Có một sự trùng hợp kỳ lạ giữa các văn bản tiên tri vĩ đại nhất của cả Đông lẫn Tây (từ Nostradamus, Thôi Bối Đồ, Mã Tiền Khóa cho đến Kinh Phật và Kinh Thánh): Tất cả đều dự ngôn về một vị Thánh nhân xuất hiện ở phương Đông vào thời kỳ đạo đức suy đồi nhất để cứu độ nhân loại. Nhưng điều đáng sợ là Ngài sẽ không ở đền đài hay cung điện, mà sống ẩn mình giữa những con người bình thường. Liệu Thánh nhân đã giáng hạ và nhân loại đã vô tình bước ngang qua Ngài? Cùng giải mã thông điệp ẩn giấu suốt hàng nghìn năm trong video ngày hôm nay!
Timeline Video 00:00 - Sự thật kỳ lạ về những lời tiên tri & Lời sấm của Nostradamus
06:20 - Bí ẩn Mã Tiền Khóa & Thôi Bối Đồ: Tấm bản đồ không đường kẻ
12:45 - Cách Am Di Lục & "Quy tắc 4 Không" của Lưu Bá Ôn
18:50 - Sự trùng hợp ngôn ngữ đáng sợ giữa Phật Di Lặc và Đấng Messiah
24:10 - Kinh Phật, Kinh Thánh và sự xuất hiện của Hoa Ưu Đàm sau 3000 năm
28:15 - Lời cảnh báo cuối cùng: Phép thử ngược dành cho nhân loại
This video analyzes a startling convergence among ancient prophetic texts from the East and West. Despite different origins, these texts describe a sage appearing in the East during a period of moral decline. The central theme is a warning: humanity may fail to recognize this figure because they appear in a humble, ordinary form rather than through grand signs or power.
Có một điều rất lạ về những lời tiên tri cổ mà hầu như không ai chỉ ra.
Chúng ta thường nghĩ tiên tri là để dự báo, nói trước chuyện sắp xảy ra, để người ta kịp chuẩn bị.
Nhưng khi ngồi đọc kỹ sáu văn bản tiên tri lớn nhất của cả phương Đông lẫn phương Tây, đặt cạnh nhau, thì thứ hiện ra lại không phải như vậy.
Cả sáu văn bản ấy được viết ở sáu ngôi khác nhau, bằng sáu thứ tiếng khác nhau, cách nhau hàng nghìn năm.
Vì viết ra chúng phần lớn không hề biết đến sự tồn tại của nhau, không đọc được chữ của nhau, không có bất kỳ cách nào để bàn bạc với nhau.
Vậy mà cả sáu đều nói về cùng một người, một vị thánh nhân xuất hiện ở phương Đông vào đúng lúc đạo đức nhân loại rơi xuống đáy.
Nhưng đó chưa phải điểm kỳ lạ nhất.
Điểm kỳ lạ nhất là cả sáu đều không cho chúng ta một địa chỉ nào, không tọa độ, không tên, không ngày tháng.
Thứ duy nhất chúng mô tả tỉ mỉ, lặp đi lặp lại đến mức không thể là ngẫu nhiên, lại là những đặc điểm mà mắt thường gần như không dùng được để nhận diện.
Không ở nơi cao sang, không mang tướng mạo khác thường, không thuộc về siêu ngột dân tộc đào, sống lẫn dưỡng người bình thường.
Nói cách khác, những bản dự ngôn này không hề dạy chúng ta cách tìm ra Ngài.
Chúng đang cảnh báo chúng ta về một khả năng khác hẳn, rằng Ngài sẽ đến, sẽ đi ngang qua, và loài người sẽ không nhận ra.
Đó mới là điều mà cả sáu văn bản, bằng sáu giọng nói khác nhau, đang cùng lo lắng.
Và hôm nay, chúng ta sẽ đi lần lượt qua từng văn bản một để xem nỗi lo ấy có cơ sở tới đâu.
Chúng ta bắt đầu từ nơi xa nhất, nước Pháp 5555.
Năm đó, một thầy thuốc kiêm nhà chim tinh tên Michael de Nostradamus cho xuất bản một tập thơ kỳ lạ tại Salon.
Người đời sau quen gọi ông bằng tên Latin hóa là Nostradamus và gọi tác phẩm ấy là Các thế kỷ.
Toàn bộ tập sách là những bài thơ bốn câu, viết bằng thứ ngôn ngữ trộn lẫn tiếng Pháp cổ, tiếng Latin, tiếng Hy Lạp và tiếng Occitan.
Mù mờ tới mức nếu không giải mã thì gần như không đọc hiểu được.
Chính sự mù mờ ấy vừa là lý do khiến tập thơ sống được năm thế kỷ, vừa là lý do khiến nó bị nghi ngờ suốt năm thế kỷ.
Nhưng trong hàng trăm bài thơ ấy có ba bài làm dài sát ở hai tập khác nhau mà khi khép lại thì tạo thành một câu chuyện hoàn chỉnh đến mức khó chịu.
Bài thứ nhất nằm ở tập 2, bài số 29.
Nguyên văn tiếng Pháp mở đầu bằng bốn chữ, vì Vương Đông sẽ rời khỏi chỗ người của mình.
Rồi tiếp, đi qua dãy Apennines nét để nhìn thấy đất Gaula xuyên qua trời qua nước và qua tuyết, và mỗi một người ai cũng sẽ bị chạm tới bởi kè gậy của vị ấy.
Apennines nét là dãy núi chạy dọc sống lâng nước Ý, Gaula là tên cổ của nước Pháp, nghĩa đen của bài thơ này rất rõ.
Một người từ phương Đông rời quê hương băng qua nước Ý đến nước Pháp.
Bản dịch tiếng Anh sớm nhất của tập thơ do Taufeleur de Carenseres thực hiện và in tại London năm 1672,
chủ giải rằng đây là một vị vương dạc phương Đông rời bỏ sử sở của mình mà đi.
Nhưng câu cuối mới là câu làm người đọc khẩn lại, mỗi một người ai cũng sẽ bị chạm tới bởi kè gậy của vị ấy.
Không phải một dân tộc, không phải một quốc gia, không phải một vùng lãnh thổ bị chinh phục.
Mỗi một người, không có cuộc chinh phạt nào trong lịch sử lại người từng chạm tới từng cái như ngột.
Đế quốc nào sự cũng chỉ vẽ được đường biên giới trên bản đồ.
Cái mà bài thơ này mô tả có phạm vi hoàn toàn khác, nó không đi qua bản đồ, nó đi qua từng con người.
Bài thứ hai nằm ngay gần đó, cũng tập 2, bài số 27, và giọng điệu đột ngột, tối lãi.
Lời của thần sẽ bị đánh từ trên trời xuống, không thể tiến thêm được nữa, mí mật, bị bịt lại, bị đóng kín, người ta sẽ dẫn lên nó mà đi qua.
Hãy đọc lại câu cuối một lần nữa, người ta sẽ dẫn lên nó mà đi qua.
Nếu bài 29 nói về sự xuất hiện, thì bài 27 nói về điều xảy ra sau sự xuất hiện đó.
Một thông điệp bị chặn lại giữa đường, một sự thật bị niêm phong và đắn đông thì bước ngang qua ngay trên đầu nó.
Hoàn toàn không biết mình vượt dẫm lên cái gì, không phải bị tiêu diệt, không phải bị đốt, chỉ đơn giản là bị đi qua.
Hãy cứ ngồi yên với hình ảnh đó một lát, vì nó quen thuộc hơn tà tường.
Bài thứ ba và cũng là bài kỳ lẫn nhất, nằm ở tập 3, bài số 94.
Trong 500 năm nữa, người ta mới lại tính đến vị ấy, người từng là đồ trang sức của thời đại mình.
Rồi bất chợt, một lần sáng ngớm sẽ đến, khiến những người của thế kỷ ấy vô cùng thoảng mãn.
500 năm, bây giờ chúng mình là một phép tính rất đơn giản.
Nostradamus sinh năm 1503, tập thơ được ông ký tên tại Salon vào tháng 3 năm 1555.
Ông vào đời năm 1566, cộng 500 vào bất kỳ mốc nào trong 3 mốc đó, cộng 500 vào bất kỳ mốc nào trong 3 mốc đó.
Các quả đều rơi vào khoảng từ năm 2003 đến năm 2066, nghĩa là ngay bây giờ,
nghĩa là chính chúng ta, những người đang ngồi đây, đang nghe những dòng này chính là những người của thế kỷ ấy.
Nhưng đây mới là chỗ lợi hại nhất trong toàn bộ bài thơ, và cũng là chỗ mà rất nhiều người đọc bước qua.
Nostradamus không nói rằng vị ấy sẽ đến trong 500 năm nữa.
Ông nói rằng phải mất 500 năm, người ta mới bắt đầu tính đến vị ấy.
Có sự khác biệt rất lớn giữa hai câu đó. Một câu nói về thời điểm xuất hiện, câu kia nói về thời điểm nhận ra.
Và khi đọc theo cách thứ hai, thì bài 27 với hình ảnh bí mật bị đóng kín và đắn đông dẫn lên mà đi,
bỗng nhiên khớp vào như mành ghép cuối cùng của một bức tranh.
Người đến rồi chỉ là chưa ai nhận ra. Đó là văn bản thứ nhất.
Bây giờ chúng mình rời nước Pháp, đi về đúng cái mà hướng mà chính Nostradamus đã chỉ, phương Đông.
Ở trong hoa cổ đại có một truyền thống sấp riêng, gần như không thấy ở nền văn minh nào khác với mặt độ dày như vậy.
Những người thông tuệ bậc nhất của mỗi triều đại trước khi rời khỏi phủ đài thường để lại một bản dự ngôn,
không phải để khoe tài, mà giống một lá thư nghiêm phong gửi cho những người sẽ sống sau mình hàng ngàn năm.
Bản sớm nhất trong đó được cho là của Sa Phát Lượng, tên gọi Mã Tiền Phá, cái tên ấy có nghĩa đen là xeo quẻ trước ngựa.
Tương truyền ông xeo ngay trong lúc hành quân, không có bàn, không có nghi lễ, chỉ có con ngựa đứng đó vào một khoảnh khắc tĩnh lặng giữa đường hành vinh.
Được mười bốn khóa, mỗi khóa ứng với một dài phải vừa được sử. Khóa thứ mười hai chỉ vòn vẹn mười sáu chữ.
Trừng hoạn, cấu nạn, thị suy thánh nhân, xương phục, nhi trị, hối cực sinh minh.
Tạm dịch là cấu hoạn nạn, chỉ có suy nhất thánh nhân.
Khi xương quay trở lại thì cai trị, bóng tối tới cùng cực thì ánh sáng sinh ra.
Khi chú kèm theo khóa này, nưu trong các bản cổ, cỗ ngắn không kém rằng đây là tượng của tương lai.
Khi tai nạn dồn tới điểm tận cùng, đó là lúc thánh nhân xuất hiện, cứu cục cứu nạn.
Bốn chữ hối cực sinh minh đáng để chúng mình dừng lại lâu hơn một chút, bởi vì nó chứa cảm cách nhìn thế giới.
Trong cắm mắt của người xưa, bóng tối không phải kẻ thù của ánh sáng, bóng tối là điều kiện của ánh sáng.
Nghe qua thì giống một câu an ủi, nhưng người xưa không nói nó như một lời an ủi.
Họ nói nó như một quy luật sống huyệt, sống huyệt cách chúng ta nói nước sôi ở một trăng độ.
Đêm tràn đêm thì bình minh càng gần, vật cực thất phản, mỹ cực thái lai, mọi thứ đi tới cùng cực đều tự động quay đầu.
Và nếu quy luật đó đúng thật, thì có một hệ quả mà ít ai sáng nói ra.
Rằng cái thời kỳ mà chúng ta gọi là tồi tệ nhất, hỗn loạn nhất, đạo lức xuống thấp nhất lại chính là dấu hiệu đáng mừng nhất.
Không phải vì nó dễ chịu, mà vì theo cách đọc này, nó là điều kiện bắt buộc phải xây ra trước.
Bản dụng ngôn thứ ba, nổi tiếng hơn nhiều, hôi phố đồ.
Tương truyền do phiên Thiên Cam và Lý Thuần Phong Đời Đường soạn ra, vùng 60 tượng.
Mỗi tượng có một bức tranh, một quả dịch, một câu sống và một bài tụng.
Cái tên Thôi bố đồ đến từ 9 bức tranh cuối cùng, vẽ cảnh một người đẩy lưng người kia, ý bảo thôi đi, đừng suy diễn nữa.
Gần cuối sách, ở tượng thứ 59, có 8 câu mà nhiều người coi là bức tranh sau cùng của lịch sử niêm loại.
Xấm viết
Vô thành, vô phủ, vô nghĩ, vô ngã, thiên hại miết ra trị trăn đại hóa.
Không còn thành trì, không còn phủ đệ, không còn người và ta, thiên hạ là một nhà, sự cai trị đạt tới hóa lớn.
Tụng viết
Nhất nhân vi đại thế giới phúc, thủ chấp thiêm đồng vạt khứ chúc, hồng hoàng khác vạch bất phân minh, Đông Nam Tây Bắc tận hòa mục.
Câu thứ nhất
Một người làm điều lớn, phúc cho cả thế giới.
Câu thứ hai
Tay cầm ống xăm, rút bỏ hết thể tre trong đó.
Câu thứ ba
Đỏ vàng đen trắng không còn phân biệt dài dòi.
Câu thứ tư
Đông Nam Tây Bắc thời điều hòa thuận.
Hình ảnh ở câu thứ hai lạ đến mức phải dừng lại.
Ống xăm là công cụ vệ sinh khỏe, để đoán các hung, để hỏi trời xem chuyện sắp tới lành hay giữ.
Nó là biểu tượng cô đọng nhất của việc con người cố dò tìm tương lai.
Vậy mà bài tượng lại bẽ cảnh.
Một người cầm ống xăm ấy lên rồi rút bỏ hết những cây thể tre bên trong.
Nghĩa là gì?
Nghĩa là không cần nói nữa.
Nghĩa là lịch sử đã đi tới một điểm.
Mà việc đoán trước các hung trở thành vô nghĩa.
Bởi vì mọi thứ đã được định đoạt xong rồi.
Những cây thể tre ấy hết tác dụng.
Trò chơi đã kết thúc.
Và bây giờ chỉ còn việc công bố kết quả.
Còn câu thứ ba
Đỏ vàng đen trắng chính là bốn màu sa của loài người.
Điều mà tượng 59 ngô tả.
Nói cho gọn.
Là một trạng thái không còn biên giới.
Không thành trì.
Không phủ đệ.
Không trùng tộc.
Không phê phái.
Chúng mình tạm gọi nó là tấm bản đồ không đường kẻ.
Và đây mới là chỗ đáng chú ý nhất.
Tấm bản đồ ấy không được vẽ ra bằng chiến tranh.
Không phải bằng một lý quốc nước trọn thiên hạ.
Không phải bằng một liên minh các cường quốc ngồi lại chia phần.
Nó được vẽ ra bởi một người.
Nhất nhân phi đại.
Thế giới phúc.
Một người.
Trong toàn bộ 60 tượng của Thôi Bố Đồ.
Có vua chúa.
Có tướng lĩnh.
Có loạn ngạc.
Có triều đại sinh ra rồi mất đi.
Nhưng tới tượng thứ 59.
Tất cả những thứ đó miếng sạch.
Chỉ còn lại một người.
Và bốn màu sa không còn phân biệt.
Đó là văn bản thứ ba.
Bây giờ chúng ta đi sang bán đảo Triều Tiên.
Cách đây khoảng 470 năm.
Một học giả người Triều Tiên tên Nam Sư Cổ.
Hiệu cách am để lại một tập sách chia làm 60 thiền.
Gần bốn vạn chữ tên gọi cách am di lục.
Trong toàn bộ kho tàng sự ngôn phương Đông.
Đây có lẽ là văn bản nói thẳng nhất.
Gần như không ẩn dụ.
Gần như không ám hiệu.
Đọc lên là hiểu ngay.
Không cần giải mã.
Và chính vì thế mà nó đáng sợ hơn tất cả.
Đông phương xuất thánh là điều chắc chắn.
Nếu người phương Đông không nhận ra thánh nhân.
Thì người Anh, người Mỹ ở phương Tây lại hiểu ngài hơn.
Còn nếu cả Đông lẫn Tây đều không nhận ra ngài.
Thì chúng sinh thế gian biết phải làm sao.
Câu hỏi ấy đã treo lơ lửng gần 5 thế kỷ.
Và mình muốn các bạn để ý một điều về cấu trúc của đoạn phàm này.
Nó không phải một lời khẳng định.
Nó là một chuỗi giả định xếp trồng lên nhau.
Mỗi tầng một dấu hơn tầng trước.
Tầng thứ nhất người phương Đông nhận ra ngài.
Đó là kịch bản tốt nhất.
Và Nam Sư Cổ chỉ nói lướt qua trong được câu.
Tầng thứ hai người phương Đông không nhận ra.
Nhưng người phương Tây thì có.
Nghe qua thì lạ.
Vì sao người ở xa lại nhận ra trước người ở gần.
Nhưng nghĩ kỹ thì lại rắc đời.
Người ở quá gần thường là người khó nhìn thấy nhất.
Không có nhà tiên tri nào được kính trọng ngay tại quê hương mình.
Câu đó không phải ngõ nhiên mà thành hạn nữa ở cả Đông lẫn Tây.
Tầng thứ ba cả Đông lẫn Tây đều không nhận ra.
Và tới tầng này thì Nam Sư Cổ không đưa ra kết luận nữa.
Ông chỉ hỏi chúng sinh thế gian biết phải làm sao.
Câu hỏi đó không phải câu hỏi tư tử.
Nó là một khả năng có thật.
Được người viết đặt ra một cách nghiêm túc.
Và bỏ ngỏ bởi vì chính ông cũng không có câu trả lời.
Cách am si lục còn ghi một dòng khác.
Ngắn hơn nhưng nặng hơn.
Thích ca chi vận tam thiên niên.
Di lạc xuất thế trị thị vận.
Vận của Đức Thích ca kéo dài 3.000 năm.
Sau đó Phật di lạc xuất thế để nắm giữ vận ấy.
3.000 năm.
Các bạn hãy nhớ xúc mình con số này.
Lát nữa chúng mình sẽ quay lại với nó.
Và khi đó nó sẽ có một ý nghĩa hoàn toàn khác.
Bây giờ tới văn bản mà cá nhân mình cho là ly kỳ nhất trong cả 6.
Ở Trung Hoa có một bản dựng ngôn.
Tên là Thiêu Bính Ca.
Tức bài ca bánh nướng.
Cái tên nghe rất dân dã.
Và nó đến từ một sai thoại.
Chuyện kể rằng một hôm Minh Thái Tổ Chu Nguyên Trương.
Đang ăn bánh nướng mới cắn được một miếng.
Thì nghe báo lưu báo ôn xin vào yếp kiến.
Hoàng đế lấy bát úp chiếc bánh lại.
Rồi hỏi vị quân sư của mình xem trong bát có gì.
Lưu báo ôn seo quẻ đáp rằng.
Nửa giống mặt trời, nửa giống mặt trăng.
Từng bị vàng long cắn một miếng.
Đúng, từ khoảnh khắc đó hoàng đế bắt đầu hỏi tiếp.
Và những câu hỏi ngày một đi xa hơn khỏi chiếc bánh trong bát.
Tên gốc của bản dựng ngôn này thật ra không phải Thiêu Bính Ca.
Nó là Đế Sư Vấn Đác Ca.
Nghĩa là bài ca hỏi đáp giữa hoàng đế và quân sư.
Bản này từng được đưa vào vụ Vĩnh Ngạc Đại Điển.
Công trình viên soạn đồ sộ nhất mà Triều Minh từng thực hiện.
Một bộ sách được xem là con trí thức tổng hợp lớn nhất thế giới ở thời điểm ấy.
Nhưng theo tài liệu lưu truyền, khi đưa vào Vĩnh Ngạc Đại Điển có một đoạn đã bị lược bỏ.
Đoạn đó về sau được người ta gọi là Vạn Pháp Quy Tông.
Đoạn bị bỏ ra ấy không mất.
Nó được lưu truyền trong các chùa triền Phật giáo và mãi tới thời cận đại.
Từ một ngôi chùa ở Viện Nông An, tỉnh Cát Lâm mới ngan ra dần dàn.
600 năm nằm trong bóng tối.
Câu hỏi hiển nhiên là tại sao?
Một bộ sách đồ sộ như Vĩnh Ngạc Đại Điển chứa hàng vạn quyền
thu nạp đủ mọi thứ từ y thuật, nông học, thiên văn cho tới chuyện kể dân gian.
Vậy thì điều gì trong một đoạn văn ngắn khiến người ta phải nhức nó ra khỏi bộ sách quốc gia
rồi giấu trong chùa suốt 6 thế kỷ?
Chúng mình đọc thử nội dung đoạn đó rồi mỗi người tự trả lời.
Hoàng đế hỏi ai là người truyền đạo vào thời Vạn Pháp?
Lưu báo ôn đáp, có thơ làm chứng.
Bất tướng tăng lại bất tướng đạo.
Đầu đội tứ lượng xương nhung mạo, chân vật bất tại tự viện nội.
Tha trưởng di lặc nguyên đầu giáo.
Nghĩa là không phải tướng nhà sư, cũng không phải tướng đạo sĩ.
Đầu đội chiếc ngũ len nặng uống lạng, vật thật không ở trong chùa triền.
Vị ấy nằm giữ di lặc nguyên đầu giáo.
Câu thứ 2 mới là câu thú vị nhất và cũng là câu bị đọc lớt nhiều nhất.
Chiếc ngũ len nặng uống lạng
Nhiều người giải rằng đó là cách một người thời minh mô tả kiểu tóc ngắn của người hiện đại.
Bởi vì người xưa để tóc dài, mũi cao lên đỉnh đầu, còn mái tóc ngắn ôm sát ra đầu với con mắt của một người sống ở thế kỷ 14, trông đúng như đang đội một chiếc ngũ mỏng và nhẹ.
Nếu cách dài này đúng, thì Lưu báo ôn không hề nói về một thời đại xa xôi nào cả.
Ông đang mô tả một người cùng thời với chúng ta, một người có thể vừa đi ngang qua chúng ta trên phố sáng nay.
Còn ba chữ nguyên đầu giáo
Chữ nguyên đầu nghĩa là cội nguồn, là gốc dễ, là cái cân bản nhất mà từ đó vạn pháp sinh ra.
Không phải một tông phái, mà là cái đó trước mọi tông phái.
Hoàng đế hỏi tiếp, vậy si lạc giáng phàm ở đâu?
Và câu trả lời này, nếu phải chọn duy nhất một câu trong toàn bộ bài hôm nay để ghi nhớ, mình nghĩ nên chọn nó.
Vì giáo chủ tương lai khi hạ phàm, không rơi vào phủ tề tướng, cùng hàng quan viên.
Không ở Hoàng cung làm thái tử, không ở chùa triền, cũng không ở đạo quán.
Mà dáng vào trong môi nhà tranh của cái hàn vi, sự im năn triệu bắc mà dài vàng.
Bốn chữ không liên tiếp nhau.
Không quan trường, không Hoàng cung, không chùa triền, không đạo quán.
Chúng mình tạm gọi đó là quy tắc 4-0.
Và bây giờ, mời các bạn nhìn kỹ bốn nơi bị gạch đi ấy.
Quan trường là nơi con người tìm quyền lực.
Hoàng cung là nơi con người tìm sự chính thống.
Chùa triền là nơi con người tìm Phật.
Đạo quán là nơi con người tìm đạo.
Bốn nơi đó không phải bốn địa điểm ngẫu nhân.
Chúng chính xác là bốn gãnh cửa mà loài người suốt mấy nghìn năm vẫn gõ,
mỗi khi muốn tìm một điều gì đó cao hơn mình.
Liệu Bảo Âu nói, không nơi nào trong bốn nơi đó cả.
Ông không chỉ nói ngày ở đâu.
Ông nói trước rằng tất cả những chỗ mà chúng ta sẽ tìm đều sai.
Còn Yên Nang Triệu Bắc là cách gọi cổ của vùng phía Bắc Hạ Bắc và khu vực Bắc Kinh ngày nay.
Giải vàng ở đây không phải giải vàng thật,
mà là truyền ra một thứ chính pháp quý như vàng.
Bây giờ hãy thử hình dung khung cảnh mà đoạn văn này vẽ ra.
Không phải một tòa đại điện, không phải khói hương hy mút,
không phải tiếng chung đồng ngân trong sương sớm.
Chỉ là một mái nhà tranh, ở một nơi không ai để ý,
với một người mà nếu đi ngang qua, chúng ta sẽ không quay đầu lại nhìn lần thứ hai.
Nếu Lô Bảo Âu nói đúng, thì suốt bao nhiêu năm qua,
loài người đã tìm sai chỗ.
Chúng ta tìm thần trong đền đài Nguyên Nga,
tìm Phật trong tộ vàng tượng đồng,
tìm chân lý ở nơi có mãi ngói công và công tăm quan.
Còn Ngai thì ngồi trong một căn nhà tranh.
Và có lẽ đó chính là lý do đoạn văn ấy tỵ nhất ra khỏi tỉ lạc đại điện.
Bởi vì nó không đe dọa triều đình, nó đe dọa một thứ lớn hơn nhiều.
Nó nói rằng, cả bốn hệ thống mà xã hội loài người dựng lên
để chứa được sự linh thiêng,
tới lúc quan trọng nhất sẽ không chứa nồn tiểu linh thiêng ấy.
Đến đây, một câu hỏi rất tự nhiên sẽ nảy lên trong đầu.
Vì sao Vân Đông nói về vật di lạc,
còn Vân Tây nói về đấng Mesia,
mà hai bên lại ngô tả cùng một không cảnh đến vậy.
Và ở đây, có một hướng nghiên cứu đưa ra câu trả lời từ phía ngôn ngữ học.
Nó khá bất ngờ.
Học giả Quý Tiễn Lâm,
người được coi là bậc thầy đông phương học của Trung Quốc,
cùng học trò của ông là giáo sư Tiền Văn Trung ở Đại học Phục Đán,
đã dành nhiều năm truy tìm nguồn gốc của chính hai chữ di lạc.
Bởi vì có một điều rất kỳ khôi mà người Trung Hoa nào biết chữ cũng nhận ra,
nhưng ít ai hỏi tới.
Trong tiếng Phạn, danh sưng của vị Phật tương lai là Maitreya.
Trong tiếng Bali, ngôn ngữ đại chúng thời Đức Phật còn tại thế là Maitreya,
đọc lên cả hai đều trông giống di lạc.
Chuyện này không phải tới thời hiện đại mới có người phát hiện.
Chính Ngài Nguyên Trang Nời Đường,
sau khi sang Ấn Độ học hơn 10 năm và trở về với kho kinh điển đồ sổ,
đã nói thẳng rằng phiên âm cũ dịch sai, đáng lẽ phải dịch là Maitreya mới đúng.
Nhưng dân gian không nghe, người ta vẫn quen gọi là di lạc.
Cách dịch của vị cao tăng lỗi lạc bậc nhất lịch sử Trung Hoa suốt cuộc
chỉ nằm lại trong sách của dương ông.
Vậy hai chữ di lạc từ đâu ra?
Câu trả lời của Quý Tiễn Lâm nằm ở một chỗ mà ít ai ngờ tới.
Ông chỉ ra rằng các bản kinh Phật sớm nhất truyền vào Trung Hoa
không phải bản tiếng Phạn truyền của Ấn Độ.
Chúng là những bản được gọi là hồ bản.
Viết bằng ngôn ngữ của vùng Trung Á và Tây Vực cổ,
kinh Phật không bay thẳng từ Ấn Độ sang Trường An.
Nó đi bộ qua sa mạc, qua các ốc đảng,
qua Tây hết dân tộc này tới dân tộc khác trên con đường tư luận.
Và trong tiếng Tochari, ngôn ngữ cổ của vùng Tân Cương,
danh sưng ấy là Metrak hoặc Maitrak.
Chính từ dạng này mà tiếng Hán phiên âm thành di lạc.
Bây giờ, đặt nó cạnh phương Tây,
đường công thức mà phương Tây chờ đợi,
tiếng Anh gọi là Mathias.
Chữ ấy bắt nguồn từ Mathias trong tiếng So Thái Cổ.
Metrak, Mathias, hai chữ ấy đọc lên gần nhau
tới mức khó mà bỏ qua.
Giáo sư Tiền Văn Trung còn khảo chứng thêm một điều nữa
và điều này mở rộng câu chuyện ra rất xa.
Khoảng một nghìn năm trước công nguyên,
trên một vùng đất rộng lớn trải từ Tây Á, Bắc Phi,
Tiểu Á, Lương Vực, Lưỡng Hà cho tới Ai Cập,
đã tồn tại một tín ngưỡng chung.
Tín ngưỡng về một đấng cư thế sẽ đến trong tương lai.
Con người ở khắp vùng đất ấy tin rằng
có một đấng như vậy và ngài sẽ mang lại
một điều gì đó mà đời này không có.
Tín ngưỡng Mathias trong cử ước là dạng tiêu biểu nhất của nó.
Còn tín ngưỡng di lạc của Ấn Độ,
theo ông, cũng là một nhánh trải xa từ cùng dòng sông ấy.
Ở đây mình muốn nói rõ một điều
để các bạn có thể tự cân nhắc.
Đây là một giả thiết đối chiếu về ngôn ngữ và văn hóa,
chứ không phải một kết luận đã được toàn bộ
dưới ngôn ngữ học thống nhất.
Có học giả đồng tình, có học giả phản đối,
cho rằng sự gần âm giữa hai từ
ở hai ngữ hệ khác nhau có thể chỉ là trùng hợp.
Người nghe hoàn toàn có quyền giữ lại sự phái nghi của mình
và mình nghĩ giữ lại sự phái nghi ấy là điều lành mạnh.
Nhưng nếu tạm các chuyện chữ nghĩa sang một bên
và chỉ nhìn vào nội dung mà hai bên mô tả,
thì bức tranh lại trùng khớp đến mức khó chịu.
Một ấn đến vào lúc đạo đức nhân loại xuống thấp nhất,
đến từ phương Đông,
cứu độ không phân biệt trùng tộc,
mang theo một luồng sáng lớn.
Và ở đây mình phải thua thật một điều với các bạn.
Từ đầu tới giờ chúng mình nói là 6 văn bản,
nhưng thật ra còn một văn bản thứ 7
mà mình cố tình để dành tới lúc này.
Đó là kinh thánh.
Trong phúc âm Matthew chương 24 câu 27
có một dòng mà bất cứ ai từng đọc rồi cũng khó quên,
rằng như tiêu chấp lé ra từ phương Đông
và chiếu sáng tới tận phương Tây,
sự quan lâm của con người cũng sẽ như vậy,
từ phương Đông chiếu sang phương Tây,
cùng một hướng mà Notre Dame nói chỉ,
cùng một hướng mà Nam Sư Cổ nói,
cùng một hướng mà Thôi Bố Đồ và Mã Tiền Khóa
cũng ngâm chỉ về.
Và còn một chi tiết nữa nhỏ thôi,
nhưng đáng nhắc.
Trong kinh thánh,
Đấng Cưu Thế được gọi là vua của môn vua,
chúa của môn chúa.
Còn trong kinh Phật,
vị Phật Thương Ngai được gọi là truyền luân thánh phương
hay truyền luân pháp vương,
hay danh sân,
hay nền văn minh,
hay thứ tiếng,
nhưng cùng một cấu trức,
cùng một cách nói về một vị đứng trên tất cả các vị vua.
Bây giờ chúng mình quay lại con số 3.000 năm.
Trong kinh Pháp Hoa Văn Cú,
quyền 4 Phần Thượng có ghi rằng
hoa ưu đàm là loài hoa mang dấu hiệu thiên liêng.
3.000 năm mới xuất hiện một lần,
và khi nó xuất hiện thì Kim Luân Phương ra đời.
Sách Huệ Lâm Âm Nghĩa,
quyền 8 chép rõ hơn.
Hoa ưu đàm bà Nga là hoa của điều lành,
là hiện tượng thiên liêng,
là hoa của trời,
thế gian vốn không có.
Nếu Kim Luân Phương hạ sinh xuất hiện ở thế giới,
thì do phúc báu và công đức thù thắng
mới khiến hoa này nở ra.
Kim Luân Phương chính là truyền luân thánh phương,
cũng chính là vị Phật tương lai
được tiêm tri trong Kinh Phật.
Kinh Vô Lượng Thọ cũng chép tương tự
và bổ sung thêm một ý
mà mình cho là quan trọng bậc nhất,
rằng vị ấy sẽ truyền một pháp môn tu luyện
không giấc thế duyên,
nghĩa là không cần cắt bỏ mối xuyên với đời thường,
không cần rời khỏi thế tục,
mà vẫn có thể tu thành,
không phải vào chùa, không phải cạo đầu,
không phải lên núi,
sống giữa đời mà tu.
Các bạn có thấy điều gì quanh không?
Nó khắp lại một cách kỳ lạ
với quy tắc 4.0 của Lưu Bảo Âu.
Một bên nói ngày không ở chùa triền đạo quán,
một bên nói pháp môn ngày truyền
không cần rời thế tục.
Hai văn bản,
một ở Ấn Độ hơn 2.000 năm trước,
một ở Trung Hoa 600 năm trước
cùng vẽ ra một điều giống nhau.
Còn về hoa ưu đàm,
thì có một sự kiện thực tế đã được ghi nhận.
Tháng 7 năm 1997,
tại một ngôi chùa
ở tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc,
người ta phát hiện 24 bông hoa trắng cực nhỏ
nở trên ngực
một phong tượng vật bằng đồng mạ vàng.
Mỗi bông chỉ khoảng 1mm,
mọc trên một khuống mảnh như sợi tơ,
mảnh tới mức
vài soi kính nút mới thấy rõ,
trắng ngút.
Sự việc được truyền thông Hàn Quốc đưa tin
và cái tên ưu đàm bà la
sau hàng nghìn năm nằm im trong kinh sách
như một hình ảnh ẩn rụ
bỗng nhiên được nhức lại trên báo chí hiện đại.
Sau đó, hiện tượng tương tự
tiếp tục được ghi nhận
ở Trung Quốc đại độc, Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia
rồi nan sang tận Bắc Mỹ.
Trên tượng vật,
trên không cửa sổ, trên lá cây,
trên cả những vật dụng bình thường nhất trong nhà.
Ở đây mình phải trình bày cả hai phía
và mong các bạn nghe cả hai.
Giới côn trùng học cho rằng
những gì được chụp lại
phần lớn là trứng một loài chuồn chuồn cọ.
Đây là một loài côn trùng có tập tính
để trứng trên đầu một cuốn đưa dài
để kiến mà các loài ăn trứng khác
không bỏ tới được.
Nhìn sự kính hiển vi, trứng chuồn chuồn
có quả thật rất giống những gì
người ta gọi là ba ưu đàng.
Đây là một giải thích hoàn toàn có cơ sở khoa học
và mình nghĩ không nên gạt nó đi.
Phía còn lại thì đưa ra một lực lượng khác
rằng trứng chuồn chuồn
còn nở và tàn trong vài ngày.
Ấu trùng chui ra rồi cuống tương khô lại.
Trong khi nhiều mẫu vật
được giữ hàng tháng, thậm chí hàng năm
mà không héo.
Có mẫu bị đè bẹp rồi vẫn bung nở lại như cũ.
Mình không đứng về phía nào cả.
Mình chỉ đặt hai lực lượng cạnh nhau
và để các bạn tự quyết định.
Nhưng có một điều thì không ai chạy cãi.
Đó là thời điểm, năm 1997.
Nếu tính theo ghi chép trong
viên sách vật giáo về nền đại
thập diệt của Đức Thích Cà Môni
thì tới năm ấy, con số
3.000 năm vừa vạn tròn,
3.000 năm trong Cách An Di Lộ,
3.000 năm trong Kinh Pháp Hoa Văn Cú,
3.000 năm trong Huệ Lâm Âm Nghĩa
và 500 năm trong
bài thơ số chính tư của Notre Dame
đưa chúng ta tới khoảng
từ năm 2003 tới
2066. Hai chiếc đồng hồ
được lên xây ở hai đầu thế giới
bởi những người không hề biết
đến nhau, cách nhau hàng nghìn năm
lại cùng điểm chuông vào chính khoảng
thời gian mà chúng ta đang sống.
Bây giờ chúng mình ngồi lại một bước
và nhìn toàn cảnh. Chúng mình vừa đi qua
sáu văn bản, cộng thêm một văn bản
thứ bảy. Ba bài thơ
của Notre Dame ở nước Pháp thế kỷ
16, Mã Tiền Khóa
của Gia Khắc Lượng thế kỷ thứ ba,
Thôi Bố Đồ Đồi Đường thế kỷ thứ bảy,
Cách An Di Lục của Nam
Sư Cổ ở Triều Tiên thế kỷ
16. Theo vĩnh ca của
Lưu Báo Âu đời mình, các bộ kinh
Phật có tuổi hơn 2.000 năm và
phúc âm Matthew bảy nguồn bảy
nên văn hóa, bảy thứ tiếng.
Những người viết ra chúng phần lớn
không hề biết nhau, không đọc được
chữ của nhau và không có bất kỳ
khả năng vật lý nào để bàn bạc với nhau.
Vậy mà cả bảy đều nói
cùng một số điều, rằng
có một thời kỳ mà đạo đức nhân loại
sẽ suy đổi tới mức chưa từng có
trong lịch sử, rằng vào đúng thời kỳ đó
một vị thánh nhân sẽ xuất hiện,
rằng vị ấy đến từ phương Đông,
rằng vị ấy không mang thân phận
cao quý, không ở nơi tuân nghiêm
mà sống giữa dân thường,
rằng điều vị ấy mang tới không dành
riêng cho một dân tộc nào, mà cho
cả bốn màu da, cả Đông Tây
Nam Bắc, và rằng phần lớn
nhân loại sẽ không nhận ra vị ấy
vào lúc vị ấy còn ở đây.
Điểm cuối cùng ấy, mình nghĩ
mới là điều đáng suy ngẫm nhất trong toàn
bộ câu chuyện hôm nay, bởi vì hãy
để ý, tất cả những lời tiên tri này
xét cho cùng đều không dừng
lại ở việc sự báo, chúng cảnh báo
và điều chúng cảnh báo không phải
thiên tai, không phải chiến tranh,
không phải bệnh dịch, chúng cảnh báo
về sự không nhận ra, cách an
di lộ khỏi thẳng, nếu cả đông
lẫn Tây không nhận ra ngài,
thì chúng sinh biết phải làm sao.
Notre-Dame-Bosch viết rằng
bí mật bị đóng kín, và người ta
sẽ dẫn lên nó mà đi qua.
Nếu bảo ôn thì gạch sạch
bốn nơi mà con người quên tìm kiếm.
Như thế ông viết trước rằng, chúng ta
sẽ tìm ở đó và sẽ không thấy gì.
Ba giọng nói, ba thời đại,
ba nền văn hóa cùng một nỗi lo.
Và nếu đọc thật kỹ, chúng
mình sẽ nhận ra một điều nữa,
một điều mà lúc đầu mình cứ tưởng
là do các bản sự ngôn viết thiếu.
Chúng chưa bao giờ cho chúng ta
một địa chỉ, không tạo độ, không tên,
không ngày tháng cụ thể, không một
dấu hiệu nào mà chúng ta có thể
mang ra đối chiếu, như đối chiếu
một tấm ảnh với một môi mặt.
Thứ duy nhất chúng mô tả tỉ mì,
đến lúc lặp lại qua 7 văn bản
khác nhau, lại toàn là những
đặc điểm phủ định. Không ở nơi
to sang, không mang hình tướng đặc biệt,
không thuộc về một trùng tộc,
sống giữa người thường. Ban đầu,
mình cứ nghĩ đó là do các nhà tiên tri
không nhìn rõ, nhưng càng đọc
mình càng nghiêng về một khả năng khác
rằng họ nhìn rất rõ và họ
cố tình không nói. Bởi vì nếu
các bản sự ngôn ấy cho một
địa chỉ chính xác, thì mọi chuyện
đã trở thành một cuộc thi tìm kiếm.
Ai nhìn chân hơn, ai đọc
được nhiều sách hơn, ai ở gần hơn
người đó thắng. Nhưng nếu không
có địa chỉ nào cả, thì cuộc thi
ấy không tồn tại. Và lúc đó
thứ quyết định ai nhìn thấy và ai không
sẽ hoàn toàn không còn
vị trí, học vấn hay may mắn
mà là trạng thái của tấm lòng
người đang đứng đó. Chúng mình
tạo gọi đó là phép thử ngược.
Bởi vì suốt bao nhiêu thế kỷ, chúng ta
vẫn tưởng những lời tiên tri
là bài kiểm tra dành cho vị thanh nhân
rằng ngài phải xuất hiện đúng nơi,
đúng lúc, đúng dấu hiệu thì mới
đúng là ngài. Nhưng đọc kỹ
thì hóa sang ngược lại. Bài kiểm tra
không dành cho ngài, nó dành cho
chúng ta. Người mong lòng kêu ngạo
sẽ chỉ thấy một người tầm thường
trong căn nhà tranh, rồi bước tiếp.
Người mong lòng khiêm cung
sẽ thấy một điều khác khẳng ở cùng
một chỗ trong cùng một khoảnh khắc,
cùng một cảnh, hai con mắt,
hai kết quả. Và đó cũng chính là
lý do vì sao Notre Dame
bớt viết rằng người ta sẽ dẫm lên
bí mật ấy mà đi qua, không
phải vì bí mật được giấu quá kỹ,
mà vì nó nằm ngay dưới chân,
ở chỗ không ai nghĩ tới việc cuối
mình xuống. Cho nên, có lẽ
câu hỏi mà bệnh văn bản này
thật sự đặt ra suốt 2.000
năm qua chưa bao giờ là thánh niên
đang ở đâu, mà là một câu hỏi khác,
riêng tư hơn nhiều, và cũng
khó trả lời hơn nhiều. Rằng nếu
ngài đi ngang qua ngày hôm nay, giữa
một ngày rất đổi bình thường, trong
hình dáng của một người rất đổi bình thường,
không hào quang, không điềm lành,
không một dấu hiệu nào cho chúng ta
bám vào, thì chúng ta có đủ
tĩnh lặng trong lòng để nhận ra không?
Câu hỏi ấy không một lời tiên tri
nào trả lời thay chúng ta được.
Nó chờ mỗi người tự trả lời
bằng chính cách mình sống mỗi ngày.