vây hãm và công phá liên tục.
Vua Trà Toàn của Triêm Thành bị bắt sống,
nhưng đã qua đời không lâu sau đó
trên đường bị áp giải về Đại Việt
vì quá đau buồn và nhục nhá.
Chiến thắng Vi Da năm 1471
được xem là dấu mốc quan trọng
và mang tính hủy diệt nhất.
Khác hẳn với những lần trước đây,
khi Đại Việt chỉ dừng lại ở việc buộc Triêm Thành
phải cắt đất Triều Cống,
lần này Lê Thánh Tông đã quyết định
sáp nhập toàn bộ vùng đất Vi Da
rộng lớn trực tiếp vào bản đồ Đại Việt,
lập thành Đạo Quảng Nam Thừa Tuyên.
Nhà vua còn cho tổ chức việc di dân
từ vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
và thanh nghệ vào khai khẩn ninh cư
tại vùng đất mới,
xây dựng làng xã theo mô hình hành chính của người Việt,
đồng thời cho lập bia đá khắt
ghi danh giới lãnh thổ mới
tại đèo Củ Mông,
nhằm khẳng định chủ quyền vĩnh viễn
đối với vùng đất vừa chiến được.
Đây là một bước ngoặt căn bản
khiến Vương quốc Trăm Ba
từ một cường quốc khu vực
với lãnh thổ rộng lớn trải dài
suốt giải đất miền Trung.
Bỗng chốc bị thu hẹp lại
chỉ còn là một giải đất nhỏ hẹp
ở khu vực cực Nam ngày nay,
tương ứng với vùng Phù Yên,
Khánh Hoa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Sử sách ghi nhận rằng
số lượng người chăm bị giết hại
hoặc bị bắt làm tù binh
trong chiến dịch này lên đến hàng vạn người.
Đây thực sự là một tổn thất vô cùng to lớn
mà Vương quốc Trăm Ba
gần như không bao giờ có thể phục hồi lại được.
Điều đáng chú ý là sau khi đại thắng,
Lê Thánh Tông không tiêu diệt
hoàn toàn Vương quốc Trăm Ba,
mà vẫn cho phép duy trì một tiểu vương quốc trư hầu
ở phần lãnh thổ còn lại phía Nam
với mục đích tạo ra một vùng điện chính trị,
đồng thời tránh gây ra phản ứng dữ dội
từ các nước lân bang trong khu vực
vốn đang theo dõi sát,
xảo diễn biến của cuộc chiến này.
Trên thực tế, đây cũng là một quyết định
mang tính thực dụng cao,
bởi lẽ việc cai quản trực tiếp
toàn bộ giải đất xa xôi hiểm
trở suốt từ Bình Định trở vào
là điều vô cùng khó khăn,
tốn kém về mặt hành chính lẫn quân sự
đối với Triều Đình Trung ương lúc bấy giờ,
vốn còn phải tập trung nguồn lực
cho nhiều công việc quan trọng khác của đất nước.
Tuy nhiên, trên thực tế,
tiểu vương quốc trư hầu này chỉ còn
mang tính hình thức,
hoàn toàn không còn đủ sức mạnh quân sự lẫn kinh tế
để có thể đe dọa trở lại Đại Việt như trước đây.
Từ đây bắt đầu một thời kỳ dài
và sự xét gọi là giai đoạn suy vong
không thể cứu vãn của nền văn minh Champa,
từng một thời huy hoàng rực rỡ.
Sau thảm họa năm 1471,
vương quốc Champa đã suy yếu đến mức
không còn khả năng tồn tại như một quốc gia thống nhất,
mà bị phân liệt thành nhiều tiểu quốc
nhỏ lẻ rơi rạc,
và hầu như hoàn toàn phải phụ thuộc vào Đại Việt
về mặt chính trị lẫn quân sự.
Trong suốt hơn 100 năm sau đó,
vương triều Champa chỉ còn tồn tại với tư cách
là một trư hầu nhỏ bé mờ nhạt
nắm co cụ ở khu vực
Quang Duranga phía Nam.
Người dân Champa dần dần phải chịu áp lực di cư
sang các vùng đất khác,
trong khi những vùng đất trù phú màu mỡ trước đây của họ
dần dần được người Việt từ phía Bắc di cư
vào khai khẩn định cư,
tạo nên một quá trình chuyển đổi dân cư
và văn hóa sâu rộng kéo dài
qua nhiều thế hệ.
Bước sang thế kỷ 16 và 17,
khi Đại Việt rơi vào tình trạng chia cắt Nam Bắc Triều,
rồi tiếp đến là cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn
kéo dài hàng trăm năm.
Chính quyền Chúa Nguyễn ở Đảng trọng đã tiếp tục
đẩy mạnh hơn nước công cuộc mở rộng lãnh thổ
về phía Nam, như một chiến lược sinh tồn
và phát triển thiết yếu trong bối cảnh
bị Chúa Trịnh chèn ép ở phía Bắc.
Các Chúa Nguyễn nhận thấy rằng,
việc tiến xuống phương Nam không chỉ giúp
mở rộng nguồn tài nguyên đất đầy màu mỡ,
mà còn tạo ra một không gian chiến lược an toàn
tránh xa được áp lực quân sự từ đằng ngoài,
đồng thời mở ra cơ hội giao thương buôn bán
với các thương thuyền nước ngoài
tại những cơ biển thoạn lợi
dọc kéo dài đất nguyên trung.
Chúa Nguyễn Hoàng, người đặt nền móng đầu tiên
cho cơ nghiệp của dòng Hồng Nguyễn ở phương Nam,
đã bắt đầu tổ chức việc di dân khai khẩn
một cách có hệ thống tại những vùng đất
mới thu được từ thời Lê Thánh Tông.
Ông cho xây dựng các đồn điền,
phát triển nông nghiệp, đồng thời khuyến khích
thương nhân nước ngoài đến buôn bán
tại các cảng thị như Hội An,
khiến cho vùng đất thuận quảng nhanh chóng
trở nên trù phú và đung đúc dân cư,
tạo tiền đề vững chắc cho những bước tiến xa hơn
về phía Nam trong các giai đoạn sau này.
Đến năm 1611,
giới thầy Chúa Nguyễn Hoàng
lấy cớ người Trăm ở khu vực phía Nam Đèo Cù Mông
thường xuyên quây phá cướp bóc vùng biên giới.
Chúa Nguyễn đã cử tướng Văn Phong
đem quân đánh chiếm vùng đất Auzu của Triều Thành,
sắp nhập thêm vào lãnh thổ Đàn Trong,
lập thành phủ Phú Yên.
Đây là bước tiến quan trọng tiếp theo
sau chiến thắng năm 1471 của Lê Thánh Tông.
Đưa biên giới Đại Việt lớn sâu hơn nữa
vào không gian sinh tồn còn lại
vốn đã bị thu hẹp đáng kể
của Vương quốc Trăm Pà.
Đến thời Chúa Nguyễn Phúc Tần,
vào năm 1653, sau khi vua Trăm Pà
lúc bấy giờ có hành động xâm phạm vùng biên giới Phú Yên,
Chúa Nguyễn đã lập tức cử tướng Hùng Lộc
đem 3.000 quân đến đánh Triều Thành,
đánh bại quân đội Trăm Pà.
Vương quốc Trăm phải dâng nộp thêm vùng đất Cầu Thả Ra,
tương ứng với khu vực khánh hỏa ngày nay
để cầu hòa.
Lãnh thổ còn lại của Trăm Pà lúc này
chỉ còn thu hẹp lại ở khu vực Panduranga,
tức vùng Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay,
một giải đất khô cằn nhiều nắng gió
nằm ở cực nam của giải đất miền Trung.
Cộng cuộc nam tiến của các Chúa Nguyễn
trong giai đoạn này không chỉ đơn thuần
dựa vào sức mạnh quân sự,
mà còn được thực hiện thông qua một chính sách di dân
khai khẩn vô cùng khôn khéo và bến bì.
Sau mỗi lần tháng trận,
các Chúa Nguyễn đều nhanh chóng tổ chức đưa dân
từ vùng Thuận Quảng vào định cư,
khai khẩn đất Hoàng, lập nên các làng xã mới,
xây dựng hệ thống thủy lợi,
canh mương phục vụ sản xuất nông nghiệp,
đồng thời cho lập các đồn binh trần giữ,
nhằm bảo vệ vững chắc những vùng đất mới
Chính sách kết hợp nhuận nhuyễn giữa quân sự
và dân sự này đã giúp cho
quá trình sắp nhập lãnh thổ diễn ra
một cách bền vững và lâu dài hơn nhiều
so với những cuộc trình phạt
chấp nhoáng chỉ mang tính gian đe
của các triều đại trước đây.
Vào năm 1693,
Giới Thầy Chúa Nguyễn Phúc Trù,
sau khi Vua Trăm Pa cuối cùng,
là bà Tranh có hành động chống đối quân đội Chúa Nguyễn.
Không chịu triều cống đầy đủ theo lệ cũ,
Chúa Nguyễn đã tiến hành một cuộc trình phạt quyết định.
Cư tướng Nguyễn Hiếu Cảnh đem quân
đánh chiếm toàn bộ phần lãnh thổ còn lại của Triêm Thành,
bắt sống vua bà Tranh
cùng toàn bộ hoàng thân quốc thích áp giải về Phú Xuân,
và chính thức xóa bỏ
danh nghĩa vương quốc Trăm Pa độc lập,
đổi tên vùng đất này thanh chấn Thuận Thành,
đặt dưới sự cai quản trực tiếp
của quan lại người Việt. Đây được xem là
một trong những cột mốc quan trọng nhất,
đánh dấu sự chấm dứt về mặt danh nghĩa
của một vương quốc từng tồn tại huy hoàng
suốt gần 1.700 năm
Nguyễn Phúc Chú
đã nổ ra một cuộc nổi dậy
quy mô lớn của người Trăm
do một người tên là A Bàn lãnh đạo
với danh nghĩa phù trợ cho một hoàng thân
tên là Kế Bà Tử,
nhằm khôi phục lại vương quốc Trăm Pa độc lập.
Cuộc nổi dậy này ban đầu dành được
một số thắng lợi, khiến chính quyền
Chúa Nguyễn phải lo lắng
và cử đại binh vào đàn áp.
Trước tình hình bất ổn kéo dài,
Chúa Nguyễn Phúc Chú đã quyết định
thực hiện một chính sách mềm dẻo hơn,
khôi phục lại danh nghĩa Trấn Thuận Thành
với quy chế tự trị đặc biệt
phòng cho Kế Bà Tử làm Trần Vương,
nhằm xoa dịu lòng dân và ổn định
tình hình khu vực biên viễn phía Nam.
Mặc dù danh nghĩa vương quốc đã bị xóa bỏ,
nhưng chính quyền Chúa Nguyễn
vẫn áp dụng một chính sách khá mềm dẻo
và khôn khéo đối với vùng đất Thuận Thành,
thay vì đồng hóa cưỡng bức ngay lập tức.
Các Chúa Nguyễn
vẫn cho phép duy trì một dòng dõi vương tôn.
Người Trăm được phòng làm Trấn Vương,
cai quản khu vực này
với quy chế tự trị tương đối,
nhằm tránh gây ra những cuộc nổi dậy phản kháng quy mô lớn
có thể gây bất ổn cho vùng biên viễn.
Người Trăm tại Trấn Thuận Thành
vẫn được phép duy trì tôn giáo,
phòng tục tập quán và một phần bộ máy quan lại riêng,
chỉ phải nộp thuế và chiều cống định kỳ
cho triều đình trung ương,
đồng thời phải cung cấp binh lính
khi có chiến sự xảy ra.
Trách sách khôn khéo này
đã giúp cho vùng đất Thuận Thành
duy trì được một mức độ ổn định
tương đối trong suốt gần 100 năm rưỡi tiếp theo.
Mặc dù quyền lực thực sự của các vị Trấn Vương,
người Trăm ngày càng bị thu hẹp
và phụ thuộc gần như hoàn toàn
vào triều đình trung ương của Chúa Nguyễn.
Giờ sau này là nhà Nguyễn Thống Nhất.
Trong suốt giai đoạn tự trị kéo dài này,
đã có không ít lần xảy ra xung đột
nội bộ trành sành ngôi vị Trấn Vương
giữa các dòng dõi quý tộc chẳng khác nhau.
Buộc triều đình trung ương phải nhiều lần can thiệp phân xử
hoặc phế lập
nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài.
Đồng thời, quá trình di dân của người Việt
và sinh sống sen ké tại vùng đất Thuận Thành
cũng diễn ra ngày càng mạnh mẽ
dân dân làm thay đổi cơ cấu dân số
và văn hóa tại khu vực này,
khiến cho danh giới giữa cộng đồng người Trăm bản địa
và người Việt di cư
ngày càng trở nên mờ nhạt hơn qua từng thế hệ.
Bước sang đầu thế kỷ 19
sau khi nhà Nguyễn được thành lập
và thống nhất toàn bộ đất nước
dưới thời vua Gia Long
chính sách đối với vùng đất Thuận Thành ban đầu
vẫn được duy trì tương đối ổn định theo quy chế cũ.
Tuy nhiên, đến thời vua Minh Mạng
một vị vua nổi tiếng
với tư tưởng tập quyền trung ương mạnh mẽ
và quyết liệt trong việc cải cách hành trình
toàn bộ đất nước
thì số phận của chính quyền tự trị người Trăm cuối cùng
đã đến hồi kết thúc hoàn toàn.
Vua Minh Mạng chủ trương xóa bỏ
hoàn toàn các chế độ tự trị đặc biệt còn xót lại
nhằm thống nhất bộ máy hành trình
trên khắp cả nước theo một quyền mẫu trùng.
Vào năm 1832
sau khi xảy ra một số biến động chính trị nội bộ
tại vùng đất Thuận Thành
liên quan đến vị trấn vương cuối cùng
là Kho Pha-Âu Kê Đờ
Vua Minh Mạng đã chính thức ra chỉ dụ
bãi bỏ hoàn toàn chế độ trấn vương tự trị
của người Trăm.
Xáp nhập toàn bộ phần lãnh thổ còn lại cuối cùng
vào hệ thống hành trình chung của triều đình nhà Nguyễn
đặt tên là tỉnh Bình Thuận.
Sự kiện này đã chính thức khép lại
một truyền sử kéo dài gần 1.800 năm
của vùng quốc Trăm Pha.
Từ thời kỳ lập quốc rực rỡ cho đến khi
hoàn toàn bị xáp nhập và trở thành
một phần không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam thống nhất.
Nhìn lại toàn bộ tiếm trình
lịch sử kéo dài gần 1.000 năm này
chúng ta có thể thấy rằng
công cuộc nam tiến của Đại Việt không diễn ra
theo một đường thẳng liên mạch
mà trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau
sang kẽ giữa những thời kỳ bành trứng mạnh mẽ
và những giai đoạn tạm láng
thậm chí có lúc còn bị đảo ngược như
dưới thời chế bồng ngạo Anh Liệt.
Mỗi bước tiến về phương Nam của người Việt
thường gắn liền với những sự kiện chính trị
quân sự cụ thể
khi thì là những cuộc trinh phạt bằng vũ lực đẫm máu
khi thì lại là kết quả
của những cuộc hôn nhân chính trị khéo léo
hay đơn giản chỉ là một quá trình di dân khai
khẩn tự nhiên diễn ra âm thầm
qua nhiều thế hệ.
Có thể nói đây là một trong những tiến trình
mở rộng lãnh thổ kéo dài
và bền bỉ nhất trong lịch sử
các quốc gia Đông Nam Á
trải qua gần 900 năm, kể từ cuộc trinh phạt đầu tiên
của Lê Hoàng cho đến khi
Trấn Thuận thành cuối cùng bị xóa bỏ hoàn toàn
dưới thời vua Minh Mạng.
Đối với vương quốc Champa, sự suy vong
và biến mất khỏi bản đồ chính trị khu vực
không chỉ đơn thuần đến từ
sức ép quân sự bên ngoài từ phía Đại Việt
mà còn xuất phát từ chính những điểm yếu nội tài của họ.
Tập trung chính trị lòng lẻo,
mang tính liên minh giữa các tiểu vương quốc
đã khiến Champa luôn ở trong tình trạng
dễ bị tổn thương mỗi khi phải đối mặt
với một đối thủ có tổ chức chặt chẽ
và quyết tâm cao như Đại Việt.
Bên cạnh đó, vị trí địa lý
là một giải đất hẹp thiếu chiều sầu chuyến lược
cũng khiến Champa gặp rất nhiều
bất lợi trong việc phòng thủ lâu dài
trước những cuộc tấn công quy mô lớn từ phương Bắc.
Ngoài ra, việc quá phụ thuộc
vào nguồn lợi thương mại hàng hải
cũng khiến nền kinh tế Champa trở nên mong manh
dễ bị tổn thương mỗi khi
các tuyến đường biển bị gián đoạn bởi chiến tranh
hoặc bị các thế lực khác trong khu vực
như Java hay Trung Hoa cạnh tranh gây gắt.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý
và đáng trân trọng là mặc dù vương quốc Champa
đã không còn tồn tại
về mặt chính trị, nhưng di sản văn hóa
vô giá của nền văn minh này vẫn còn được
bảo tồn và lưu giữ cho đến tận ngày nay.
Những quần thể tháp trăm cổ kính
như Thánh Địa Mỹ Sơn ở Quảng Nam,
tháp bà Ponagar ở Nha Trang
hay tháp Poklongari
ở Ninh Thuận
vẫn đứng sừng xứng qua bao thăng trầm của thời gian
trở thành những di sản văn hóa thế giới
được UNESCO công nhận, thu hút hàng triệu du khách
trong và ngoài nước đến tham quan
chìm ngứa mỗi năm. Nghệ thuật điều khắc đá Champa
với những bức tượng vũ nữ Apsara
uyển chuyển hay những phụ điều
mô tả các vị thần Hindu tinh xảo
cũng được xem là một trong những bình cao
của nghệ thuật điều khắc khu vực Đông Nam Á
thời cầu Trung Đại. Được trưng bày trân trọng
tại Bảo tàng Điều Khắc Trăm ở Đà Nẵng
thu hút sự quan tâm nghiên cứu
của giới học giả trong và ngoài nước.
Cộng đồng người Trăm ngày nay vẫn tiếp tục sinh sống
chủ yếu tại các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận
cùng một bộ phận không nhỏ
tại khu vực đồng bằng sông Cựu Long
duy trì được nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo
từ ngôn ngữ trư viết cho đến
các lễ hội tôn giáo đặc sắc như lễ hội
Cate nổi tiếng được tổ chức hàng năm
để tưởng nhớ các vị vua và thần linh
trong tín ngưỡng của người Trăm
góp phần làm phong phú thêm bức tranh đa dạng
Nhà nước Việt Nam hiện đại cũng đã có nhiều chính sách
nhằm bảo tồn, phát huy giá trị
di sản văn hóa Trăm Pa,
đầu tư trùng tu các di tích tháp cổ
đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội
nâng cao đời sống cho cộng đồng
người Trăm tại các địa phương.
Quá trình sáp nhập lãnh thổ Trăm Pa vào Đại Việt
cũng để lại nhiều bài học lịch sử
sâu sắc mang tính phổ quát
đối với sự phát triển của bất kỳ quốc gia
dân tộc nào trong khu vực.
Nó cho thấy quy luật tất yếu trong lịch sử nhân loại
rằng những quốc gia có nền tảng
chính trị tập quyển vững mạnh, khả năng huy động
nguồn lực hiệu quả vào tầm nhìn chiến lược dài hạn
thường có xu hướng chiếm yêu thế
và mở rộng ảnh hưởng của mình
trước những thực thể chính trị có cấu trúc lòng lẻo hơn
cho dù thực thể đó từng
sở hữu một nền văn minh rực rỡ
và lâu đời như Trăm Pa.
Đồng thời, câu chuyện lịch sử này cũng phản ánh một quá trình
giao thòa và hòa hợp văn hóa
nơi mà những xung đột đẫm máu
trong quá khứ dân dân được thay thế
bằng sự cộng cư, hòa hợp và tôn trọng
lẫn nhau trong đời sống hiện đại ngày nay.
Ngày này, khi đứng trước
những ngọn tháp trăm cầu kính phủ đầy rêu phòng
giữa cái nắng gió khắc nghiệt của miền Trung Việt Nam
nhiều người không khỏi bồi hồi
suy ngẫm về một vương quốc
từng một thời huy hoàng rực rỡ
với những hàm đội thương thuyền hung mạnh
và nền nghệ thuật điêu khắc đạt đến đỉnh cao tình xã.
Câu chuyện về sự thôn tính
và sắp nhập trăm Pa vào lãnh thổ Đại Việt
không đơn thuần chỉ là một chứng sử
về chiến tranh và chinh phục
mà còn là một minh chứng sống động cho quy luật vận động
không ngừng nghỉ của lịch sử.
Về các nền văn minh không ngừng tương tác
và chạm rồi cuối cùng hòa quyện vào nhau
để cùng kiến tạo nền diện mạo
của một quốc gia Việt Nam thống nhất
và đa dạng như chúng ta được biết đến ngày hôm nay.
Xét trên góc độ rộng hơn
quá trình Nam Tiến kéo dài gần 900 năm này
còn mang một ý nghĩa lịch sử
vô cùng to lớn đối với sự hình thành
và phát triển của dân tộc Việt Nam hiện đại.
Nếu như không có công cuộc mở rộng
lãnh thổ bền bì và kiên trì này
thì dài đất hình chữ S
mà chúng ta biết đến ngày hôm nay
đã không thể có được hình hài trọn vẹn như vậy.
Vùng đất miền Trung và sau này là cả vùng
đông băng sông Cửu Long chủ phú
đã trở thành những vựa lúa, vựa trái cây
quan trọng mực nhất, nuôi sống hàng chục triệu
người dân Việt Nam qua nhiều thế hệ
đồng thời cũng là nơi hội tụ.
Giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau
tạo nên một bản sắc Việt Nam đa dạng,
phong phú và giàu sức sống.
Di sản của Vương quốc Trầm Phạc
dù đã lùi vào quá khứ
nhưng những giá trị văn hóa, nghệ thuật vinh thần
của nó vẫn sẽ mãi mãi trường tồn
như một phần máu thịt không thể tách rời
trong bản sắc văn hóa phong phú
và đa dạng của dân tộc Việt Nam hiện đại.
Từ những ngọn tháp cổ rêu phong
cho đến những điệu múa Apsara uyển chuyển
từ những lễ hội ca tê rộn ràng
cho đến những làn điệu dân ca chăm ra giết
tất cả đã hòa quyện
trở thành một phần không thể thiếu
trong bức tranh văn hóa đa sắc màu của Việt Nam ngày nay.
Nhắc nhở các thế hệ mai sau
về một thời kỳ lịch sử đầy biến động
nhưng cũng vô cùng hào hùng.
Nơi hai nền văn minh đã cùng nhau viết
nên những trang sử đầy máu và nước mắt
nhưng cũng đầy tự hào
trên dài đất hình chữ Estanillo này.
