TÓM TẮT 1000 NĂM BẮC THUỘC | CHUYỆN KỂ LỊCH SỬ

Đình Sự
536 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Một nghìn năm bắt thuộc là giai đoạn thử thách sinh tử dài nhất trong lịch sử Việt Nam.
Trải qua mười thế kỷ bị các triều đại phương Bắc đô hộ và tìm mọi cách đồng hóa,
người Việt không những không biến mất mà còn liên tục tích lũy nội lực để đấu tranh giành lại chủ quyền.
Hôm nay, hãy cùng mình nhìn lại toàn cảnh chuỗi diễn biến
và các sự kiện quân sự quyết định trong suốt thiên niên kỷ thăng trầm này.
Trường 1
Từ bi kịch mất nước năm 179 đến cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng.
Năm 179 trước Cầu Nguyên,
An Dương Vương chủ quan trước mô kế cầu hòa của Triệu Đà,
Vương Triệu Âu Lạc sụp đổ.
Triệu Đà sắp nhập vùng đất của người Việt vào Vương quốc Nam Việt,
chia làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Trân.
Trong giai đoạn đầu này, nhà Triệu giữ nguyên hệ thống tổ chức hành chính cũ
cho các lạc hầu, lạc tướng bản địa tiếp tục quản lý dân chúng và thực hiện nghĩa vụ nọt thuế.
Năm 111 trước Cầu Nguyên,
nhà Tây Hán đem binh tiêu diệt nhà Triệu, thâu tóm toàn bộ lãnh thổ Nam Việt.
Nhà Hán chia lại đất đai thành bộ Giao Chỉ, gồm 9 quận.
Trong đó, 3 quận nằm trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay là Giao Chỉ, Cửu Trân và Nhật Nam.
Đứng đầu bộ Giao Chỉ là một viên thứ sử phụ trách giám sát.
Đứng đầu, mỗi quận là một viên thái thú nắm quyền hành chính và một viên đô ý nắm quyền quân sự.
Toàn bộ các chức danh chủ chốt này đều do người Hán nắm giữ.
Chính sách cai trị của nhà Hán tập trung vào 2 mục tiêu lớn, vất kiệt kinh tế và đồng hóa văn hóa.
Về kinh tế, họ áp đặt chế độ thuế khóa nặng nề,
bắt người Việt nộp thuế thân, thuế ruộng và tổ chức thu mua,
cống ngạp các sản vật quý như ngọc trai, ngà voi, sừng tê giác,
trầm hương, đồi mồi.
Về văn hóa, nhà Hán liên tục di dân người Hán xuống phía nam,
bắt người Việt phải học chữ Hán, áp dụng luật pháp Hán và thay đổi các phong tục tập quán bản địa.
Nằm 40 sao công nguyên,
mâu thuẫn giữa nhân dân bản địa và chính quyền đô hộ lên đến đỉnh điểm dưới thời thái thú Tô Định.
Tô Định là một viên quang tham lam, tàn bạo,
tăng cường áp bức và thẳng tay đàn áp các hào trưởng người Việt.
Đứng trước tình hình đó, Trưng Trắc, con gái lạc tướng vùng Mê Linh,
cùng em gái là Trưng Nhị đã bí mật liên kết với các hào kiện khắp nơi để chuẩn bị nổi dậy.
Sự kiện thi sách, chồng của Trưng Trắc bị Tô Định giết hại đã trở thành ngòi nổ trực tiếp cho cuộc khởi nghĩa.
Tháng 3 năm 40, hai bà Trưng chính thức phất cờ khởi nghĩa tại Cửa Sông Hét.
Lực lượng nghĩa quân nhanh chóng làm chủ vùng Mê Linh,
sau đó tiến đánh và hạ thành cổ loa.
Từ cổ loa, nghĩa quân dược sông Hồng tấn công thẳng vào trị sở Long Biên.
Trước sức tấn công dồn dập, thái thú Tô Định hoảng sợ,
các tóc cạo râu cải trang lẽn trốn về quận Nam Hải.
Trong vòng vài tuần, nghĩa quân đã hạ được 65 thành trì,
giải phóng hoàn toàn 3 quận Giao Trĩ, Cửu Trân, Nhật Nam.
Khởi nghĩa thành công, Trưng Trắc được tôn làm vua,
đóng đồ ở Mê Linh, bãi bỏ các thứ thuế hạ khắc cho nhân dân.
Mùa xuân năm 42, vua Hán Quang Vũ phong danh tướng Mã Viện làm phục ba tướng quân,
chỉ huy hai vạn quân Tinh Nhuệ cùng hàng nghìn chiến thuyền
theo hai đường thủy bộ tiến xuống miền Nam đàn áp cuộc khởi nghĩa.
Đạo quân thủy của Mã Viện đi dọc bờ biển, tiến vào sông Bạch Đăng,
rồi hội quân giới đạo quân bộ tại vùng Lán Bạc thuộc Bắc Ninh ngày nay.
Hai bà Trưng kéo quân từ Mê Linh xuống Lán Bạc chặn địch.
Trận chiến diễn ra vô cùng khốc liệt.
Nghĩa quân do trang bị và kinh nghiệm trận mạc thua xuất
nên phải lùi quân về giữ cấm khê thuộc ba vị ngày nay.
Năm 43, quân Hán bao vây phòng tuyến cấm khê sau nhiều trận giáp lá cà, đẫm máu, phòng tuyến vỡ,
hai bà Trưng đã anh dũng hy sinh trên dòng sông Hát để giữ vẹn khí tiết.
Mã Viện tiếp tục thúc quân tiến xuống phía Nam, trùy quét tàn quân ở quận Cửu Trân,
giết chết và bắt làm tụ binh hàng vạn người.
Để củng cố chính quyền đô hộ mới, Mã Viện cho đút các cột đồng ở biên giới, khắc chữ Răng Đe,
đồng thời tiến hành cải tổ sâu sắc hệ thống cai trị, xóa bỏ hoàn toàn chế độ lạc tướng,
cử quan lại người Hán trực tiếp quản lý đến cấp huyện, thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai chính thức bắt đầu.
Sau khi nhà Đồng Hán suy yếu, Trung Quốc bước vào thời kỳ Tam Quốc,
vùng đất Giao Châu lần lượt rơi vào tay các tập đoàn phong kiến phương Bắc,
chịu sự quản lý gắt gao nhất của nhà Ngô.
Chính quyền nhà Ngô tăng cường bốc lọt sức người sức của,
để phục vụ cho các cuộc chiến tranh nội địa ở phương Bắc.
Nhân dân phải nộp su dịch nặng nề, lau dịch nặng nhọc để xây dựng thành quách,
đóng chiến thuyền và tìm kiếm lâm sản, hải sản quý hiếm.
Mùa xuân năm 248, từ căn cứ núi Nưa thuộc Triệu Sơn, Thành Hóa,
một hào kiệt địa phương 19 tuổi là Triệu Thị Trinh cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt
đã phát động cuộc khởi nghĩa chống lại ác đô hộ của nhà Ngô.
Khi ra trận, ba triệu mặc áo giáp vàng, đi quốc ngà, cày trăm vàng,
cửi vôi trắng một ngà chỉ huy nghĩa quân.
Lực lượng khởi nghĩa từ vùng núi Nưa nhanh chóng tràn xuống,
đánh chiếm các đồn bốt quân Ngô ở quận Cửu Trân, rồi đánh ra khắp Giao Châu.
Nghĩa quân đánh tàn nhiều đạo quân vây quét, giết chết các quan lại, đô hộ,
khiến toàn bộ chính quyền nhà Ngô ở miền Nam hoảng loạn.
Nhận thấy tính chất nghiêm trọng của cuộc khởi nghĩa,
vua Ngô Tôn Quyền quyết định điều động danh tướng Lục Dận làm thứ sử Giao Châu,
chỉ huy tám nghìn quân tinh nhuệ sang đàn áp.
Lục Dận là một kẻ mu mô, khi đến nơi không vội vã,
tùng quân đánh lớn mà dùng các thủ đoạn chính trị mua chuột,
phòng chức tước cho các hào trưởng địa phương để chia rẽ nội bộ Nghĩa quân,
cô lập lực lượng của Bà Triệu.
Sau khi làm suy yếu khối đoàn kết của Nghĩa quân,
Lục Dận mới tung toàn lực quân số, mở các cuộc tấn công tổng lực vào căn cứ chính.
Sau hơn nửa năm chiến đấu kiên cường trong điều kiện trên lệch,
lực lượng quá lớn, quân khởi nghĩa tàn vỡ.
Bà Triệu rút lui về vùng núi Tùng, thuộc Hậu Lộc,
thanh hóa ngày nay và đã anh dũng tuẩn tiết vào cuối năm 248.
Nhà Ngô khôi phục lại quyền kiểm soát,
tiếp tục siết chặt bộ máy cai trị chuyên chế lên toàn bộ Giao Châu.
Trải qua các thế kỷ tiếp theo,
quyền cai trị Giao Châu liên tục đổi chủ từ nhà Ngô sang nhà Tấn,
rồi đến các triều đại Nam Bắc Triều như Tống, Tề Lương.
Dù các triều đại phương Bắc liên tục thay đổi,
nhưng chính sách cốt lỗi đối với Giao Châu vẫn không thay đổi,
tăng cường vơ vết tài nguyên,
áp đặt luật pháp nghiêm ngặt để giặt tắt mọi mầm móng phản kháng.
Tuy nhiên, các số liệu lịch sử cho thấy
hệ thống làng xã tự quản của người Việt ở vùng nông thôn vẫn đứng vững.
Người Việt tiếp tục duy trì tiếng nói bản địa,
giữ vững các phong tục truyền thống như ăn trầu, nhụm răng xăm mình,
thờ cúng tổ tiên và các vị thần tự nhiên.
Đồng thời, người Việt đã khéo léo học tập kỹ thuật rèn sắc,
đúc đồng tiến bộ từ phương Bắc để cải tiến công cụ sản xuất,
nâng cao năng suất nông nghiệp và bí mật chế tạo vũ khí.
Các hào trưởng, người Việt xuất hiện ngày càng nhiều.
Họ vừa đóng vai trò là những người trung gian đối phó với quan lại đô hộ,
vừa âm thầm tích lũy tài lực, đất đai và binh lực
để chờ đợi những biến động chính trị lớn từ vương triều phương Bắc.
Chính sự tích lũy, nội lực kiên trì trong bóng tối suốt nhiều thế kỷ này
đã tạo tiền đề vững chắc cho một cuộc chuyển mình quy mô lớn,
có tổ chức chặt chẽ hơn ở thế kỷ thứ 6.
Hệ thống đô hộ của triều đại,
nhà lương tiếp tục siết chặt giao châu bằng những chính sách thuế khóa tàn bạo mới.
Tuy nhiên, sự tích lũy, nội lực kéo dài nhiều thế kỷ của người Việt
đã tạo ra một thế hệ hào trưởng đủ sức chủ động
lập nên một chính quyền tự chủ quy mô lớn,
mở đầu cho những cuộc đối đầu trật diện tiếp theo.
Trường 2
Từ cuộc khởi nghĩa Lý Bí lập nước vạn sung đến các cuộc nổi dậy thời nhà đường.
Mùa xuân năm 542,
Lý Bí, một hào trưởng từng giữ chức chỉ huy quân đội ở Đức Châu, Nghệ An,
đã chính thức phát động khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà lương.
Nguyên nhân trực tiếp là do chính sách thuế khóa
bốc lột tàn bạo của thứ sử giao châu là tiêu tư.
Lý Bí đã liên kết với các hào kiệt lớn gồm Triệu Túc ở Thanh Hóa, Tinh Thiều và Phạm Tu.
Lực lượng nghĩa quân phát triển nhanh chóng,
tấn công dồn dập khiến thứ sử tiêu tư hoảng sợ,
bỏ thành Long Biên tháo chạy về Quảng Châu,
nghĩa quân làm chủ vùng trung tâm giao châu.
Tháng 4 năm 542,
triều đình nhà lương huy động quân từ Quảng Châu sang phản công tái chiếm.
Lý Bí chủ động đưa quân lên phía bắc chặn đánh địch tại vùng bán đảo Hợp Phố,
đánh tan đạo quân phản công của nhà lương.
Đầu 543, vua lương tiếp tục sai tướng Tôn Quính và Lư Tử Hùng chỉ huy một đạo đại quân tiến xuống.
Nghĩa quân tổ chức đón đánh ngay tại vùng biên giới,
tiêu diệt phần lớn lực lượng địch, buộc hai tướng giặc phải tháo chạy về nước.
Cùng thời điểm 543,
ở phía nam, vua Lâm ấp chếp thời cơ đánh chiếm quận Nhật Nam và tiến lên Cửu Trân.
Lý Bí cử đại tướng Phạm Tu mang quân vào nam,
đánh bại hoàn toàn quân Lâm ấp tại Cửu Trân, ổn định bờ cõi.
Tháng 544, Lý Bí chính thức lên ngôi hoàng đế,
lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt niên hiệu Thiên Đức,
lọc ra triều đại nhà tiền lý và đặt tên nước là Vạn Xuân.
Ông cho xây dựng Điện Vạn Thọ, thành lập triều đình giới hai bang văn võ,
giao cho tinh thiệu đứng đầu bang văn và Phạm Tu đứng đầu bang võ.
Nước Vạn Xuân trở thành nhà nước độc lập hoàn chỉnh đầu tiên của người Việt đối đầu trực tiếp với phương Bắc.
Mùa xuân năm 545, vua Lương cử danh tướng Trần Bá Tiên làm tư má,
chỉ huy một đạo đại quân tinh nhuệ gồm hàng vạn quân bộ và quân thủy tiến vào nước Vạn Xuân.
Lý Nam Đế đem ba vạn quân giàn trận đón đánh địch ở vùng Lục Đầu, Hải Dương.
Do trên lệch về lực lượng và trang bị, quân Vạn Xuân thất bại, đại tướng Phạm Tu hy sinh.
Lý Nam Đế phải lùi quân về giữ thành Giao Châu ở cửa sông Tô Lịch.
Trần Bá Tiên đóc quân vây hãm, giữ dội, thành vỡ.
Lý Nam Đế tiếp tục trút quân ngược dòng sông Hồng về giữ thành Gia Ninh ở Phú Thọ.
Đầu năm 546, Trần Bá Tiên hạ được thành Gia Ninh.
Lý Nam Đế dẫn tàn quân rút vào vùng núi Tân Sương của người Lão để thu thập thêm lực lượng.
Tháng 10 năm 546, Lý Nam Đế đem vạn quân ra đóng chiến thuyền tại vùng Hồ Điển Xá, Vĩnh Phúc.
Điểm đến một trận mưa lớn bất ngờ làm nước sông dân cao tràn vào hồ.
Trần Bá Tiên lợi dụng dòng nước lũ, bí mật thuốc quân thủy đánh úp,
khiến quân vạn xuân vỡ trận hoàn toàn.
Sau thất bại này, Lý Nam Đế phải rút lui về Động Quốc Lão, lâm bệnh nặng,
rồi qua đời vào năm 548 sau khi đã giao lại toàn bộ binh quyền cho tướng trẻ Triệu Quang Phục.
Triệu Quang Phục nhận binh quyền và quyết định thay đổi chiến thuật.
Ông rút toàn bộ lực lượng về vùng đâm giả trạch ở Khói Châu, Hương Yên.
Đây là giải đâm lây rộng lớn, lâu xậy rậm rạp, hiểm trở, chỉ có thể di chuyển bằng thuyền độc mộc.
Tại đây, Triệu Quang Phục áp dụng triệt để chiến thuật du kích ban ngày nghỉ quân giữ im lặng tuyệt đối.
Ban đêm dùng thuyền nhỏ thình lình lao ra đánh úp các đồn bốt,
đốt phá kho tàn của quân Lương rồi lập tức rút lui.
Chiến thuật này làm tiêu hao lớn lực lượng địch.
Nhân dân tôn gọi ông là Giả Trạch Vương.
Năm 550, Nhà Lương xảy ra, loạn hầu cảnh.
Trần Bá Tiên phải rút đại quân về nước, giao quyền giữ Giao Châu cho tướng Dương Sàng.
Chớp thời cơ, Triệu Quang Phục phát lệnh tổng phản công từ đâm giả trạch,
đánh thẳng vào thành Long Biên, tiêu diệt toàn bộ quân địch và chén chết Dương Sàng tại trận.
Nước Gạn Xuân giành lại độc lập, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, lấy hiệu là Triệu Việt Vương.
Tuy nhiên, nội bộ lập tức xảy ra xung đột khi Lý Phật Tử,
một người em họ của Lý Nam Đế, đem quân về tranh giành ngôi vị.
Sau nhiều trận đánh bất phân thắng bậy, hai bên giảng hòa chia đôi đất nước tại Bãi Quần Thần.
Đến năm 571, Lý Phật Tử lật lộng, bất ngờ đánh úp Triệu Việt Vương,
thâu tóm toàn bộ quyền lực và xưng lạ hậu Lý Nam Đế.
Năm 602, nhà Tùy sau khi thống nhất Trung Quốc đã xài danh tướng,
Lưu Phương chỉ huy 27.000 quân tinh nhuệ tiến xuống xâm lược Vạn Xuân.
Lưu Phương chiêu quân làm hai đường thủy bộ tiến đánh dồn dập.
Lý Phật Tử hoảng sợ, không tổ chức kháng cự mà chủ động xin đầu hàng tại thành Cổ Loa.
Nhà Tùy bắt sóng Lý Phật Tử giải về phương Bắc.
Nước Vạn Xuân diệt vong, sau khi nhà Tùy sụp đổ, nhà đường lên thay thế vào năm 618.
Năm 679, nhà đường đổi tên Giao Châu thành An Nam Đô Hộ Phủ,
chia làm 12 châu, đặt trị sở tại thành Đại La,
đứng đầu là quan Đô Hộ nắm toàn quyền hành chính và quân sự.
Nhà đường áp đặt chế độ thuế khóa hà khắc,
bắt nhân dân nộp thuế thân, thuế ruộng và cống nạp sản vật quý hiếm
cùng các loại cây ăn quả đặc sản về kinh đô Trường An.
Chính sách bốc lột của nhà đường làm bùng nổ các cuộc khởi nghĩa lớn.
Năm 713, tại vùng Sa Nam, Nam Đàn, Nghệ An,
một người dân phu gánh vải cống nạp tên là Mai Thuốc Loan đã kêu gọi Phu Dịch nối dạy khởi nghĩa.
Ông trộn Sa Nam làm căn cứ, xây dựng thành lũy Vạn An dọc theo sông Lam
và liên kết với nhân dân các nước Trầm Pa, Trân Lạp.
Lực lượng nghĩa quân lên tới hàng chục vạn người,
Mai Thuốc Loan lên ngôi hoàng đế, được gọi là Mai Hắc Đế.
Nghĩa quân tiến thẳng ra Bắc, đánh hạ thành Đại La,
buộc quan đô hộ quan sở khách phải tháo chạy về nước.
Năm 722, vua đường sai tướng Dương Tư Húc đem 10 vạn quân tinh nhuệ sang đàn áp,
bảo vây thành Vạn An. Sau nhiều trận chiến ác liệt, thành Vạn An thất thủ,
Mai Hắc Đế hy sinh trong rừng sâu.
Khoảng năm 776, một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn khác nổ ra tại vùng đường Lâm.
Ba dị ngày nay do Hào trưởng Phùng Hưng lãnh đạo.
Nhưng lúc chính quyền đô hộ nhà đường lỏng lẻo, Phùng Hưng cùng em trai phát động tấn công,
làm chủ vùng đường Lâm rồi bảo vây thành Đại La,
quan đô hộ cao chính bệnh lo sợ sinh bệnh mà chết.
Phùng Hưng tiến vào chiến thành Đại La, tổ chức lại bộ máy cai trị đất nước,
được vài năm thì qua đời, được nhân dân suy tôn là bố cái đại vương.
Con trai ông lập Phùng An lên nối ngôi, nhưng nội bộ xảy ra rạn nứt.
Năm 791, nhà đường cử Triệu Sương sang làm đô hộ,
dùng chính sách mua chuộc các Hào trưởng địa phương.
Phùng An thế, cô lật cô cuối cùng phải đầu hàng.
Đến giữa thế kỷ thứ 9, An Nam, đô hộ phủ rơi vào hỗn loạn do sự xâm lược của quân
Nam Chiếu từ Vân Nam tràn xuống tàn phá thành Đại La.
Năm 866, nhà đường cử danh tướng Cao Biền sang làm tiết độ sứ.
Cao Biền dùng chiến thuật hành quân thần tốc, đánh bại quân Nam Chiếu,
lấy lại và xây dựng lại thành Đại La kiên cố hơn.
Mặc dù Cao Biền tạm thời ổn định được tình hình,
nhưng triều đại nhà đường lúc này đã bước vào giai đoạn suy thoái trầm trọng
do các cuộc khởi nghĩa nông dân ở chính quốc không còn đủ sức kiểm soát chặt chẽ An Nam, đô hộ phủ.
Sự suy yếu đến cực điểm của nhà đường vào cuối thế kỷ thứ 9
đã tạo ra một khoảng trống quyền lực lớn tại An Nam, đô hộ phủ.
Đây chính là thời cơ vàng để các hào trưởng người Việt thực hiện những bước đi chiến lược quy mô lớn,
chấm dứt hoàn toàn một nghìn năm bắt thuộc.
Trường 3, từ việc họ khúc giành quyền tự chủ năm 1905 đến trận chiến Bạch Đăng năm 1938 kết thúc một nghìn năm bắt thuộc.
Năm 1905, nhân lúc triều đình nhà đường suy yếu đến cực điểm do các cuộc khởi nghĩa nông dân và nạn cát cứ ở chính quốc,
một hào trưởng đất Chu Duyên là khúc thừa dụ đã tập hợp lực lượng,
đánh chiếm thành Đại La, lập đổ chính quyền đô hộ,
thay vì lập tức xưng vương hay xưng đế để tránh sự can thiệp quân sự trực diện từ phương Bắc.
Khúc thừa dụ khéo léo tự xưng là tiết độ sứ của An Nam, đô hộ phủ.
Đến năm 1906, triều đình nhà đường buộc phải xuống chiếu công nhận chức vị này của ông.
Đây là một bước đi chiến lược, danh nghĩa là quan triều đình,
nhưng thực tế người Việt đã tự nắm quyền quản lý đất nước.
Năm 1907, khúc thừa dụ qua đời, con trai ông là Khúc Hạo lên nối ngôi tiết độ sứ.
Khúc Hạo lập tức tiến hành một cuộc cải cách hành chính quy mô lớn trên cả nước,
chia lại các đơn vị hành chính thành lộ, phủ, châu, xã,
lập sổ hộ khẩu để quản lý nhân khẩu,
xóa bỏ các thứ thuế vô lý của thời thuộc đường và thực hiện chính sách chính sự khoan dung.
Giãn dị, nhân dân đều được yên vui,
sau khi nhà đường sập đổ, Trung Quốc rơi vào thời kỳ ngũ đại thập quốc.
Năm 1917, khúc thừa Mỹ lên thầy Khúc Hạo,
nhưng do thi hành chính sách ngoại giao sai lầm,
thần phục nhà hậu lương khiến vương triều Nam Hán ở Quảng Đông tức giận.
Mùa thu năm 1930, vua Nam Hán xài hai tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh
mang đại quân sang xâm lược nước ta.
Quân Nam Hán đánh bại, lực lượng của họ Khúc hạ thành Đại La
và bắt sống khúc thừa Mỹ giãi về Quảng Châu.
Vua Nam Hán cự Lý Tiến làm thứ sử Giao Châu
để Lương Khắc Trinh đóng quân giữ thành Đại La nhằm xuyết chặt lại ách Lô Hộ.
Trước tình hình đó, năm 1931, Dương Đình Nghệ,
một tướng lĩnh cũ của họ Khúc ở Thanh Hóa,
đã tập hợp hơn 3.000 nghệ sĩ thân tính,
phát động cuộc kháng chiến từ căn cứ làng Giàng.
Dương Đình Nghệ dẫn quân Tiến ra Bắc,
nhanh chóng bao vây và tấn công dồn dập vào thành Đại La.
Vua Nam Hán lập tức xài tướng Trần Bảo mang quân sang tiết viện.
Tuy nhiên, trước khi viện binh địch kịp đến nơi,
Dương Đình Nghệ đã hạ được thành Đại La, đánh tan quân của Lý Tiến.
Khi quân cứu viện của Trần Bảo đến,
Dương Đình Nghệ chủ động mở cửa thành cho quân đánh vỗ mặt,
dẹp tan đạo quân viện binh, chém chết Trần Bảo tại trận.
Dương Đình Nghệ làm chủ đất nước, tự sưng là Tiết Độ Xứ,
tiếp tục củng cố nền tự chủ.
Tháng 4 năm 937, nội bộ bọc phát biến cố lớn khi Kiều Công Tiển,
một thuộc tướng của Dương Đình Nghệ,
vì ham muốn quyền lực đã ra tay sát hại Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết Độ Xứ.
Hành động phản nghịch này bị nhân dân và các hào kiệt khắp nơi kịch liệt phản đối,
nhận thấy bị cô lập.
Kiều Công Tiển đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khi sai người sang cầu cứu Vương Triều Nam Hán,
tạo cớ cho quân địch kéo sang xâm lược nước ta lần thứ hai.
Mùa thu năm 938, Ngô Quyền con rể và cũng là tướng lĩnh xuất sắc nhất của Dương Đình Nghệ,
lúc này đang trấn thủ vùng đất Ái Châu,
thanh hóa đã nhanh chóng tập hợp, lực lượng quân đội tiến thẳng ra Bắc để trừng phạt kẻ phản nghịch.
Quân của Ngô Quyền hành quân thần Tóc đánh tàn lực lượng của Kiều Công Tiển và hạ thành Đại La.
Trước khi quân viện binh Nam Hán kịp đặt chân qua biên giới, Kiều Công Tiển bị sứ tử tại trận.
Cùng thời điểm đó, vua Nam Hán là Lưu Cung Sai con trai, là Hoàng Tháo,
chỉ hữu một đạo đại quân thủy gồm hàng vạn lính theo đường biển tiến vào cửa sông Bạch Đặc.
Còn bản thân tự cầm quân đóng ở Hải Môn để làm áp lực,
nhận định quân Nam Hán di chuyển chủ yếu bằng chiến thuyền lớn từ biển vào,
Ngô Quyền đã đưa ra một kế hoạch tác chiến độc nhất vô nhị.
Ông cho quân lính vào rừng đắn hàng vạn cây gỗ lớn, vạt nhọn đầu, bịch sắt kiên cố,
rồi bí mật đóng xuống lòng sông Bạch Đặc ở những vị trí hiểm yếu gần cửa biển,
tạo thành một trận địa cọc ngầm khổng lồ chỉ phát huy tác dụng khi thủy triều lên xuống.
Cuối năm 938, đoàn chiến thuyền của Hoàng Tháu tiến vào cửa sông Bạch Đặc
đúng lúc thủy triều đang lên cao, chè lấp toàn bộ trận địa cọc sắt.
Ngô Quyền cử một toán thuyền nhỏ ra đánh nhữ,
vừa đánh vừa giả vờ thua chạy sâu vào bên trong để dụ địch.
Hoàng Tháu chủ quan, đốc thuốc các chiến thuyền lớn ào ạt đuổi theo,
vượt qua trận địa cọc ngầm mà không hề hay biết.
Khi đoàn thuyền địch đã lọt hoàn toàn vào trận địa mai phục,
đúng lúc thủy triều bắt đầu rút mạnh, Ngô Quyền phát lệnh tổng phản công.
Quân thủy bộ phối hợp của người Việt từ hai bên bờ sông và các nhánh lạch đồng loạt lao ra,
bắn tên lửa và đánh vỗ mặt dồn dập vào đội hình quân Nam Hán.
Quân địch hoảng loạn, quay đầu tháo chạy ra biển.
Lúc này thủy triều rút sâu làm lộ ra những đầu cọc sắt nhọn hoắt.
Các chiến thuyền lớn của Nam Hán đâm thẳng vào trận địa cọc,
bị đục thủng lương và lật úc hàng loạt.
Quân vương tử Hoàng Tháu bị tiêu diệt quá nữa,
bản thân Hoàng Tháu cũng bị chém chết tại trận dưới lòng sông Bạch Đăng.
Nhận được tin con trai tử trận và đại quân tan vỡ hoàn toàn,
vua Nam Hán hoáng sợ, đành hạ lệnh thu quân,
từ bỏ vĩnh viễn mưu đồ xâm lược nước ta.
Chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đăng năm 938 của Ngô Quyền
đã chính thức đập tan hoàn toàn mưu đồ xâm lược của phong kiến Phương Bắc,
chấm dứt tuyệt đối 1.000 Nam Bắc thuộc Tâm Tối.
Sự kiện này là một móc son chói lội,
đưa dân tộc ta bước hẳn sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập,
tự chủ lâu dài và vững chắc của các triều Đại Đinh, Lê Lý, Trần Vệ Sau.
Cảm ơn bạn đã dành thời gian theo dõi toàn bộ hành trình,
lịch sử đầy thân trọng này trên kênh Say Sử.
Nếu bạn thấy nội dung này hữu ích và yêu thích các tình tiết lịch sử nước nhà,
hãy nhấn thích video, để lại bình luận và đăng ký kênh
để không bỏ lỡ những kịch bản tiếp theo.
Chào bạn và hẹn gặp lại!
