TÓM TẮT CUỘC ĐỜI LÝ THƯỜNG KIỆT

Đình Sự
538 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chào mừng các bạn đã trở lại với Say Xử.
Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau ngược dầm lịch sử để bước vào cuộc đời đầy sóng gió,
hào hùng và on liệt của một trong những danh tướng vĩ đại nhất dân tộc Việt Nam,
vị anh hùng áo vải, nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, Thái Úy Lý Thường Kiệt.
Ông là một con người vẹn toàn văn vỏ, để lại dấu ấn sâu đậm qua những chiến công vang dội
bảo vệ nền độc lập của đại Cô Việt, mà đỉnh cao là câu thơ thần khẳng định chủ quyền sông núi nước Nam.
Cuộc đời ông bắt đầu từ một gia thế bình thường, nhưng sớm nuôi dưỡng trí lớn,
trải qua bao thăng trầm hoạn nạn trước khi bước lên vũ đại chính trị lớn của đất nước.
Lý Thường Kiệt sinh năm 1919, tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt.
Ông vốn là người phường Thái Hòa, thành Thăng Lâm Cũ, thuộc dòng giỏi Hào trưởng.
Tổ tiên ông là Ngô Xí, cháu nội của Ngô Quyền, vị vua đã chấm dứt hơn 1.000 năm bắt thuộc,
mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho nước nhà.
Tuy sinh ra trong một gia đình có truyền thống võ nghệ và nền nếp gia phong,
nhưng đến đời cha của Ngô Tuấn là ông Ngô An Xương, da cảnh không còn hiển hấp như xưa,
chỉ giữ chức quan nhỏ trong trự định nhà Lý.
Ngay từ thủ nhỏ, Ngô Tuấn đã nổi tiếng là một cậu bé khôi ngô tuấn tú,
dung mạo khác thường, mắt sáng như sao, giãn bi hiên ngang đỉnh đạt.
Khác với những đứa trẻ cùng trang lứa chỉ thích chơi đùa trò chơi dân gian,
Ngô Tuấn sớm tỏ ra là người có chí khí lớn.
Cha ông, vốn là người thấu hiểu thời cuộc,
đã sớm nhận ra tư chất thông minh tinh anh của con trai mình,
nên đã dùng hết tâm huyết để dạy dỗ.
Ngô Tuấn được học cả văn lẫn võ,
ông miệt mại nghiên cứu binh thư chiến lược của người xưa,
từ tôn tử binh pháp cho đến lục thao, tam lược,
đồng thời luyện tập võ nghệ tinh thông,
cửi ngựa bắn cung, sử dụng thành thảo đao kiếm.
Mỗi khi cầm bút đọc sách,
Ngô Tuấn thường ngâm nga những vận thơ hào sản của các bậc hiền triết,
nuôi dưỡng bên trong lòng ngực một tấm lòng nhiệt huyết,
một khát vọng vương lên để đem tài năng cống hiến cho giang sơn.
Người ta kể lại rằng, có những đêm khuya khoắt,
ánh đèn dầu trong phòng sách của Ngô Tuấn vẫn sáng tỏ,
ông miệt mại nghiên cứu cách bày bình bố trận,
phân tích những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa
và đại cổ Việt để rút ra bài học cho riêng mình.
Không chỉ dừng lại ở sách vỡ,
Ngô Tuấn còn là một thanh niên rất chăm chỉ rèn luyện thể lực.
Dưới sự chỉ dạy của các võ sư danh tiếng thời bấy giờ,
ông đã sớm hoàn thiện các kỹ năng chiến đấu cá nhân.
Thân hình ông cao lớn, săn chắc, bước chân vững chải như hổ vồ.
Những người hàng xóm thường nhìn thấy chàng thanh niên họ ngô,
luyện kiếm dưới ánh trăng mờ ảo,
từng đường kiếm sát bén, xé rách không gian,
phát ra những tiếng chém uy lực.
Đến tuổi trưởng thành, với tài năng xuất chúng
và danh tiếng về cá văn lẫn vỏ đã lan truyền rộng rãi,
Ngô Tuấn chính thức bước chân vào chúng triều đình nhà Lý.
Dưới triều đại của vua Lý Thái Tông,
triều đình luôn khát khao chiêu mộ những người tài đức
để phỏ tá đất nước đang trên đà phát triển
và củng cố quyền lực trung ương.
Khi bước qua cánh cổng cung điện uy nghiêm,
Ngô Tuấn không hề cảm thấy ngợp trước sự xa hoa
hay quyền lực bao trùm.
Ngược lại, đôi mắt sắc xảo của ông đảo quan sát khắp nơi,
ghi nhận từng chi tiết về hệ thống phòng thủ,
cùng cách sinh hoạt cũng như sự uy nghiêm của triều đình.
Với tư chất thông minh và diện mạo khôi ngô,
ông nhanh chóng lọt vào mắt xanh của các quan đại thần
và được tuyến chọn vào làm thị vệ trong cung cấm.
Công việc của một thị vệ tuy nguy hiểm
và đòi hỏi sự tập trung cao độ,
nhưng lại là cơ hội quý giá để ngô Tuấn hiểu rõ hơn
về tình hình chính sự, về tính cách của vua quan
và những gốc khuất trong cung đình.
Nhờ sự tận tụy, trung thành tuyệt đối
và khả năng phán đoán nhạy bén,
ông ngày càng được nhà vua tin tưởng,
giao phó cho nhiều trọng trách lớn lao hơn.
Trong một buổi thiết triệu trang nghiêm,
khi vua Lý Thái Tông đang trầm ngâm,
lắng nghe các quan tấu trình về tình hình biên cương phía nam,
ngô Tuấn đứng nghiêm nghị bên cục nọc,
ánh mắt dỗi theo từng cử chỉ của vị minh quân.
Giọng nhà vua vang lên đầy lo lắng.
Chẩm nghe nói các tù trưởng vùng thiểu số ở châu Hoài Ân
đang có ý định dần ngó biên giới.
Triều đình cần một người có đủ can đảm và tài trí để đi xứ,
vừa để trấn an lòng dân, vừa để răng đe kẻ đực.
Các khành ai có thể gánh vác trọng trách này?
Cả triều đình bỗng chốc im lặng.
Ai cũng biết đó là một chuyến đi đầy hiểm nguy,
vượt qua những vùng rừng thiên, nước độc,
đối mặt với những thế lực địa phương bất mãn.
Giữa lúc không ai dám tiến lên nhận trọng trách,
ngô Tuấn bước ra khỏi hàng quang lại,
cúi đầu tàu lớn với giọng nói trầm ấm nhưng đầy uy lực.
Thần ngô Tuấn xin dân trọn tấm lòng trung thành,
xin nhận lệnh nhà vua lên đường bi xứ.
Thần xin đem lại sự yên bình cho vùng biên ải,
không phủ lòng tin của bệ hạ.
Vua Lý Thái Tông nhìn chàng thanh niên trẻ tuổi
với ánh mắt ngạc nhiên, pha lẫn sự tán thưởng.
Nhà vua gật đầu đồng ý.
Chuyến đi xứ ấy đã thành công rực rỡ.
Ngô Tuấn không tốn một mũi tên hòn đạn,
mà vẫn thuyết phục được các tù trưởng quy phục triều đình,
dân cống phẩm và cam kết giữ gìn biên giới yên bình.
Trở về kinh thành, danh tiếng của Ngô Tuấn càng vang dội hơn trước.
Ông không chỉ là một thị vệ giỏi võ nghệ,
mà còn là một nhà ngoại giao tài ba,
một bề tôi trung thành đáng tinh cậy của triều đình nhà Lý.
Từ bước đệm vững chắc này,
con đường quan lộ của Ngô Tuấn chính thức rộng mở,
chuẩn bị đóng nhận những thử thách lớn lao hơn
ở những chương tiếp theo của cuộc đời.
Sau những chiến công đầu đời và tài năng ngoại giao xuất chúng,
Ngô Tuấn ngày càng khẳng định được vị thế vững chắc của mình trong triều đình nhà Lý.
Dưới triều đại của vua Lý Thánh Tông,
nhà vua không chỉ trọng dụng tài năng quân sự,
mà còn đặc biệt yêu mến tính cách cương trực, trung thực của ông.
Để ghi nhận những đóng góp to lớn và tỏ lòng sủng ái đặc biệt,
nhà vua đã ban cho ông mang họ hoàng tộc, họ Lý.
Từ đó, cái tên Ngô Tuấn chính thức đổi thành Lý Thường Kiệt,
một cái tên sẽ mãi mãi khắc sâu vào lịch sử hào hùng của dân tộc.
Sự thay đổi về họ tên không chỉ là một ân điện lớn từ hoàng đế,
mà còn là bước ngoặt đánh dấu sự gắn kết chặt chẽ giữa số phận của Lý Thường Kiệt
với phận mệnh của triều đại nhà Lý.
Tuy nhiên, đường đời không bao giờ trải đầy hoa hồng.
Càng leo lên những bậc thang cao của quyền lực,
Lý Thường Kiệt càng phải đối mặt với những cạm bẫy hiểm ác của chốn cung đình
đầy rẫy tranh giành quyền lợi và ghen ghét đố kỳ.
Và một đêm trăng sáng, trong khu vườn Thượng Uyển tỉnh lặng,
hương hoa ngọc lan thoang thoảng trong gió đêm,
Lý Thường Kiệt đang một mình dạo bước, suy ngẩm về tình hình đất nước,
thì bỗng nghe thấy tiếng bước chân rón rén phía sau bước rèm hoa.
Trước khi ông kiệt quay lại, một bóng đen vụt qua,
để lại một mảnh giấy nhỏ găm trên thân cây cổ thủ.
Lý Thường Kiệt rút mảnh giấy ra đọc, ánh mắt sắc lạnh lué lên trong đêm tối.
Mảnh giấy nặt danh cảnh báo về một âm mưu đạo chính ngầm
đang được nhen nhóm bởi một số hoạn quan và quý tộc bất mãn.
Những kẻ luôn coi ông là cái gai trong mắt vì sự sụn ái mà vua dành cho ông.
Không chần trừ, Lý Thường Kiệt ngay lập tức cho mật thám theo dõi và thu thập chứng cứ.
Nhưng chốn thâm cung, vốn là nơi nước sâu cá lội,
kẻ địch không dễ gì để lộ sơ hở.
Một nhóm đại thần thân cận với Hoàng Thái Hậu đã bất ngờ tung ra những lời đồn đại ác ý.
Vù khống Lý Thường Kiệt có ý đồ bất chính,
lợi dụng quyền lực để thu phục lòng người nhằm mưu đồ phản nghịch.
Trước những lời tâu hàng học và áp lực từ các phe phái trong triều,
vua Lý Thánh Tông dù rất tin tưởng Lý Thường Kiệt,
nhưng cũng khó lòng bỏ qua những lời tố cáo nghiêm trọng.
Trong một buổi thiết triệu đầy căng thẳng,
một vị đại thần bước lên trước nọc bệ, cuối đầu tàu lớn với giọng điệu đầy vẽ giả tạo.
Mung tàu bệ hạ, Lý Thường Kiệt cậy công kiêu ngạo,
lại nắm giữ binh quyền trong tay,
ngày đêm kết bè kết phái trong cùng cấm.
Nếu không sớm có biện pháp nhăn chặn,
e rằng giang sơn nhà Lý sẽ rơi vào tay kẻ khác.
Lý Thường Kiệt bước ra khỏi hàng, áo bào khẽ phất theo nhịp bước hiên ngang.
Ông không hề tỏ ra sợ hãi hay nào núng.
Ngước đôi mắt sáng ngời nhìn thẳng vào nhà vua,
ông giỏng giạc nói.
Thần từ khi bước chân vào cửa khuyết,
một lòng trung can bích huyết phỏ tá giang sơn chưa từng có nửa ý niệm phản nghịch.
Nếu bệ hạ nghi ngờ lòng trung của thần,
xin cứ đem đầu thần ra chém để tạ ơn ngước.
Nhưng xin Ngài hãy minh xét để trắng bị kẻ tiểu nhân lợi dụng lòng tin.
Dù nhà vua biết rõ sự tình và tìm cách giảm nhẹ tội chết cho ông,
nhưng áp lực từ triệu định quá lớn,
Lý Thường Kiệt cuối cùng vẫn bị phớt lờ án tử hình
và bị đẩy đi trấn thủ ở vùng Châu Hoài Ân,
một vùng đất biên viễn xa xôi, hoang vu và đầy hiểm trợ lúc bấy giờ.
Bước trời khỏi kinh thành hoa lệ với chiếc áo xìm đơn sơ,
Lý Thường Kiệt không hề nản lòng hay oán trách số phận.
Ông hiểu rằng đây là thử thách lớn mà trời cao dành cho mình.
Tại vùng đất biên ải hoang vu ấy,
thay vì buôn xuôi, ông đã biến nơi lưu đậy thành một trường học lớn của thực tiễn.
Ông cùng các binh sĩ khai khẩn ruộng hoang,
đắp đề phòng lũ, dạy dân bản cách trồng trọt, chăn nuôi và rèn luyện võ nghệ.
Chỉ trong một thời gian ngắn,
Châu Hoài Ân từ một vùng đất nghèo nàng sơ sát
đã trở thành một khu vực trù phú.
Lòng dân hướng về ông một cách tuyệt đối.
Các tù trưởng và đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây
vô cùng kính trọng vì tướng Tài bị thất sủng,
coi ông như cha mẹ ruột của mình.
Thời gian trôi qua,
sóng gió triệu định ở kinh thành Thăng Long không ngớt.
Nước đại Cô Việt bắt đầu đứng trước những thử thách sống còn
khi phương Bắc ruột trịch chuẩn bị âm mưu xâm lược.
Nhà Tống nuôi giả tâm thun tính nước ta từ lâu,
bắt đầu điều động binh mã,
tích trữ lương thảo dọc theo biên giới phía Bắc.
Triệu định nhà Lý lúc bấy giờ lâm vào tình thế hoảng loạn.
Vù Lý Thánh Tông nhận ra rằng
không ai có đủ tài năng và uy tính
để vực dậy quân đội đối đầu với giặc ngoại xâm
ngoài Lý Thường Kiệt.
Một chiếu chỉ hỏa tốc được ban ra,
tha tội cho Lý Thường Kiệt
và triệu ông gấp trúc trở về kinh đô.
Khi đoàn người của ông tiến vào cửa ô Thăng Long,
hàng vạn người dân đứng hai bên đường rợp bóng cờ hoa
reo hò chào đón vị anh hùng trở về.
Vù Lý Thánh Tông thân chinh ra tận ngoài ô đón tiếp,
nắm chặt tay ông và nói
Chẩm vị nghe lời kẻ tiểu nhân
mà phụ lòng ái Khanh,
khiến Khanh phải chịu nhiều cây đắng ở chốn biên Thùy.
Nay Giang Sường Lâm Nguy
chẩm giao toàn bộ binh quyền trong nước cho Khanh,
mong Khanh hết lòng vì nước, vì dân.
Lý Thường Kiệt quỳ một chân xuống đất,
hai tay cung kính nhận ấn kiếm từ tay nhà vua,
giọng nói như chuông ngân.
Thần xin lấy sinh mệnh của mình ra
để bảo vệ từng tất đất của Tổ tiên,
quyết không để giặc phương Bắc
bước chân vào bờ cõi đái Covid.
Ngay lập tức, được phong chức Thái Úy,
chức vụ đứng đầu triệu đình về quân sự,
Lý Thường Kiệt bắt tay ngay vào công cuộc
cải tố toàn diện quân đội.
Ông đi khắp các vùng miền
để tuyển mộ binh sĩ, kiểm tra kho lương,
đúc vũ khí mới
và tổ chức các bài tập trận quy mô lớn.
Dí bàn tay tài hoa và sự nghiêm khắc của ông,
quân đội nhà Lý từ một lực lượng
đang có nguy cơ rượu rã,
đã lột xác trở thành một cổ máy chiến tranh
vô cùng hùng mạnh, tinh nhuệ
và trang đầy lòng yêu nước.
Giữa lúc ấy, từ phương Bắc,
những tin mật thám liên tục gửi
về kinh thành Thăng Long
với một nội dung vô cùng cấp bắt.
Nhà Tống dưới thời Vua Tống Thần Tông
và Tể tướng Vương An Thạch
đang ráo riết chuẩn bị một cuộc
đại chiến tranh xâm lược nước ta.
Chúng tập trung hàng chục vạn quân,
tích trữ lương thực, rèn đúc binh khí
tại các châu Ung, Khâm, Lương
sát biên giới đại Cô Việt
nuôi mọng xóa sổ độc lập nước ta.
Trong một buổi triều đình
hợp khẩn cấp tại Điện Kính Thiên,
không khí bao trùm một sự căng thẳng tột độ.
Các quàng văn võ
tranh cãi nảy lửa về phương án đối phó.
Có người đề nghị nên cố thủ
chờ giặc đến rồi đánh.
Có người lại lo lắng trước thế lực hùng mạnh
của phương Bắc. Giữa lúc bấy giờ,
Lý Thường Kiệt bước lên phía trước,
ánh mắt sáng quắc kiên định,
giỏng giặc tàu với nhà vua.
Ngụy yên đợi giặc
không bằng đem quân bi trước để chặn
múi nhọn của chúng. Kẻ địch đang
dốc toàn lực chuẩn bị ở bên kia biên giới.
Nếu chúng ta cứ thủ động chờ đợi
thì chẳng khác nào đem sinh mệnh
Giang Sơn ra làm ván cờ máy rũi.
Tiên phát chế nhân.
Đem quân đánh thẳng vào đất địch
để phá vỡ thế chuẩn bị của chúng.
Đó mới là thượng sắc.
Lời nói của Lý Thường Kiệt vang lên
đầy sức nặng, đập tan mọi sự
hoài nghi trong lòng các đại thần.
Vua Lý Thánh Tông và Nguyên Phi
Ý Lan hoàn toàn ủng hộ kế hoạch táo bạo này.
Thế là một chiến dịch quân sự
quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử
được âm thầm triển khai.
Cuối năm 1075,
Lý Thường Kiệt trực tiếp
thống lĩnh một đạo đại quân thủy bộ
hung hậu, bất ngờ vượt biên giới
tiến đánh các căn cứ hậu phương
của quân Tống trên đất Trung Hoa.
Sự xuất hiện như tựa trên trời
rơi xuống của quân đội đại Cô Việt
khiến cho nhà Tống hoàn toàn
trở tay không kịp.
Các đồn bốt biên phòng của giặc lần lượt
bị sang bằng trong chếp mắt.
Mục tiêu lớn nhất và hiểm trở nhất
của chiến dịch lần này chính là
thành Ung Châu, một cứ điểm quân sự
chiến lược vô cùng kiên cố,
nơi tập trung toàn bộ lương thảo,
vũ khí và binh lực của nhà Tống
chuẩn bị cho âm mưu xâm lược đại Cô Việt.
Thành cao hào sâu,
lại có tướng giặc Tô Giám
nổi tiếng ngoan cố trấn thủ
cùng hàng vạn quân tinh nhuệ.
Ung Châu sừng sửng như một thách thức
lớn đối với quân ta.
Lý Thường Kiệt trực tiếp đến sát
chân thành Ung Châu để khảo sát địa hình.
Nhìn những bức tường thành bằng đá
xanh kiên cố, ông bình tĩnh
hạ lệnh cho quân sĩ vây chặt bốn bề,
cắt đứt mọi đường tiếp viện
từ nội địa Trung Hoa sang.
Đồng thời, ông cho quân sử dụng
các loại máy bắn đá cỡ lớn,
liên tục nả đạn lửa vào trong thành,
đồng thời áp dụng chiến thuật đào hầm ngầm
để phá vỡ móng thành.
Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt,
suốt rồng rã hơn 40 ngày đêm.
Tiếng gườm giáo khua vang,
tiếng hò rèo rung chuyển đất trời,
khói lửa mùng ngục chè kính
ca bầu trời biên ải.
Tướng giặc Tô Giám bên trong thành
liên tục thúc giáp quân chống trả quyết liệt,
bắn tênh đá như mưa xuống dưới.
Nhận thấy quân ta tổn thất
ngày một tăng mà thành vẫn sừng sửng,
Lý Thường Kiệt không hề nao núng.
Ông cho hạ lệnh
xiết chặt vòng vây hơn ngữa,
dùng kế vây thành diệt viện,
đánh bại tất cả các cánh quân
cứu viện của nhà Tống từ các châu
lân cận kéo tới.
Cuối cùng, vào một đêm tháng giêng
năm 1976,
các mũi hầm ngầm đã được đào thông
dưới chân thành. Theo lệnh của Lý Thường Kiệt,
một lượng lớn thuốc nổ
và củi khô được chăm lửa.
Một tiếng nổ kinh thiên động địa vang lên,
một góc tường thành ung châu
đổ sập xuống bụi mù mịch.
Quân ta như vũ bão
tràn vào bên trong thành.
Trong cuộc giáp lá cạ vô cùng khốc liệt
tại nội thành ung châu, tổ giám
cùng đường cuối cùng phải tự vẫn
trong biển lửa. Toàn bộ căn cứ
trọng yếu của nhà Tống bị sang thành
bình địa. Khi đứng
trên đống đổ nát của thành ung châu,
Lý Thường Kiệt không hề miễn cười tự mãn.
Ông biết rằng đây mới chỉ là
đòn phủ đầu cảnh cáo
sự kiêu ngạo của phương Bắc.
Mục đích của chiến dịch không phải là chiếm
đất đai mà là tiêu diệt sinh lực
địch, phá hủy kho tàn lương thảo
để bẻ gãy hoàn toàn
giả tâm xâm lực của nhà Tống.
Bảo vệ vững chắc gian sơn bờ cõi
đại cầu Việt trước khi chúng kịp
trở tay. Hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ, Lý Thường Kiệt
hạ lệnh cho quân đội rút về nước
trong trật tự, chuẩn bị đón nhận
cuộc đại chiến quyết định diễn ra
ngay trên mảnh đất quê hương.
Sau khi đánh phá tàn nát
các căn cứ hậu phương của quân Tống
tại Úng Châu, Khâm Châu
và Liêm Châu, Lý Thường Kiệt
chủ động hạ lệnh cho quân sĩ rút toàn bộ
về nước. Ông hiểu
rõ rằng hành động tiên phát
chế nhân vừa qua chỉ là đòn đánh
phủ đầu làm trấn động trường đình
nhà Tống và đập tàn kế hoạch
tấn công chấp nhoán của chúng.
Chắc chắn nhà Tống sẽ không chịu khuất phục
và sẽ dốc toàn lực để trả thù.
Trận chiến sinh tử thực sự
sẽ diễn ra ngay trên chính mảnh đất
quê hương. Quả nhiên
đúng như phán đoán của Lý Thường Kiệt
vào cuối năm 1076
Tống Thần Tông phái
hai danh tướng là Quách Quỳ và Triệu Thiết
thống lĩnh một đạo đại quân
gom hàng chục vạn bộ binh
kỵ binh cùng lực lượng hậu quân
hùng hậu rầm rộ kéo sang
xâm lược Đại Cô Việt.
Quân Tống tiến vào nước ta qua
hai ngã biên giới, khí thế vô cùng
hung hẳn, nuôi mọng rửa nhục
và sang bằng thành trì Đại Việt
trong chớp mắt.
Trước tình thế hiểm nghèo
khi giặc mạnh như nước lũ tràn về
Lý Thường Kiệt tỏ ra vô cùng
bình tĩnh và sáng suốt.
Ông không chọn cách đem quân ra biên giới
đối đầu trực diện với khối đại quân
đang hưng hực khí thế của địch
mà chủ động thiết lập một phòng tuyến
quân sự kiên cố bật nhất lịch sử
ngay tại cửa ngõ phía bắc Kinh Thành Hàng Long
Sông Như Nguyệt, nay là Sông Cầu.
Lý Thường Kiệt
trực tiếp đi khảo sát từng khúc sông
từng cánh rừng dọc theo bờ nam
Sông Như Nguyệt.
Nhận thấy đây là con sông lớn trắng ngang
hướng tiến quân từ phương bắc xuống Thắng Long.
Ông đã cho đắp những chiến lũy
bằng đất cao ngất ngưỡng dọc theo bờ nam.
Bên trên cắm đầy những hàng rào
tre gai dày đặc đang chéo vào nhau
nhiều tầng nhiều lớp
như một bức tường thành xanh
bất khả xâm phạm.
Dưới lòng sông, ông cho cắm ngầm
hàng vạn cọp nhọn bọc sát
biến dòng sông hiền hòa thành một cái bẫy
chết người đối với chiến thuyền địch.
Phòng tuyến Sông Như Nguyệt hoàn thành
Lý Thường Kiệt trực tiếp cưỡi ngựa
đi kiểm tra từng doanh trại
khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ.
Đứng trước hàng vạn binh lính
đang vừng bừng ý chí bảo vệ quê hương
ông Hồ Lớn.
Kẻ đực từ phương xa kéo đến
sức lực đã suy kiệt
lại phải vượt muôn trùng sơn thủy để đánh ta.
Ta lấy nhàn hạ đợi mệt mỏi
quyết đánh tàn chúng ngay
tại bờ sông này.
Để củng cố tinh thần chiến đấu cho quân dân toàn quốc
một đêm nọ
tại ngôi đền thờ linh thiên bên bờ sông Như Nguyệt
một tiếng cất lên mạnh mẽ
đọc những vần thơ hào sản
trung chuyển cả đất trời
sau này trở thành bản tuyên ngôn độc lập
đầu tiên của dân tộc.
Nam quốc sơn hà,
nam đế cư,
tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
như đẳng hành khang
thủ bại hư.
Bản thơ thần ấy nhanh chóng lan truyền
khắp các doanh trại quân đội
và các làng mạc đại Cô Việt.
Nó truyền vào lòng mỗi người dân và binh sĩ
một nguồn sức mạnh tinh thần vô tận,
một niềm tin tuyệt đối
rằng chính nghĩa thuộc về ta
và kẻ thù xâm lược nhất định
sẽ chuốt lấy thất bại thảm hại.
Đầu năm 1077,
đại quân nhà Tống do Quách Quỳ chỉ huy
kéo đến bờ bắc sông Như Nguyệt.
Nhìn thấy phòng tuyến kiên cố của ta
sừng sửng bên kia sông,
Quách Quỳ không dám vượt sông ngay
mà cho quân dừng lại dựng trại
tìm cách phá giải.
Tên tướng giặc ngạo mạng sai quân
đóng bè lớn, chuẩn bị ao ạc
vượt sông tấn công.
Lý Thường Kiệt sớm lường trước được âm mưu của địch.
Ông cho một đội quân mai phục sát bờ sông.
Khi hàng ngàn chiến thuyền
và bè gỗ của quân Tống vừa đẩy ra giữa dòng,
từ trong các bụi rậm và chiến lưỡi,
mưa tên bắn ra như trút nước,
kết hợp với các mũi giáo dài
từ thuyền ta lao ra
đâm thủng bè giặc.
Quân Tống chết đuối
và thiệt mạng vô số,
máu đỏ ngầu cả một khúc sông.
Thất bại liên tiếp trong các đợt vượt sông,
quân Tống rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nang.
Quách quỳ tức giận,
ra lệnh cho quân lính đóng lại trại lớn,
kiên trì chờ đợi cơ hội,
đồng thời ra lệnh
ai bàn đánh sẽ bị chém đầu
để trấn áp binh lính đang hoang mang tục độ.
Thế nhưng,
khí hậu miền Bắc ẩm ướt,
dịch bệnh hoành hành khiến quân Tống
ngã bệnh chết rất nhiều,
lương thực cạn kiệt dần.
Nhận thấy thời cơ phản công quyết định đã đến
và một đêm trăng thanh gió mát
khi quân Tống đang mỏi mệt
chìm trong giấc ngủ.
Một tiếng trống trận kinh thiên động địa bỗng vang lên
từ đại bản doanh của Lý Thường Kiệt.
Từ trong mạng đêm,
hàng vạn quân ta rầm rộ vượt sông
đắn thẳng vào doanh trại giặc.
Đồng thời, một đội quân lớn khác được lệnh
đột nhập vào tận liều trướng
của tướng giặc Quách quỳ.
Trận chiến diễn ra vô cùng khốc liệt.
Quân Tống hoàn toàn bất ngờ,
không kịp trở tay,
dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn.
Hơn một nửa số quân Tống thiệt mạng
trong đêm hôm ấy,
thay chất đầy đồng, máu chảy thành sông.
Quách quỳ hoãn loạn,
mặt cắt không còn giọt máu,
chỉ biết ôm đầu tháo chạy về phương Bắc
với một tàn quân rẹo rã.
Phòng tuyến nhân nguyệt đã hoàn toàn
đè bẹp giả tâm xâm lược
của trự định nhà Tống.
Thay vì đuổi cùng giết tận,
khiến giặc phản công liều chết,
Lý Thường Kiệt với tầm nhìn chiến lược
vĩ đại đã chủ động sai xứ
sang triều định nhà Tống nghị hòa,
trao trả tù binh để giữ vững
mối quan hệ ban giao hòa hiếu lâu dài,
chấm dứt chiến tranh,
mang lại thái bình thịnh trị
cho muôn dân trăm họ đại Cô Việt.
Trải qua bao nhiêu năm tháng
buồn ba chiến trận,
đối mặt với ngàn trùng hiểm nguy
và những thăng trầm oan khuất nơi triều định,
Lý Thường Kiệt lúc này
đã ở tuổi xế chiều.
Tuy nhiên ngọn lửa nhiệt huyết
và tinh thần trách nhiệm vì dân,
vì nước trong ông chưa bao giờ tắt.
Khi trở về kinh thành Thăng Long
trong sự tung hồ vang dội
của muôn dân trăm họ,
vua Lý Nhân Tồng vô cùng cảm kích
trước công lao trời biển của ông.
Nhà vua không chỉ ban thưởng tước ấp hậu hỉnh,
mà còn phong cho ông chức khai quốc công thần,
tước vương và giao trọng trách cai quản
vùng biên ải phía nam,
nơi đang cần một bàn tay vững chải
để củng cố an ninh
và mở mang bờ cõi.
Dù đã ở đỉnh cao của quyền lực và danh vọng,
Lý Thường Kiệt chưa bao giờ kêu ngạo
hay lạm dụng quyền thế.
Trong những năm tháng cuối đời
tại vùng đất Châu Hoang và Châu Diễn,
ông tiếp tục dồn hết tâm sức
để lo cho đời sống của người dân nghèo.
Ông đi khắp các bản làng,
hướng dẫn đồng dân cách khai hoang phục hóa,
xây dựng hệ thống thủy lợi
tưới tiêu cho đồng ruộng,
lập trà các chợ búa
để giao thường phát triển.
Một buổi chiều nọ,
dưới hiền ngôi đình làng cổ kính
ở vùng đất Nghệ An ngày nay,
gió biển thổi lồng lộng
mang theo hơi mặn của quê hương,
Lý Thường Kiệt mặc một bộ thường phục giảng dị
tay chống gậy trúc,
đứng lặng lẽ ngắm nhìn những đứa trẻ
đang nô đùa trên cánh đồng lúa chính vàng, ống ả.
Các bô lão trong làng cung kính
bước lại gần,
cuối đầu chào ông
với ánh mắt tràn đầy
lòng biết ơn sâu sắc.
Một cụ già tóc bạc phơ,
nghẹn ngào thưa.
Thưa Thái Uý,
nhờ có ân đức của Ngài
mà dân làng chúng tôi
từ cảnh lầm thang đói kém
nay đã được cơm no áo ấm,
giặc giả không dám dần ngó.
Ân đức của Ngài tựa non cao biển rộng,
dân làng muôn đời khắc ghi không quên.
Lý Thường Kiệt mỉm cười hiền từ,
ánh mắt người lên sự bình yên hiếm hoi
sau một đời chinh chiến.
Ông đặt tay lên vai cụ già,
giọng nói trầm ấm vang lên.
Lộc là của dân,
sức là của nước,
ta chỉ làm tròn bổng phận
của một bể tôi, đem lại sự bình yên
cho sớm làng.
Nhìn thấy cảnh Thái Bình thịnh trị này,
dẫu qua nhắm mắt xuôi tay,
ta cũng không còn điều gì tiếc núi nữa.
Không chỉ là một nhà quân sự
lỗi lạc với thiên tài
tiên phát chế nhân,
Lý Thường Kiệt còn là một nhà chính trị
có tầm nhìn xa trong rộng,
đặc biệt quan tâm đến việc thắt chặt
tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em
và duy trì mối quan hệ ngoại giao
hòa hiếu với các nước láng giềng.
Ông hiểu rằng
chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng
để bảo vệ tổ quốc,
còn mục đích cao cả nhất của người làm tướng
vẫn là mang lại cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho muôn dân.
Năm 1105,
vị Thái úy anh hùng trúc hơi thở
cuối cùng, hướng thọ 87 tuổi.
Sự ra đi của ông
để lại nỗi tiếc thương vô hạn
cho vua quang triệu đình
và toàn thể nhân dân đại cổ Việt.
Khi tinh dữ truyền về kinh thành,
vua Lý Nhân Tông đã phải bỏ thiết triệu
3 ngày để tử nghiệm,
trì phòng ông tước vị cao quý nhất,
lập đền thờ để đời đời
hương khói trì ân.
Cuộc đời của Lý Thường Kiệt
là một bản anh hùng ca bất tử
về lòng yêu nước nồng nàng,
ý chí kiên cường
và tài năng kiệt xuất.
Từ một thiếu niên tướng tú
mang giọng giỏi hào trưởng,
trải qua bao giông bão lưu đầy,
ông đã đứng lên gánh vác giang sơn
viết lên những trang sử vàng
chói lội nhất của dân tộc
qua chiến thắng Ung Châu
và phòng tuyến nhân nguyệt huyền thoại.
Tên tuổi và sự nghiệp vĩ đại
của Thái úy Lý Thường Kiệt
sẽ mãi mãi khắc ghi
trong tâm khảm của mỗi người con
đất Việt, trở thành ngọn đuốt
xoay đường cho các thế hệ mai sau
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
non sông gấm vách.
Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng kênh
Xây Sử trong hành trình ngược dòng
lịch sử hôm nay. Đừng quên
nhấn đăng ký và theo dõi kênh
để đón xem những câu chuyện hào hùng tiếp theo.
