Chuyện Nhân Quả: Người Có Chí Không Sợ Nghèo, Người Biết Nhìn Người Mới Có Phúc

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
CÂU CHUYỆN HỒNG TRẦN NGOÀNH LẠI HÓA CHO BAY
Liệu đôi mắt Phạm Trần nhìn vào túi bạc, có bao giờ thấy được chí hướng của một bậc đại trượng phu hay chỉ thấy sự nghèo hèn cốt để dẻ khinh?
Giữa thế gian vạn biến, lòng người nông sâu khó lường, kẻ đứng trên cao thường quên mất rằng dưới chân mình vốn là bùn đất,
mà từ bùn đất ấy đóa sen thanh cao nhất vẫn có thể vươn mình đón nắng mai.
Câu chuyện này không chỉ là một giai thoại về sự đổi rời của số phận,
mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh về đạo lý nhân quả, về cái giá của sự ngạo mạn và lòng tráo trở.
Có những người cả đời đuổi theo phù hoa, để rồi khi ngoảnh lại,
thứ họ đánh mất chính là chân tình quý giá nhất mà tiền bạc chẳng thể mua lại được.
Bối cảnh mở đầu bằng một buổi chiều tà nhuộm đỏ, cả bến sông Giang Nam,
gió heo may thổi qua những dặng liễu rủ, mang theo hơi lạnh của sự chia ly
và cả mùi hương trầm mặc của sách cũ lẫn trong vị mặn của mồ hôi.
Tiếng đàn tranh từ trong lầu cao của nhà họ tạ vọng ra, thanh âm sắc lạnh,
cao vút như muốn cắt đứt sợi dây tơ hồng mỏng manh giữa hai kẻ không cùng đẳng cấp.
Dưới chân lầu, một bóng hình đơn độc trong chiếc áo vải thô đã sờn vai,
lặng lẽ đứng giữa sự hào nhoáng của phù đệ, tay nâng niu một sấp giấy tuyên thành lấm lem bùn đất.
Thầm chi tiết là một kẻ sĩ như thế.
Chàng mồ côi từ sớm, thân phụ vốn là một quan văn thanh liêm nhưng lâm bệnh qua đời,
để lại cho chàng một gia tài duy nhất là ý chí kiên định và những lời dân dạy về đạo làm người.
Chàng sống trong căn tròi nát bên bìa rừng, ngày ngày trẻ củi thuê để đổi lấy gạo muối,
nhưng đêm đêm dưới ánh đèn dầu leo lét, chàng vẫn miệt mải với những trang kinh sự.
Tâm thế của thầm chi tiết lúc nào cũng ung dung,
dù bụng đói nhưng ánh mắt vẫn sáng quắc khí chất của một người mang hoài bão kinh băng tế thế.
Chàng không oán trách số phận, cũng chẳng tự ti trước sự khốn củng,
vì chàng biết rằng thanh kiếm báu phải qua lửa đỏ,
kẻ đại trượng phu phải qua bị cực mới mong thấu hiểu được nỗi khổ của nhân gian.
Đối lập với vẻ thanh cao đó là
Tạ Uyển Nhi, đại tiểu thư nhà họ Tạ, gia tộc giàu có bậc nhất vùng.
Nàng sở hữu dung mạo tuyệt trần,
đôi mắt phượng mày ngài khiến bao vương tôn công tử phải say đắm.
Thế nhưng, đằng sau lớp lụa, là gấm vóc ấy là một lòng dạ hẹp hỏi,
thực dụng và tôn thờ hư vinh tột độ.
Đối với Uyển Nhi, giá trị của một con người được đo bằng số lượng ruộng vườn,
bằng những hòm vàng bạc và địa vị trong xã hội.
Nàng coi sự nghèo khó là một loại tội lỗi,
và những kẻ hành vi như thầm chi tiết chỉ là những hạt bụi bỏng làm bẩn đi thảm gấm đỏ dưới chân nàng.
Hôm ấy, khi kỳ thi đình đang cận kể, thầm chi tiết mang lễ vật đến phụ họ Tạ.
Đó là một đôi vịt cỏ và sắp giấy tuyên thành,
những thứ mà chàng đã chắc chiêu từ bao tháng ngày lao động cực nhọc.
Chàng đến không phải để cầu xin một bữa no,
mà để thực hiện lời hứa hôn năm xưa của phụ thân hai nhà khi còn sinh thời.
Chàng muốn báo cáo với nhạc phụ tương lai rằng mình sẽ lên kinh ứng thí,
và mong muốn hoàn thành tâm nguyện của người quá cố.
Tại đại sành đường phụ họ Tạ,
nơi những chiếc ghế gỗ chắc được chạm trổ tinh xảo và hương trầm tỏa ra ngào ngạt,
Quyền Nhi ngồi đó, vây quanh là đám công tử quyền quý đang cầm quạt xếp, cười nói rôm giả.
Khi thầm chi tiết bước vào, không gian bỗng chốc lặng xuống, rồi nổ ra những tiếng cười khinh khỉnh.
Quyền Nhi nhìn đôi vịt cỏ đang kêu quảng quạc trong lồng tre và sấp giấy thô sơ trên tay chàng,
đôi môi đỏ mỏng khẽ nhất lên một nụ cười đầy cay nghiệt.
Nàng không đợi cha mình lên tiếng,
đã đứng bật dậy, bước đến trước mặt thầm chi tiết với vẻ mặt đầy vẻ khinh miệt.
Thầm chi tiết, anh nhìn lại mình xem.
Thân mẫu anh chết sớm, cha anh trắng tẩy.
Ngay đến cái mái tre đầu còn rột nát, anh lấy gì để nuôi ta?
Lấy vài cuốn sách rách hay lấy cái danh mồ côi ra để ta thương hải?
Giọng nói của nàng thanh tao,
nhưng lời lẽ lại như những mũi kim độc đâm thẳng vào lòng tự trọng của một kẻ sĩ.
Nàng nhìn đám công tử xung quanh như để tìm kiếm sự đồng tình rồi tiếp tục.
Kẻ hàn vi như anh, cả đời này chỉ xứng làm nô bọc cho nhà ta,
rửa chân cho gia nhân nhà ta còn chưa đủ tư cách,
vậy mà dám mơ tượng treo cao.
Anh nghĩ đôi vịt cỏ này và mớ giấy lộn kia có thể đổi được một vị tiểu thư cành vàng lá ngọc sao?
Nói đoạn, quyển nhi ra lệnh cho gia nhân ném đôi vịt cỏ ra ngoài cổng,
và chính tay nàng đã giật lấy sấp giấy tuyên thành từ tay thẩm chi tiết,
vò nát rồi ném thẳng xuống vũng bùn đất trước sân sau trận mưa phùn.
Tiếng giấy rách khẽ vang lên giữa không gian yên lặng đến đáng sợ.
Lão quản gia họ tả,
Người đã chứng kiến bao đời thăng trầm của phụ này,
chỉ biết thở dài quay đi,
trong lòng dâng lên một nỗi bất an khó tả trước sự tráo trở của tiểu thư.
Thẩm chi tiết đứng đó,
giữa sự nhạo bán của đám người quyền quỷ.
Chàng không giận dữ, không đỏ mặt tía tai tranh cái.
Chàng lặng lẽ bước xuống sân,
dưới cơn mưa phùn đầu mùa đang bắt đầu nặng hạt,
cuối người nhặt lại từng tờ giấy tuyên thành đã lấm lem bùn đất.
Chàng dùng vạt áo sơn cũ của mình,
để lau đi những vết bẩn trên mặt giấy,
cử chỉ cần trọng như đang nâng niu chính linh hồn của mình.
Chàng ngần đầu nhìn Uyển Nhi,
ánh mắt không còn sự lưu luyến của tình cảm cũ,
mà chỉ còn là sự thả nhiên đến lạ lùng.
Chàng khẽ cuối đầu trào theo đúng lễ nghi của kẻ sĩ,
rồi quay lưng bước đi,
bóng hình chàng cô độc,
lưu siêu trong màn đêm hunh hút của con ngó nhỏ,
nhưng sống lưng vẫn thẳng tắp như một cây trúc giữa bão rồng.
Uyển Nhi đứng trên hiên cao,
nhìn theo bóng lưng ấy,
mà lòng vẫn chưa ngôi cơn giận.
Nàng không biết rằng,
chính vào khoảnh khắc nàng ném sấp giấy kia xuống bùn,
nàng đã tự tay ném đi sợi dây cứu mệnh của đời mình.
Nàng quay lại phía đám công tử,
lớn tiếng tuyên bố rằng,
nàng sẽ gả cho người có quyền thế nhất vùng này,
để chứng minh rằng,
một đóa hoa mẫu đơn như nàng,
chỉ có thể nở trong trậu ngọc,
chứ không bao giờ cúi đầu trước cỏ dại ven đường.
Đêm đó, trong căn tròi nát,
thầm chi tiết thắp lên một ngọn nến nhỏ.
Chàng trải những tờ giấy đã khô lại
sau khi được lau sạch trên mặt bàn gỗ mục.
Dù có những vết ố của bùn đất không thể xóa nhỏa,
nhưng chàng lại thấy chúng như những vết sẹo của vinh quang.
Chàng cầm bút, mực mài đen nhánh,
bắt đầu viết những dòng chữ đầu tiên cho bài luận thi đỉnh.
Chàng không viết về sự oán hận,
không viết về nỗi đau bị xỉ nhục,
mà chàng viết về chính sách an dân
và lòng tự trọng của kẻ sĩ.
Chàng viết về việc một đất nước muốn hưng thịnh,
thì người cầm quyền phải biết quý trọng nhân tài từ thùa hàn vi,
phải biết lấy đức trị thân trước khi dùng pháp trị dân.
Mỗi nét chữ như phượng múa dòng bay
mang theo toàn bộ chi tiết
và sự ướt ức được chuyển hóa thành sức mạnh trí tuệ.
Trong khi đó, tại phù họ tả,
một cuộc hôn nhân nhuống màu lợi ích đang được sắp đặt.
Quyền Nhi đã nhanh chóng nhận lời cầu hôn
của con trai vị huyện Quang đầu tỉnh.
Một kẻ nổi tiếng ăn chơi chắc táng,
nhưng lại có cha là người nắm giữ quyền sinh quyền sát trong tay.
Nàng ngỡ rằng bước vào cửa nhà Quang
là bước vào thiên đàng hạ giới,
mà không hề hay biết rằng
những kẻ gieo gió thì sớm muộn cũng sẽ gạt bão.
Nhân quả vốn dĩ không bỏ sót một ai,
chỉ là thời điểm chưa tới mà thôi.
Cảnh vật bỗng chốc chuyển rời,
thời gian như thòi đừa.
Kỳ thi đình diễn ra tại kinh thành
dưới sự giám sát nghiêm ngặt của triều đình.
Thẩm chi tiết với đôi giày vải đã rách mũi,
tay nải đơn sơ,
bước vào trường thi với một tâm thế bình thản
như đi dạo trong vườn hoa.
Chàng dùng chính những tờ giấy tuyên thành
lấm bùn năm xưa để trình bày bài thi của mình.
Khi những vị giám khảo nhìn thấy sắp giấy ô vàng ấy,
họ định loại ngay từ đầu.
Nhưng khi vừa đọc những dòng chữ đầu tiên,
tất cả đều phải sững sở.
Văn phong của chàng sắc xạo như gươm báu,
ý tứ sâu xa như biển cả,
và đặc biệt là sự thấu hiểu nỗi khổ của dân đen
mà chỉ những kẻ từng trải qua tận cùng nghèo khó mới có được.
Tại vùng quê nghèo,
Quyền Nhi đang lên kiệu hoa về nhà chồng
trong tiếng pháo nổ vang trời.
Nàng ngồi trong kiệu,
mặc áo đại hồng bào theo kim tuyến,
tay cầm quạt che mặt,
lòng đầy tự đắc.
Nàng nghĩ đến thẩm chi tiết,
có lẽ giờ này đang chết đói
ở một xóa xỉnh nào đó trên đường về Kinh
hoặc đang phải quỳ gối xin ăn.
Nàng mìm cười,
một nụ cười của sự chiến thắng ảo ảnh,
mà không biết rằng chính lúc này
vòng quay của định mệnh đã bắt đầu đào chiều.
Sau ngày đại hỷ phô trương rình rang khắp vùng,
tạ Quyền Nhi bước chân vào cửa nhà huyện Quan
với tâm thế của một bậc mẫu nghi thiên hạ tương lai.
Nàng ngỡ rằng từ đây,
đôi bàn tay ngọc ngà của mình
sẽ chỉ để chạm vào lụa thượng hạng
và những chén trà sương sớm.
Thế nhưng,
bi kịch của một cuộc hôn nhân đổi chác
đã sớm lộ ra lớp vỏ bọc thối giữa của nó.
Gã chồng của nàng,
vốn là một công tử bột,
chỉ biết dựa hơi phụ thân,
đã sớm bộc lộ bản chất
của một kẻ tiểu nhân đắc trí.
Hắn không cưới nàng vì tình,
mà vì khối gia sản kết xù của họ.
Tạ và vì nhan sắc của nàng
chỉ như một món đồ chơi mới lạ
để hắn khoe khoang với đám bằng hữu trác táng.
Những đêm dài trong phù huyện Quan,
Quyền Nhi không được nghe tiếng đọc
mà chỉ nghe tiếng xuất sắc va vào nhau lách cách,
tiếng cười hô hố của những kẻ say xưa
và tiếng roi vọt nện xuống lưng
những kẻ hầu người hạ tội nghiệp.
Chồng nàng,
kẻ mà nàng ngỡ là chỗ dựa vinh hoa,
lại là một con ma bạc chính hiệu.
Hắn nướng sạch tiền bạc vào những sòng bài thâu đêm,
rồi khi trở về với nồng nặc mùi rượu,
hắn lại chút giận lên nàng
bằng những lời nhục mạ không kém gì
cách nàng từng đối xử với người cũ.
Ngươi nghĩ mình là ai?
Một thứ hàng hóa mà cha ta mua
về bằng quyền lực mà thôi,
đừng có đem cái vẻ tiểu thư đài các đó ra
mà làm mặt lạnh với ta.
Tiếng thét của hắn vang lên trong đêm thanh vắng,
kèm theo đó là tiếng đổ vỡ
của những bình ngọc quý giá.
Quyền Nhi chỉ biết ôm mặt khóc,
nước mắt nàng chạy xuống,
thấm vào những tấm lụa đào mà nàng từng hãnh diện,
giờ đây chúng cảm thấy lạnh léo
và vô hồn đến lạ thường.
Nàng bắt đầu nhớ về bóng lưng thẳng tắp
của thầm chi tiết,
người từng nhìn nàng bằng ánh mắt trân trọng nhất
dù trong tay không có một đồng su dính túi.
Nhưng sự hối hận ấy
chỉ vừa nhen nhóm
đã bị sự kêu ngạo của nàng dập tắt,
nàng tự nhủ.
Hắn ta chắc gì đã sống sót qua kỳ thi,
dù sao ta vẫn là phu nhân nhà quan,
vẫn hơn kẻ đi trẻ
củi thuê kia vạn lần.
Thế nhưng, lưới trời lồng lỏng,
thưa mà khó lọt.
Trong khi Uyển Nhi đang chịu đựng địa ngục trần gian
trong nhung lũa,
thì tại Kinh Thành, một cơn địa chấn chính trị
đã nổ ra.
Vị huyện quan, cha chồng của Uyển Nhi,
từ lâu đã cấu kết với bọn cường hào ác bá,
ăn chặn tiền cứu trợ thiên tai
và nhận hối lộ để bao che
cho những vụ án oan sai.
Những lá đơn tố cáo bí mật
đã được gửi đến tận tay ngự sử.
Và điều không ai ngờ tới,
người chắc bút cho bản tấu trương vạch trần
những tội ác ấy
chính là thẩm chi tiết.
Ngày bãi thi đỉnh của thẩm chi tiết
được Hoàng thượng Phê Duyệt
cũng là ngày lệnh truy quét tham quan được ban xuống.
Bài luận của chàng không chỉ là văn trương,
nó là một bản thiết kế
cho một triều đại liêm chính
nơi mà kẻ sĩ không phải quỳ gối
trước túi tiền của những kẻ hống hách.
Hoàng thượng Phê Bút
Văn trương ấy là hơi thở của dân,
khí tiết ấy là giường cột của nước.
Thẩm chi tiết xứng đáng
đứng đầu bảng vàng.
Vàng treo lên rực rỡ trước cổng kinh thành.
Cái tên thẩm chi tiết
chém trẻ ở vị trí trạng nguyên
tỏa sáng như một viên ngọc quý
vừa được gột rửa sạch lớp bùn đen.
Tin vui truyền về quê nhà
như một cơn lốc.
Làm dúng động cả vùng Giang Nam.
Người ta kháo nhau về người thư sinh nghèo
năm xưa từng bị khinh rẻ.
Giờ đây đã hóa rộng,
sắp vinh quy bái tổ với mũ áo
cân đai đại triều.
Cùng lúc đó, bóng tối bao trùm
lấy phủ huyện quan.
Tiếng võ ngựa rồn rập của lính triều đình
vang lên giữa ban ngày ban mặt.
Lệnh tịch thu gia sản được đọc vang
trước cửa phủ.
Cha chồng Uyển Nhi bị siềng xích đưa đi.
Gã chồng trác táng của nàng
vì sợ hãi mà thu dọn những món đồ
quý giá cuối cùng để bỏ trốn
cùng một kỹ nữ trong vùng
bỏ mặc nàng lại giữa đống đồ nát
của sự nghiệp và danh vọng.
Tạ ra, chỗ dựa duy nhất của nàng
cũng bị liên lụy
vì những giao dịch tiền bạc
bất chính với nhà quàn.
Phủ đệ họ tà bị niêm phong.
Cha nàng vì quá sốc mà lâm bệnh liệt dường
của cái tích cóp cả đời
bỗng chốc tan thành mây khói.
Uyển Nhi, từ một đại tiểu thư
người đưa kẻ rước,
giờ đây chỉ còn lại bộ áo quần rách dưới
bị đám gia nhân cũ khinh rẻ xua đuổi.
Nàng lang thang trên những con phố
mà mình từng ngồi kiệu đi qua.
Đôi bàn chân vốn chỉ quen
đi hài theo giờ đây,
giữa máu vì sỏi đá.
Nàng đói, một cái đói cồn cào
mà trước đây nàng chưa từng hình dung nổi.
Khi nàng đi ngang qua
những quán ăn ven đường,
mùi thức ăn thơm phức bốc lên
khiến nàng thèm khát.
Nhưng khi nàng vừa đến gần,
người ta đã xua đuổi nàng
như xua đuổi một con hủi.
Đi đi, thứ đàn bà vong ân Phụ Nghĩa
thấy sang bắt quàng làm họ,
giờ thì biết mặt chưa?
Những lời chửi bới của dân làng
như những gáo nước lạnh
tạt thẳng vào mặt nàng.
Họ vẫn chưa quên cách nàng đã ném
đôi vịt cỏ và sấp giấy
của thầm sĩ tử xuống bùn năm ấy.
Nhân quả không đợi đến kiếp sau,
nó đang hiện hữu ngay trước mắt nàng,
cay đắng và trần trụi.
Trong cơn tuyệt vọng,
quyền nhi tìm về căn tròi nát
bên bìa rừng của thầm tri tiết,
nơi mà nàng từng thề
sẽ không bao giờ đặt chân tới.
Căn tròi giờ đây đã vắng lặng,
nhưng dường như vẫn còn
phản vất mùi mực tàu
và tiếng đọc sách vang vọng đâu đây.
Nàng quy sục xuống nền đất lạnh léo,
tay cào cấu xuống lớp bùn,
hy vọng tìm thấy một màu giấy vụ
nào đó của chàng còn sót lại.
Nàng bắt đầu phát điên, nàng cười
rồi lại khóc, miệng lầm bầm
những lời vô nghĩa.
Nàng nhận ra rằng, cái nghèo mà nàng
từng khinh rẻ, chính là sự thanh sạch nhất,
còn cái giàu mà nàng từng
tôn thở, lại chính là hỗ sâu
của sự đọa lạc. Đúng lúc ấy,
tiếng kèn trống vang trời
từ phía xa vọng lại, đoàn rước
tân trạng nguyên, đã về đến
đầu làng, tiếng võ ngựa oai hùng,
những lá cờ theo chữ thầm
bay phấp phới trong gió chiều.
Quyển nhi lào đào đứng dậy,
đôi mắt mơ bờ đục bỗng rẽ lên
một tia hy vọng cuồng dài. Nàng nghĩ,
hắn từng yêu ta sâu đậm,
hắn chắc chắn sẽ không bỏ mặt ta.
Chỉ cần ta xin lỗi,
chỉ cần ta nhắc lại lời hứa năm xưa,
nàng chạy bán sống bán chết
ra phía phố chính, nơi đoàn rước
đang đi qua. Đám đông
người dân đứng trên chúc hai bên đường,
tung hoa chúc tụng.
Thầm chi tiết, lúc này cửa
trên lưng con ngựa trắng cao lớn,
mặc áo gấm trạng nguyên màu đỏ
rực rỡ, đầu đội mũ cánh chuồn,
phong thái đĩnh đạc như một vị
tiên giáng trần. Gương mặt chàng
vẫn giữ vẻ ung dung như ngày nào,
nhưng giờ đây có thêm phần uy nghiêm
của một bậc quan triều đình.
Quyển Nhi điên cuồng lao ra
giữa đường, làm đoàn rước
phải dừng lại. Gia nhân định lao ra
đuổi nàng đi, nhưng thầm chi tiết
khẽ dơ tay ngăn lại.
Nàng quỳ dưới chân ngựa, mái tóc
rũ rưỡi, khuôn mặt lâm lêm
bùn đất và nước mắt, trông không khác
gì một kẻ ăn mầy hạng bét.
Chi tiết, thầm lang.
Là thiếp đây, Quyển Nhi đây.
Chàng nhìn thiếp đi,
thiếp đã sai rồi,
thiếp bị người ta lừa gạt,
thiếp đã mất tất cả rồi.
Chàng hãy cứu thiếp,
hãy đưa thiếp theo chàng về kinh thành.
Giọng nàng run dậy,
khan đặc, đôi bàn tay gầy guộc
cố bám lấy vạt áo bào của chàng.
Thầm chi tiết cúi xuống,
ánh mắt chàng bình thản như mặt hồ
không gợn sóng. Chàng nhìn nàng,
một cái nhìn sâu thẳm nhưng trống rỗng,
không có sự giận dữ,
không có sự trả thù,
và cũng tuyệt nhiên không còn một chút
vương vấn của tình cảm nam nữ.
Chàng nhẹ nhàng gỡ
đôi bàn tay của nàng ra khỏi vạt áo mình,
rồi chậm rãi lấy ra
từ trong túi áo một tờ giấy tuyên thành
đã cũ, trên đó vẫn còn những
vết ố của bùn đất, chính là
một trong những tờ giấy mà nàng đã ném xuống
sân năm xưa. Chàng khẽ nói,
giọng nói ấm áp nhưng lạnh lùng
như sương muối. Tả tiểu thư,
tờ giấy này, dẫu lấm bùn
nhưng chữ viết lên vẫn rõ,
còn lòng người một khi đã lấm bùn
thì dẫu có dùng bao nhiêu nước sông giang nam
cũng chẳng thể rửa sạch.
Người mà nàng tìm,
thầm chi tiết nghèo hèn của năm xưa
đã chết vào buổi chiều mưa năm ấy rồi.
Bây giờ,
trước mặt nàng chỉ có một vị quan
của triều đình, người có bổn phận
thực thi công lý, chứ không có
bổn phận nuôi dưỡng những kẻ coi thường
nhân nghĩa. Nói xong,
chàng không nhìn lại lấy một lần,
khẽ thúc ngựa tiến về phía trước.
Đoàn rước tiếp tục đi trong
tiếng nhạc rộn rã.
Để lại uyển nhi
ngồi bệt giữa đường, tay cầm tờ giấy
lấm bùn mà chàng vừa đưa lại.
Nàng ngờ ngơ nhìn tờ giấy,
rồi bỗng nhiên cười lớn.
Tiếng cười của nàng chua chát,
vang vọng khắp phố phường,
làm người nghe phải dùng mình.
Nàng bắt đầu nhặt những cánh hoa rơi trên đất,
xé vụng chúng ra,
và rắc lên đầu mình miệng lầm bậm.
Đừng ném đi,
đây là báu vật, trạng nguyên của ta,
giấy của ta.
Những người đi ngang qua
chỉ biết lắc đầu thương hại
cho một kiếp người từng ở trên cao,
nhưng vì tâm địa hẹp hỏi mà rơi xuống
tận cùng vực thẳm.
Bóng triều tà một lần nữa buông xuống bến sông,
nhưng giờ đây chỉ còn lại sự quảnh quẽ
đến nao lỏng.
Tạ uyển nhi, người con gái từng là
đóa hoa rực rỡ nhất vùng Giang Nam,
giờ đây chỉ còn là một bóng ma vật vờ
bên mép nước.
Nàng không còn điên dại gào thét,
mà chỉ lặng lẽ ngồi đó,
đôi bàn tay gầy cuộc dung dẩy
nhặt từng mảnh lá khô,
từng vụng giấy rách trôi rạt trên dòng nước đục.
Nàng gom chúng lại,
nâng nêu như thế đó là những thỏi vàng dòng,
rồi lại bật khóc nức nở
khi thấy chúng tan nát dưới làn mưa phùn.
Cơn gió lạnh lùa qua
kẽ tóc bạc trắng
dù tuổi đời còn xuân xanh.
Uyển nhi nhận ra rằng, thứ nàng vứt bỏ
năm xưa không phải là một sấp giấy rẻ tiền,
mà chính là phước báu
cả đời của mình.
Thậm chí tiết này đã là bậc đại thần cao quý
mang lại thái bình cho trăm họ,
còn nàng chỉ là một hạt bụi lầm lạc
giữa dòng đời vạn biến.
Sự sám hối, muộn màng
như ngọn lửa âm ị,
không thiêu cháy thân xác,
nhưng lại gặm nhấm tâm hồn nàng từng ngày, từng giờ.
Nàng đã hiểu,
nhưng tất cả đã quá muộn để bắt đầu lại.
Ở đời,
nhìn người đừng nhìn vào túi áo,
nhìn đời đừng chỉ nhìn lúc gian nan.
Vàng thật phải qua lửa,
nhân tài phải qua bỉ cực
mới đến hồi thái lai.
Kẻ đem lòng khinh khi người nghèo khó,
thực chất là kẻ nghèo nàn nhất
về tâm hồn.
Khi công danh đến,
người có đức sẽ vững vàng.
Kẻ vô đức chỉ còn lại sự hối hận
muộn màng hòa vào hư không.
Đừng bao giờ coi thường người khác,
vì cuộc đời là dòng sông chảy xiết.
Kẻ hôm nay dưới thấp,
ngày mai có thể đứng trên cao.
Nhân quả công minh,
gieo hạt giống ngạo mạn
sẽ gạt quả đắng cô độc.
Phước đức của một người không nằm ở lầu son gác tấc,
mà nằm ở tấm lòng thiện lương
và ý chí kiên định.
Kẻ chỉ trọng hư vinh,
coi thường tình nghĩa,
cuối cùng sẽ bị chính cái hư vinh đó thiêu dụi.
Hãy nhớ rằng,
tâm sinh tướng, tâm cũng sinh ra mạnh.
Giữ được cái tâm khiêm cung
trước người nghèo khó,
mới là chân tu giữa dòng đời vạn biến.
Câu chuyện, lời nguyện trong xương mở,
nơi bái đường nghi ngút khói hương,
kẻ quỳ lại cầu xin sự che chở,
kẻ đứng nhận lại mưu tính bạc vàng.
Liệu tấm áo ca xa
có thể che đậy được tâm hồn
đã thối giữa bởi lòng tham?
Hay chính nó lại là sởi dây thòng lọng
siết chặt lấy cổ kẻ giả tu?
Cửa Phật vốn là trốn từ bi,
soi dọi nẻo thiện cho chúng sinh
tìm về bến giác.
Nhưng khi lòng người bị che lấp bởi bụi trần
và dục vọng, trốn tôn nghiêm ấy
lại trở thành tấm bình phong hoàn hảo
cho những tội ác tay trời.
Câu chuyện về ngôi chùa Vạn Phúc
chính là lời cảnh tỉnh đánh thép nhất
cho những kẻ dám mượn danh thánh thần
để trục lợi trên nỗi đau của đồng loại.
Bởi lưới trời lồng lộng
tuy thưa nhưng chẳng lọt một ai.
Khói trầm mặt láng
đáng quyện vào xương sớm trên đỉnh núi Linh Vân
tạo nên một màn xương dày đặc
che khuất những lối mòn dẫn lên đỉnh Thượng.
Tiếng chuông đại hồng trung điểm
từng nhịp vang vọng,
trầm đục và u út,
lan tỏa khắp không gian sụn nước.
Thế nhưng, thanh âm ấy
thay vì mang lại vẻ thanh tịnh,
gột rửa tâm hồn,
nó lại khiến lòng người trở nên chịu nặng
dưới bầu trời xám xịt của tiết thanh mình.
Mưa phùn răng lối,
từng hạt nước ly ti bám vào rêu xanh
trên những bậc thang đá gồ ghề
làm chúng trở nên trơn trượt như lòng người khó đoán.
Tại ngôi cổ tự Vạn Phúc,
mùi nhang đèn nồng nặc
không thể át đi được,
mùi ấm mốc của những gian thờ cú kĩ,
nơi mà ánh sáng leo lét
từ những ngọn đèn dầu
dường như cũng đang lụi tàn dần
vì thiếu đi chân tâm của người chủ trì.
Giữa không gian u tịch ấy,
Pháp Minh đứng hiên ngang giữa chính điển.
Hắn khoác trên mình bộ cà xa rực rỡ,
tay lần tràng hạt,
miệng lầm rầm kinh kệ
với vẻ mặt vô cùng đôn hậu.
Thế nhưng, ít ai biết rằng
ẩn sau lớp vỏ bọc đạo mào kia
là bản chất của một gá đồ tệ hung hãn
kẻ từng gây nợ máu
và trốn chạy khỏi sự truy đuổi của quan phụ
bằng cách xuống tóc đi tù.
Hắn không tìm đến cửa phận để sám hối,
mà để biến hòm công đức
thành túi tiền riêng cho những cuộc chơi
thâu đêm dưới chân núi.
Đôi mắt hắn tuy luôn khép hở như đang nhập định,
nhưng thực chất
lại luôn láo liên quan sát túi tiền
của những người hành hương.
Lúc bấy giờ, từ phía bậc thềm đá,
một bóng dáng nhỏ bé, gầy gọc
đang run dậy lê lết từng bước chân giả nùa.
Đó là bà láo họ Trương,
một quá phụ nghèo khổ nhất vùng.
Người đã dành dụng cả đời
mới có được vài làng bạc
và một chiếc vòng cầm thạch xanh biếc,
vật ra bảo truyền đời của dòng họ.
Bà quỳ rạm xuống nền đá lạnh lẽo,
mái tóc bạc trắng sơ sát
dính bết vào chán vì nước mưa.
Đôi bàn tay thô giáp,
nứt nẻ vì xương gió của bà
nâng niu chiếc vòng,
hướng về phía pháp mình với ánh mắt chứa chan hy vọng.
Bà láo nghẹn ngào,
giọng nói run dậy
như ngọn nến trước gió,
kể rằng con trai bà đang
chinh chiến nơi viên ải xa xôi,
10 phần chết, 1 phần sống.
Bà chỉ cầu xin một khỏe bình an
và sự gia trì của Phật tổ
để con mình được bình an trở về
sau cuộc bình đao.
Pháp mình từ từ mở mắt.
Ánh nhìn của hắn dừng lại rất lâu
trên chiếc vòng cầm thạch.
Dưới ánh đèn dầu,
màu xanh của ngóc bích
tỏa ra một thứ ánh sáng mê hoặc
khiến lòng tham của gã giả
tu bùng lên như lửa gặp dầu.
Hắn khẽ mỉm cười,
một nụ cười đầy vẻ từ bi,
nhưng sâu thẳm lại là sự tính toán lạnh lùng.
Hắn vươn đôi bàn tay mập mạp,
vốn đã quen với việc cầm hung khí
hơn là kinh sách,
nhận lấy chiếc vòng.
Hắn rõng rạc tuyên bố rằng
chiếc vòng này có linh khí rất mạnh.
Nếu để trên bàn thờ Phật
và để hắn tụng kinh chỉ chú
suốt 49 ngày đêm,
chắc chắn con trai bà sẽ được
bảng vàng đề tên
Bình An Vô Sự Quay Về Phụng Dưỡng Thân Máu.
Bà Lão họ chưa nghe vậy
thì mừng dỡ khôn siết,
bà dập đầu lại tả cho đến khi chán
dớm máu, tin rằng sự thành tâm
của mình đã chạm đến cửa thiền.
Thế nhưng, ngay khi bóng dáng
bà Lão vừa khuất sau màn sư mù,
Pháp Minh lập tức thay đổi sắc mặt.
Hắn không hề mang chiếc vòng
lên bàn thờ, cũng chẳng hề
viết tên con trai bà vào lá sớ cầu an.
Hắn lệnh lùng rút ra
một tờ giấy trắng tinh,
tráo đổi lá sớ của bà Lão,
rồi vứt nó vào lò hóa sớ
một cách không thương tiếc.
Hắn mân mê chiếc vòng trong tay,
thầm nhủ rằng thứ báo vật này đủ
để hắn bao trọn một gian phòng đẹp nhất
tại Tửu Lâu dưới chân núi,
đủ để mua những vỏ rượu ngon
và những miếng thịt béo ngậy
mà hắn hàng thèm khát.
Hắn cười nhạo sự ngu mội của bà Lão,
cho rằng những kẻ nghèo hèn
thì nên sống trong ảo tưởng
để hắn được hưởng vinh hòa.
Toàn bộ sự việc ấy đều lọt vào mắt của Tâm An,
vị tiểu hoa thượng trẻ tuổi
có tâm hồn thanh tịnh
như chính cái tên của mình.
Tâm An đứng nếp sau cuộc đỉnh,
đôi mắt tròn xoe chứa đầy
sự kinh hoàng và đau xót.
Cậu đã nhiều lần thấy sư phụ mình
làm những việc bất minh,
nhưng đây là lần đầu tiên cậu thấy hắn
nhẫn tâm tước đi niềm hy vọng cuối cùng
của một người mẹ già yếu.
Tâm An định lên tiếng,
định chạy lại ngăn cản,
nhưng pháp mình đã quay lại.
Đôi mắt hắn long lên đầy đe dọa.
Hắn bước tới gần,
hơi thở nồng mùi dục vọng
và sự hung hãn khiến cậu bé run sợ.
Hắn nhắc nhở Tâm An rằng
phải giữ cho miệng luôn.
Yên, nếu còn muốn có cơm ăn áo mặc.
Nếu không, cái kết của cậu sẽ không khác gì
những con vật dưới lưỡi dao
của gá đồ tề năm xưa.
Những ngày sau đó,
trong khi bà Lão Họ Trương
quay về căn tròi nát,
nhịn ăn nhịn mặc,
sống bằng dao cháo qua ngày
để chờ tin con
với lòng tin mãnh liệt
vào sự linh ứng của sư trụ trì,
thì pháp mình lại lén lút
rời chùa vào mỗi đêm.
Hắn đem chiếc vòng cầm thạch
đi cầm cố
tại một tiệm kim hoàn lớn
trong trấn,
lấy về một bọc bạc
nặng trĩu,
dưới ánh trăng mở ảo,
gã giả tu cởi bỏ bộ ca sa,
khoác lên mình bộ quần áo tầm thường
rồi lèn vào tử lâu.
Hắn uống rượu như uống nước,
ăn thịt như thế chưa bao giờ được ăn,
cười nói hỉ hạ với những kẻ phong trần,
hoàn toàn quên mất mình
đang mang danh một bậc thầy tu hành.
Pháp mình tin rằng trời cao
vốn không quản chuyện thế gian,
Phật tổ chỉ ngồi trên tòa sen
bằng đồng kia thì làm sao biết được
những việc làm của hắn.
Hắn còn ép tâm an phải đi khắp thôn xóm,
kể lại những câu chuyện hoang đường
về sự linh nghiệm của ngôi chùa
để thu hút thêm nhiều thiện nam tí nữ
đến dân cúng bạc tiền.
Mỗi đồng tiền công đức rơi vào hòm
đều là một tội lỗi mới được chất trồng
lên đôi vai của kẻ lừa mị đức tìn.
Hắn không hề biết rằng
trong bóng tối của gian mật thất,
nơi hắn giấu số bạc tham ô,
những ngọn nến bắt đầu cháy lập lòa,
phản chiếu những bóng ma của lòng tham
đang dần hình thành một bản án
không thể cứu ván.
Bầu trời đỉnh Linh Vân ngày càng ưu ám,
sấm chớp bắt đầu dạch ngang không chung
như những làn roi của thiên đình
đang chuẩn bị ráng xuống.
Sự vô minh của Pháp Minh đã lên đến đỉnh điểm
khi hắn tự mãn nghĩ rằng
mình đã làm chủ được vận mạng
của người khác, mà không hề hay biết rằng
bánh xe nhân quả đã bắt đầu
chuyển động, và người đầu tiên
bị nghiền nát sẽ chính là kẻ
đã gieo rắc sự dối trá
ngay dưới chân Đức Phật.
Gió bức xít gạo qua những khe cửa gỗ
mục nát của căn tròi nhỏ nơi cuối thôn
mang theo hơi lạnh thấu xương
của những ngày tàn xuân.
Trong không gian tối tăm, ẩm thấp
chỉ có tiếng nước mưa nhỏ giọt từ mái tranh
xuống chiếc bát sành vỡ
và lão hỏ trương nằm co quắp
trên chiếc tróng tre ọp ẹp.
Đã ba ngày nay, bà không có hạt gạo nào vào bụng,
chỉ hớp vài ngụm nước lá
để duy trì chút hơi tàn,
nhưng đôi mắt bà vẫn sáng rực
một niềm tin mạnh liệt
mỗi khi nhìn về phía ngọn núi linh vân mờ ảo.
Bà tin rằng, với chiếc vòng cầm thạch
đã dân cúng và những lời kinh kệ
của vị sư chủ trì Đạo Hạnh,
con trai bà chắc chắn
đang bình yên vô sự nơi chiến trường xa xôi.
Thế nhưng,
đời người vốn dĩ trớ treo,
khi niềm tin bị đặt nhầm chỗ,
nó sẽ trở thành lưỡi dao sắc lẹm
đâm thấu tâm can kẻ lương thiện.
Một tiếng ngựa hí vang lên
phá tan bầu không khí yên tĩnh
của làng quê nghèo.
Một người lính với bộ giáp trụ rách nát,
gương mặt xạm đen vì khói súng và bụi đường
dừng ngựa trước cửa tròi.
Hắn bước vào, đôi mắt chịu nặng
nỗi buồn, trao cho bà Lão
một chiếc khăn tay nhuốm màu máu khô
và một mẫu tin ngắn từ quan phụ.
Con trai bà đã hy sinh
trong một trận tập kích đỡ máu
ngay đúng cái đêm mà Pháp Minh
đang say xưa bên chén rượu nồng nơi lầu xanh.
Bà Lão không khóc nổi,
cổ họng nghẹn đắng.
Bà lào đào đứng dậy,
đôi bàn tay run dậy bám chặt lấy vách đất
để không ngã quỷ.
Bà không tin, bà không thể tin được rằng
sự thành tâm dân hiến cả gia tài
lại đổi lấy một kết cục
nhiệt ngã thế này.
Với chút sức tàn cuối cùng,
bà Lão Lê bước ra khỏi tròi,
hướng về phía Vạn Phúc Tử,
nơi bà đã gửi gắm toàn bộ hy vọng
và linh hồn của mình.
Lúc này, tại chính điện Vạn Phúc Tử,
không khí lại vô cùng náo nhiệt
và xa hòa.
Pháp Minh đang cử hành một đại lễ cầu siêu
cho ra quyến của một vị phú hộ
giàu có trong trấn,
khói trầm hương nghi ngút.
Ánh đèn cầy lung linh soi rõ
những bức màn lũa mới tinh
mà hắn vừa sắm sửa bằng số bạc cầm cố
chiếc vòng của bà Lão.
Hắn ngồi trên tòa sen,
gương mặt cố giữ vẻ từ bi hỷ xả.
Nhưng ánh mắt lại không giấu nổi sự đắc ý
khi nhìn thấy những thỏi bạc dòng
được đặt đầy trên khay công đức.
Hắn giỗng giạc tụng những bài kinh
mà chính hắn cũng chẳng hiểu hết ý nghĩa,
cốt chỉ để làm đẹp lòng kẻ có tiền.
Đột nhiên, từ ngoài cửa chùa,
một bóng hình rách dưới
ướt sũng vì mưa gió sông vào.
Bà Lão họ trương quỳ sụp xuống
giữa điện, tiếng kêu than
xé lòng của bà làm rung động
cả những pho tượng đồng lạnh lẽo.
Bà gào lên, hỏi Pháp Minh rằng
tại sao con trai bà lại chết?
Tại sao lời hứa bảo hộ vàng ngọt
của cửa thiền lại trở nên vô nghĩa?
Tiếng khóc của bà như
một luồng gió lạnh thổi tắt
những ngọn nến đang cháy, khiến
các vị khách quý và đám thiện nam tín nữ
đều bàng hoàng kinh ngạc.
Pháp Minh thoáng giật mình,
nhưng ngay lập tức bản chất
của gã đồ tể cháu trở hiện hình.
Hắn thu lại vẻ mặt ôn hòa,
thay vào đó là một sự lệnh lùng đến tàn nhẫn.
Hắn đứng dậy, trình lại
tà áo ca sa đắt tiền,
giọng nói vang vọng đầy uy quyền,
nhưng chứa đựng sự kinh miệt.
Hắn bảo rằng, cửa Phật
vốn từ bi, nhưng mạng người
lại do số trời định đoạt.
Con trai bà tự trận là do nghiệp chướng
từ kiếp trước quá nặng, không thể
hóa giải chỉ bằng một chiếc vòng cầm thạch
nhỏ nhoi. Hắn còn chơ tráo
vu khống rằng bà lão đã không
đủ thành tâm, lòng vẫn còn
vướng bận bụi trần, nên kinh kệ mới
không linh ứng. Bà lão họ
chưa nghe những lời đó mà út nghẹn
đến mức trào máu học.
Bà chỉ tay vào mặt Pháp Minh,
đôi mắt đỏ ngầu sự căm hận.
Ông nói tôi không thành tâm.
Tôi đã dâng cả mạng sống,
cả niềm tin cuối cùng vào chốn tôn
nghiêm này. Sao ông dám dùng
máu của con tôi để đổi lấy những
chén rượu nồng nơi lầu xanh?
Ông là thầy tu hay là loài quỷ
giữ đội lốt người? Pháp Minh
cười nhạt. Hắn ra lệnh cho
mấy gã tá điền chuyên làm việc nặng trong
chùa lôi bà lão ra ngoài để
tránh làm hỏng buổi lễ. Hắn
lầm bầm trong miệng rằng kẻ
Bần Hàn thường hay oán thán rồi
lại tiếp tục quay sang mỉm cười
với vị phú hộ như chưa
từng có chuyện gì xảy ra. Thế nhưng
hắn không ngờ rằng trong
lúc hỗn loạn Tiểu Hòa Thượng Tâm An
đã không thể giữ yên lòng
mình được nữa. Tâm An đứng
sau bức bình phong, đôi bàn tay
nhỏ bé siết chặt lấy màu giấy trắng
mà Pháp Minh đã dùng để tráo
lá sớ cầu an của bà lão ngày trước.
Sự cắn rút của lương tâm như
hàng ngàn mũi kim đâm vào tim
cậu bé. Tâm An hiểu rằng
nếu cậu cứ tiếp tục giữ yên lặng
cậu cũng sẽ trở thành kẻ đồng lõa
với tội ác Tây Đình này.
Cậu bước ra giữa điện, nước mắt
dàn rùa, tay dơ cao tờ giấy
trắng tinh trước mặt bàn dân thiên hạ.
Giọng cậu thanh tao nhưng đanh thép
vạch trần việc Pháp Minh đã không
hề tụng niệm cho con trai bà lão
mà chỉ dùng tờ giấy trắng này để lừa mị.
Cậu kể lại những đêm Pháp Minh
lẻn ra khỏi chùa, kể
về chiếc vòng cầm thạch đã bị đem đi
cầm cố để đổi lấy rượu thịt.
Cả chính điện bỗng chốc rơi vào
một sự yên ắng đến rợ người
chỉ còn nghe tiếng mưa rơi đều đều
ngoài hiên vắng. Những vị
khách quý bắt đầu xì xào
những ánh mắt tôn kính dành cho Pháp Minh
phút chốc biến thành sự ghê tợm
và khinh bị. Pháp Minh tái mặt
đôi mắt hắn long lên sòng sóc
như con thú giữ bị dồn vào đường cùng.
Hắn điên cuồng lao đến
định tác Tâm An, miệng quát tháo
rằng cậu là kẻ phản đồ,
bị ma quỷ ám ảnh nên mới nói lời
sang bẩy. Nhưng đúng lúc đó
bà láo họ trương, bằng
một sức mạnh kỳ lạ của kẻ không còn
gì để mất, đã lao đến ôm
chặt lấy chân hắn. Bà không
cần tiền, bà không cần chiếc vòng
bà chỉ cần một sự công bằng
cho đứa con đã ngã xuống.
Bà ngửa mặt lên trời cao mà thét lớn
Trời cao có mắt
Phật tổ có linh, xin
hãy chứng giám cho nỗi quan khiên này
Kẻ ác phải đền tội, máu
phải trả bằng máu. Lời
nguyên rũa của người mẹ mất con như
đánh động đến thần linh. Một
tia xét trói lòa dạch ngang bầu trời
đánh trúng vào ngọn tháp chuông
của ngôi chùa, tiếng đồng vang lên
u út như một bản cáo trạng cuối cùng
Pháp Minh hoảng sợ lùi lại
đôi chân hắn vức phải khay đựng
bạc công đức, khiến những thỏi bạc
văng tung tué trên nền đất
Hắn nhìn thấy trong đám đông
những người dân làng vốn hiền lành này
đang tiến lại gần với những gương mặt
đầy phẫn nộ. Lòng tham đã
đưa hắn lên đỉnh cao của sự giả dối
thì chính sự dối trá ấy
đang kéo hắn xuống vực thẳm của sự trừng phạt
Hắn không còn đường lùi
xung quanh hắn giờ đây chỉ
toàn là những tiếng gào thét đòi lại công lý
và mùi khói trầm hương
bỗng trở nên khét lẹt như
mùi của sự tàn lụi. Trong
giây phút ấy, Pháp Minh dường như nhìn
thấy bóng dáng gã đồ tệ năm xưa
của mình hiện về, tay cầm con dao
bầu với máu, đứng cười nhạo
bộ ca xa mà hắn đang khoác trên người
Hắn nhận ra rằng dẫu có
trốn vào cửa thiền, dẫu có
đọc nghìn vạn phò kinh thì
cái tâm đen tối vẫn không thể che đậy
được lưới trời lồng lồng. Nhân quả
không phải là chuyện của kiếp sau
mà nó bắt đầu ngay từ khi hắn này
sinh ý định tà ác đầu tiên
Cơn bão nhân gian đã bắt đầu nổi dậy
và kẻ giả tu này sẽ
phải đối diện với ngọn lửa lương tâm
đang âm ị cháy, sẵn sàng
thiêu rụi tất cả những gì hắn đã
nhẫn tâm cướp đoạt. Đêm định mệnh ấy
sấm xét vẫn không ngừng
xé toạc bầu trời linh vân, như muốn
nghiền nát ngôi cổ tự vạn phúc
vốn đã mục rỗng từ bên trong
Giữa lúc đám đông phẫn nộ đang
vây kín chính điện, Pháp Minh
lợi dụng bóng tối và sự hỗn loạn
để lèn vào gian mật thất phía
sau tượng phận, hắn điên cuồng
vơ vét từng thỏi bạc dòng, từng
món trang sức quý giá và một chiếc
bao tải lớn, miệng lầm bầm
những lời nguyền rùa độc địa.
Hắn dự tính sẽ trốn khỏi vùng này
ngay trong đêm, mang theo toàn bộ
gia sản đã bòn rút từ xương máu
của bá tánh để tìm một nơi khác
tiếp tục sống đời vinh hòa.
Thế nhưng, trong cơn hấp tấp tột độ
tay hắn run dậy va phải
ngọn đèn dầu đang cháy rực
trên bàn thờ tổ. Lửa lập tức
bén vào những tấm dèm lụa xa hoa
thứ gấm vóc mà hắn đã mua
bằng tiền cầm cố chiếc vòng
của bà lão họ trường. Ngọn lửa
như có linh tính, nó không cháy lan ra ngoài
mà cuộn tròn lấy gian mật thất
bịt kín lối thoát duy nhất
của kẻ giả tù. Khói độc
đen kịt, nồng nặc mùi ra thịt
và vài vóc cháy khét
nhanh chóng tràn ngập không gian trật hẹp.
Pháp Minh gào thét
trong tuyệt vọng. Hắn dùng
đôi tay mập mạp cào cấu vào cánh cửa gỗ
đã bị lửa thiêu đỏ rực.
Khói cay nồng lên lòi vào phế quạn
tàn phá đôi nhãn quang
của hắn, khiến thế giới trước mắt
chỉ còn là một màu đen đục ngầu
đau đớn. Trong lúc vùng vẫy
chiếc bao tải đựng bạc bị lửa nung chảy
những thỏi bạc dòng
hóa thành một dòng chảy nóng rực
đen đặc như trì, chút xuống
và đông cứng lại ngay trên đôi chân của gã đồ tệ
khiến hắn tàn phế
không thể nhúc nhích dù trì một phần.
Khi dân làng và tiểu hòa thượng
Tâm An giập tắt được ngọn lửa
họ thấy Pháp Minh nằm
thoi thóp giữa đống cho tàn của sự tham lam
Hắn không chết, nhưng đôi mắt
đã vĩnh viễn mù lỏa, phổi bị tàn phá
nặng nể, khiến mỗi hơi thở
đều kho khẻ như tiếng kéo bể
và đôi chân thì đã trở thành
hai khối thịt đen đúa, không còn cảm giác
Ngôi chùa Vạn Phúc
sau cơn hỏa hoạn cũng trở nên hoang tàn
Những bức tượng đồng bị ám
khói đen kịt như đang than khóc
trong một trốn tu hành bị huế tạp
Nhiều năm trôi qua, người ta
vẫn thấy một gã hành khất mù lỏa
tàn phế, ngồi co quắp
ngay trước cổng ngôi chùa Đồ Nát
Mỗi khi tiếng chuông Đại Hồng Trung vang lên
gã lại run dậy
dập đầu xuống đất văn xin một sự tha thứ
không bao giờ tới
Đó chính là Pháp Minh
kẻ từng hô mưa gọi gió dưới danh nghĩa chủ trì
nay phải sống những ngày tàn
trong cảnh đói khát và bóng tối vô tận
Tâm An giờ đây đã là người
chủ trì trẻ tuổi
Cậu dùng lòng chân thành và sự thanh bạch
để trùng tu lại ngôi chùa
biến nơi đây trở thành chốn nương tựa
thực sự cho những linh hồn lầm lạc
Cửa Phật từ bi
nhưng không bao dung cho kẻ mượn danh thánh thần
để mưu cầu dục vọng
Tiền công đức là niềm tin của chúng sinh
Kẻ nào dám chạm vào
bằng đôi bàn tay bẩn thiểu
át sẽ bị ngọn lửa lương tâm thiêu rủi
đến tận xương tủy
Luật nhân quả không cần chờ đến kiếp sau
mà hiện hữu ngay trong từng hơi thở
của kẻ lừa mị đức tin
Ở đời, lấy của người một đồng bất nghĩa
át phải trả lại
bằng cả một kiếp lầm than
Lưới trời lồng lộng
Dẫu kẻ gian hoa có khéo tre đậy đến đâu
cuối cùng cũng phải quỳ gối
trước sự phán xét công minh của đất trời
