Thông điệp sâu sắc về lòng nhân quả nhắc nhở chúng ta rằng đức hạnh chính là tài sản quý giá nhất. Khi ta gieo mầm thiện và sống bao dung, cuộc đời sẽ luôn dành tặng những điều tốt đẹp và bình an nhất. Hãy tin rằng lòng chân thành có sức mạnh cảm hóa mọi điều, và một tâm hồn thiện lương sẽ luôn được che chở, dẫn lối ta về phía ánh sáng của sự thanh thản và hạnh phúc vẹn tròn. https://www.youtube.com/watch?v=oCcziTK7h8o
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
This content presents a series of moral tales centered on the law of karma, contrasting the lives of individuals who prioritize virtue versus those driven by greed and cruelty. Through the stories of the Diep and Ta families, it illustrates that integrity leads to lasting peace and restoration, while malice inevitably results in ruin.
Comments are disabled for this video.
Người đời thường nói, khôn ngoan không lại với trời.
Liệu trời xanh thực sự có mắt, hay tất cả chỉ là sự sắp đặt ngẫu nhiên của số phận?
Mời các bạn theo dõi hết câu chuyện sau đây để thấu hiểu chân lý.
Người có đức, trời, không phụ, giữa dòng đời, trên trúc, ngược xuôi ấy.
Tiệm lụa Diệp Ký, nằm bên dòng sông Tần Hoài, từ lâu đã trở thành một cái tên thân thương với người dân vùng Giang Nam.
Người ta đến với Diệp Ký không chỉ vì những sắp lụa thượng hạng mềm mại tựa ráng chiều,
mà phần nhiều là vì tấm lòng trung hậu của ông chủ Diệp Phụ.
Diệp ra ba đời làm nghề tơ lụa, luôn giữ vững một gia quy nghiêm ngặt.
Diệp Phụ thường dăn dạy đứa con trai duy nhất của mình là Diệp Hoài An rằng,
lương tâm của một người luôn là thứ quý giá nhất.
Đừng vì vài đồng mà lại tự tay cắt đi một phần phúc phận của chính mình.
Diệp Hoài An từ nhỏ đã thấm nhuận lời giải ấy.
Chàng không chỉ thông tuệ kinh thư, mang phong thái nhò nhã của một bậc trí thức,
mà còn có một trái tim vô cùng nhân hậu.
Có những mùa đông giá rét, thấy những người nghèo khổ co rúm bên hiên nhà,
Hoài An lại xin phép cha mang những tấm vải thô,
dù hơi lỗi một chút nhưng vẫn đủ ấm, ra tặng cho họ.
Chàng luôn ân cần, hai tay dâng vải,
tuyệt đối không lộ ra một chút kiêu ngạo của kẻ ban ơn.
Chàng hiểu rằng, sự tôn nghiêm của người nghèo cũng đáng giá như lòng tự trọng của chính mình.
Thế nhưng, thế gian này vốn dĩ, ở hiền quá, cũng có người ganh ghét.
Sự thịnh vượng và uy tín ngày một cao của Diệp Ký
đã vô tình khơi dậy lòng đố kỵ và tham lam của Triệu Phú Hải,
chủ nhân vựa buôn vạn lợi đường chứ danh.
Triệu Phú Hải là kẻ lọc lõi, tôn thờ tiền tài và luôn tin rằng
thương trường như chiến trường, kẻ nào dùng nhân nghĩa để buôn bán đều là lũ ngu ngốc.
Hắn cay cú khi thấy khách hàng, từ giới vương tôn quý tộc cho đến người dân thường,
đều đổ xô đến Diệp Ký, bỏ mặc những sấp lụa tuy bóng bẩy
nhưng pha tạp chất lượng của vạn lợi đường.
Để độc chiếm thị trường lụa giang nam, Triệu Phú Hải đã âm thầm
vạch ra một kế hoạch vô cùng tàn nhẫn.
Hắn dùng một lượng vàng lớn để mua chuộc một viên quang hám lợi
tại nhà môn Lâm An, đồng thời cài cắm người vào làm gia nhân trong Diệp Ký.
Vào thời điểm bấy giờ, Triệu Đình Nam Tống
đang trong thế đối đầu căng thẳng với nhà Kim ở phương Bắc.
Việc tư thông với dạc hay buôn lậu binh khí là tội chu di cửu tộc.
Một buổi hoàng hôn âm u, khi những tiên nắng cuối ngày
bị nuốt chửng bởi những đám mây đen kịt,
Diệp Hoài An đang cẩn thận thu dọn những sấp lụa cuối cùng.
Bỗng nhiên một tiếng rầm lớn văng lên.
Cánh cửa gỗ dày của Diệp Ký bị đá văng.
Một toán quân lính nhà môn đằng đằng sát khí ập vào
dẫn đầu là viên quang mặc sắc lạnh.
Triệu Phú Hải cũng xuất hiện phía sau,
khóe môi khẽ nhách lên một nụ cười đắc ý,
nhưng ánh mắt lại vờ như kinh hải.
Viên phán quan rõ rạc đọc bản lệnh.
Diệp Ký bề ngoài buôn lụa, bề trong tư thông dạc kim,
ngụy trang vũ khí trong các thùng hàng vận chuyển ra biên ải.
Mau bắt lấy nghịch tặc Diệp Phụ.
Diệp Phụ từ trong nhà bước ra, gương mặt ông biến sắc,
nhưng nhanh chóng lấy lại sự bình tĩnh của một người thanh bạch.
Ông chấp tay rõ rạc.
Đại nhân, Diệp ra ta đời đời làm ăn chân chính,
đóng thuế đầy đủ, chưa từng làm việc gì thẹn với trời đất.
Xin đại nhân minh xét.
Tăng trứng vật trứng ranh ranh, người còn chối cãi sao?
Viên phán quan ra lệnh cho lính lục soát.
Ngay lập tức, từ trong kho hàng bí mật phía sau,
binh lính khênh ra hai chiếc dương gỗ lớn.
Khi nắp dương bị cậy tung, bên trong không phải là tơ lụa mềm mải,
mà là binh khí ngụy tạo cùng những mật thư giả mạo,
chữ viết của Diệp Phụ.
Đây chính là số vật trứng do kẻ phản bội trong nhà
và tuồn vào theo sắp đặt của triệu Phú Hải.
Diệp Hoài An bàng hoàng, chàng lao ra che chắn trước mặt cha.
Không thể nào, đây chắc chắn là có kẻ vu oan giá hỏa.
Cha tôi cả đời ngay thẳng, tuyệt đối không làm việc này.
Tránh ra!
Một tên lính thô bạo đầy mạnh khiến Hoài An ngá nhào.
Tiếng siêng xích sắt lạnh lẽo vang lên, khóa chặt tay chân của Diệp Phụ.
Trước khi bị giải đi vào màn mưa tậm tả bắt đầu trút xuống,
Diệp Phụ quay đầu lại nhìn con trai.
Ánh mắt ông không có sự hoảng loạn, chỉ có một niềm tin kiên định sâu sắc.
Ông nói lớn giữa tiếng sấm rền.
Hoài An, hãy nhớ kỹ lời cha.
Trời xanh, có mắt, nhân quả tuần hoàn.
Dù có chuyện gì xảy ra, con cũng phải giữ vững chữ Đức của nhà ta.
Không được oán hận, không được đánh mất lương trì.
Bóng dáng người cha già gây cuộc khuất dần trong màn mưa trắng xóa của đêm lâm an
để lại Diệp Hoài An đơn độc giữa cửa hiệu bị niêm phong.
Mưa bắt đầu rơi trên trán, hòa cùng nước mắt lạnh.
Bóng tối của âm mưu đã nuốt chừng Diệp ra,
mở đầu cho một chuỗi những thử thách khắc nghiệt, thử thách lòng người.
Cơn mưa rông dữ dội của đêm định mệnh ấy cuối cùng cũng tảnh,
nhường chỗ cho một buổi sớm mai tĩnh mịch đến đáng sợ.
Đối với Diệp Hoài An, bình minh hôm nay không mang theo hy vọng,
mà chỉ có sự lạnh lẽo của hiện thực phũ phàng.
Diệp ký giờ đây đã bị niêm phong bằng những giải giấy ngang dọc của quan phủ.
Những người làm công trong tiệm trước sự hung hãn của binh lính
và nỗi sợ bị liên lụy đã bỏ chạy tán loạn ngay trong đêm.
Hoài An nén đau thương, chạy vậy khắp nơi để tìm cách cứu cha.
Chàng đến gõ cửa những gia đình vốn là bằng hữu thâm giao,
những thương nhân từng nhận ơn nghĩa sâu nặng của Diệp ra khi xưa.
Thế nhưng nhân tình thế thái ấm lạnh có thời, lúc này mới lộ rõ chân tướng.
Những cánh cửa sơn son thép vàng từng rộng mở đón chào chàng,
nay đều đóng chặt, có kẻ đứng trong khe cửa nói vọng ra đầy e rẻ.
Diệp công tử, không phải chúng ta tuyệt tình,
nhưng tội phản quốc là tội lớn, ai dính vào cũng tan nhà nát cửa.
Cậu mau đi đi, đừng làm khổ chúng ta.
Đau đớn và bất lực, Hoài An chỉ còn một món kỳ vật duy nhất
là chiếc ngọc bội cầm thạch của người mẹ quá cố.
Chàng mang nó đến tiệm cầm đồ,
chấp nhận bị ép giá thê thảm để đổi lấy vài lượng bạc vụn.
Số bạc ấy, chàng không dùng để ăn uống,
mà dùng để đút lót cho tên ngục tốt canh giữ đại lao lâm an.
Cầu xin một cơ hội được vào gặp cha.
Bên trong đại lao ẩm ướt, mùi nấm mốc và máu tanh sọc thẳng vào mũi.
Trong góc tối tâm, Diệp Phụ đang nằm thoi thóp trên đống dơm dạ mục nát.
Nhìn thấy con trai, đôi mắt mờ đục của ông khẽ sáng lên một tia sáng cuối cùng.
Hoài An nhào tới, bám chặt vào song sắt nhà lao,
nước mắt tuôn rơi như mưa.
Cha ơi, con bất hiếu, không thể cứu cha ra ngoài.
Diệp Phụ cố gắng gượng dậy, nắm lấy bàn tay run dậy của con.
Ông không oán than một lời về sự bất công của quan phụ,
cũng không nhắc đến tên kẻ hãm hại triệu phú hải.
Ông nhìn thẳng vào mắt Hoài An, theo thạo bằng tất cả tàn lực.
Hoài An, con nghe ta nói, đời người như mộng ảo, thịnh suy có thời.
Tài sản mất đi có thể làm lại, nhưng chữ đức, chữ tâm mất đi là mất tất cả.
Trời đất có luật nhân quả, mắt thần nhìn rõ mười phương.
Con tuyệt đối không được để lòng hận thù che mờ bản tính thiện lương.
Hãy lấy đức báo oán, lấy tín làm đầu.
Trời xanh, tự khắc có an bải.
Nói xong câu ấy, Diệp Phụ mỉm cười thanh thản.
Đôi mắt ông khép lại, bàn tay dần buông lơi.
Ông đã ra đi, mang theo sự thanh bạch và tôn nghiêm cuối cùng của một đời người chính trực.
Tiếng gào khóc xé lòng của Diệp Hoài An vang vọng khắp ngục tối,
nhưng đáp lại chỉ là tiếng cười lạnh lùng của những tên cai ngục và bóng tối sâu thẳm.
Sau khi cha qua đời, quan phủ mang ông ra bãi ruộng hoang vu ngoài thành.
Giữa lúc Hoài An kiệt sức, quỳ sụp bên thi thể lạnh ngắt của cha mà không biết làm sao để trôn cất,
thì một phép màu lặng lẽ đã xuất hiện.
Một nhóm người dách dưới bước ra từ màn xương mở.
Đó là những người hành khất, những kẻ nghèo khổ lang thang ở Lâm An.
Dẫn đầu là một ông lão râu tóc bạc phơ,
người từng được Hoài An tặng áo ấm trong mùa đông năm ngoái.
Ông lão bước tới, cúi người hành lễ, rồi nói
Diệp công tử, Diệp lão ra cả đời hành thiện tích đức,
cứu giúp biết bao nhiêu người nghèo khổ như chúng tôi.
Nay ông nằm xuống, bọn tôi không có tiền bạc,
chỉ có đôi tay này xin được giúp công tử đưa tiễn ân nhân một đoạn đường.
Những giọt nước mắt ấm áp lăn dài trên má Hoài An.
Trong lúc những kẻ giàu sang quyền quý quay lưng,
thì những người nghèo khổ nhất lại chia tay ra nâng đỡ trảng.
Họ cùng nhau đào đất, đắp cho Diệp Phụ một ngôi mộ đơn sơ, nhưng trăng nghiêm.
Hành động nghĩa hiệp của những người nghèo khổ chính là quả ngọt đầu tiên
từ hạt giống thiện lành mà Diệp ra đã gieo trồng.
Thế nhưng, thử thách của số phận vẫn chưa dừng lại ở đó.
Vừa trở lại trước cửa hiệu Diệp Ký,
bị niêm phong để lượm lặt chút đồ đạc cá nhân,
Hoài An đã bị một đám đông giận dữ bao vây.
Đó là các chủ nợ, những thương nhân nhỏ cung cấp tơ lụa thô cho Diệp Ký trước đây.
Đi đầu kích động là gá tay sai quấy sai của Triệu Phú Hải.
Hắn gào lên, Diệp Hoài An, trang ngơi phạm tội phản quốc,
gia sản bị tịch thu, nhưng tiền hàng của chúng ta thì ai trả?
Đừng hòng quyết nợ bỏ trốn.
Đám đông bắt đầu la ó, sô đẩy chàng thư sinh yếu ớt xuống vũng bùm lầy lội dưới đất.
Họ đòi dùng vũ lực, đòi bắt chàng đi làm nô dịch để gán nợ.
Trước sự phẫn nộ của đám đông, Diệp Hoài An không hề run sợ hay trốn chảy.
Chàng từ từ đứng dậy, phủ nhẹ lớp bùn đất trên áo, ánh mắt bình thản,
nhưng chứa đựng một sự kiên định phi thường.
Chàng chắp tay, cúi đầu thật sâu trước các chủ nợ, rõ rạc nói.
Chư vị phụ láo, Diệp ra chúng tôi ba đời làm ăn, lấy chữ tín, làm mạng sống.
Nay biến cố ập xuống, gia sản không còn,
nhưng nợ nần của chư vị, Diệp Hoài An, tôi quyết không chối bỏ.
Dù phải lên núi kiếm củi, xuống sông gánh nước,
làm lụng khổ cực đến hơi thở cuối cùng, tôi cũng sẽ hoàn trả không thiếu một su.
Xin chư vị cho tôi thời hạn ba năm.
Khí phách hiền ngang và lời hứa danh dự của chàng thư sinh
khiến đám đông bỗng chốc im lặng.
Sự chân thành và đức độ tỏa ra từ chàng có một sức mạnh cảm hóa kỳ lạ.
Ở một góc khuất trên lầu cao của tử quán đối diện,
triệu phú hải đang nhìn xuống với nụ cười nham hiểm.
Chờ xem, ba năm nữa, ta sẽ khiến ngươi phải quỳ gối xin ăn trước cửa vạn lợi đường.
Rời khỏi thành lâm an phồn hoa nhưng lạnh léo,
Diệp Hoài An chọn dừng chân tại một thị trấn nhỏ ven sông tiền đường.
Nơi đây là điểm trung chuyển hàng hóa, người qua kẻ lại tấp nập.
Để mưu sinh và tích góp tiền trả nợ,
chàng thư sinh chói gà không chặt ngày nào nay,
phải rũ bỏ chiếc áo vải nho nhã, khoác lên mình bộ đồ thô rách của phu dịch.
Ban ngày, Hoài An làm lụng cực nhọc ở bên sông.
Chàng ghé vai gánh những bao hàng nặng chĩu,
đôi vai dưới máu, đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm bút,
nay chai sạn và chẳng trịt vết thương.
Đêm đến, chàng không nghỉ ngơi mà tìm đến tiệm thuốc của Cố Lan Trung,
một vị thầy thuốc già nho nhá nhưng nghèo khó trong vùng.
Cố Lan Trung mắt đã mở, tay đã run,
cần một người biết chữ để giúp ông chép lại các phương thuốc cổ và phân loại dược liệu.
Nhìn chàng thanh niên tuy nghèo khổ, lao lực nhưng ánh mắt vẫn sáng ngời khí chất thanh tao.
Cố Lan Trung thở dài thương cảm.
Hoài An, một người có tài học như con,
sao lại cam chịu cuộc sống khổ cực, vùi mình nơi bến sông vạn đỏ này?
Hoài An khẽ mỉm cười, vừa cẩn thận xếp từng vị thuốc vào tủ gỗ, vừa cung kính đáp.
Thưa Cố Lan Trung, thanh nhân từng dạy,
thiên tương ráng đại nhiệm ư tư nhân giã, tất tiên khổ kỳ tâm trí, lao kỳ gân cốt.
Nỗi khổ thể xác này có đáng là bao so với việc giữ gìn da phong và chữ tín của phụ thân con.
Con chỉ mong dùng mồ hôi nước mắt trong sạch của mình để gột rửa nỗi oan khiên, trả sạch nợ trần.
Nửa năm trôi qua, cuộc sống của Hoài An vẫn là một vòng quay không ngừng nghỉ của gian khổ.
Nhưng dù đói rách, chàng chưa từng khởi lòng tham hay oán hận cuộc đời.
Cho đến một đêm đông bút giá,
tuyết rơi đầy trời phủ trắng xóa, những con đường nhỏ dọc bến sông.
Khi Hoài An đang dọn dẹp bến thuyền sau chuyến hàng muộn,
chàng vô tình vấp phải một chiếc túi da nằm khuất sau một kiện hàng cũ.
Mở túi da dưới ánh đèn dầu tù mù, Hoài An bàng hoảng.
Bên trong không phải là vài đồng bạc vụn, mà là 10 thỏi vàng sáng loáng.
Đi kèm là một phong thư chứa lệnh bài thông thương của Tổng đốc Vùng Giang Nam
cùng một nhân sâm nghìn năm cực kỳ quỹ hiếm.
Số của cái này lớn đến mức có thể giúp chàng trả xả sạch toàn bộ nợ nân ở Lâm An ngay lập tức,
mua lại tiệm lụa diệp ký và sống một cuộc đời sung túc đến giả.
Trong khoảnh khắc ấy, một cuộc chiến nội tâm dữ dội đã diễn ra trong lòng chàng thư sinh nghèo.
Tiếng gió tuyết rít qua khe cửa như tiếng thì thầm đầy cám dỗ.
Cầm lấy đi. Đây là ý trời giúp ngươi.
Ngươi đâu có ăn trộm, là tự tay nhặt được cơ mà.
Có số tiền này, ngươi sẽ được giải thoát khỏi kiếp khổ cực này.
Thế nhưng, ngay lập tức, gương mặt hiền từ cùng lời dặn giò của người cha quá cố hiện lên trong tâm trí chàng.
Dù có chuyện gì xảy ra, con cũng phải giữ vững chữ đức, chữ tâm.
Hoài An nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu để xua tan đi bóng tối của lòng tham vừa trỗi dậy.
Chàng tự nhủ, tiền tài không do mồ hôi nước mắt mình làm ra, chính là tà tài.
Nếu ta dùng số vàng này để trả nợ, tuy chữ tín với người đời giữ được,
nhưng chữ đức với trời đất, với phụ thân đã hoàn toàn tiêu tan.
Ta không thể bôi nhọ thanh danh của cha.
Nghĩ đoạn, Hoài An quyết định ôm chiếc túi ra, ngồi bẹt xuống hiên nhà kho lạnh bút,
mặc cho gió tuyết quất thẳng vào mặt.
Chàng kiên nhẫn đợi người mất của quay lại.
Vì chàng biết kẻ mất đi số tài vật và lệnh bài quan trọng này, hẳn đang vô cùng hoảng loạn.
Canh ba gõ nhịp, tiếng chân rồn rập, kèm theo khóc lóc thảm thiết vang lên từ phía bến sông.
Một người đàn ông trung niên sang trọng, mặt cắt không còn giọt máu,
đang cùng đám gia nhân điên cuồng lục tìm khắp nơi dưới nền tuyết.
Người đó chính là Thẩm Bách Xuyên, một đại thương gia có tiếng ở Tô Châu.
Đang trên đường vận chuyển dược liệu quý, dâng lên kinh thành,
thì vô tình đánh rơi chiếc túi hộ mệnh.
Thấy Thẩm Bách Xuyên đang tuyệt vọng vì sợ tội mất lệnh bài hoàng gia,
Hoài An liền đứng dậy, run dậy vì lạnh, nhưng giọng nói vô cùng ấm áp.
Cháng sĩ, có phải ông đang tìm vật này không?
Nhìn thấy chiếc túi da nguyên vẹn trên tay Hoài An, Thẩm Bách Xuyên như người chết đuối vỡ được cọc.
Ông nhào tới, giật lấy chiếc túi, kiểm tra nhanh chóng, rồi quỳ sụp xuống trước mặt chàng thư sinh nghèo.
Ấn nhân! Đại Ấn nhân! Toàn bộ gia tộc của Thẩm mỗi đêm nay đã được cậu cứu sống.
Xin nhận của tôi một lầy.
Thẩm Bách Xuyên lập tức rút ra hai thỏi bạc dâng lên để hậu tả,
nhưng Hoài An nhẹ nhàng gạt đi, đỡ ông dậy.
Thẩm lão gia xin tự trọng, tôi trả lại vật này vì đó là đạo lý làm người,
không phải vì muốn cầu danh lợi hay tiền bạc.
Gió tuyết đã lạnh, ông mau mau lên đường kéo trễ việc lớn.
Sự can trường, chính trực và phong thái bất phàm của Hoài An trong bộ quần áo dách dưới
khiến Thẩm Bách Xuyên vô cùng kinh ngạc và nề phục.
Ông không vội đi mà khẩn khoản mời chàng vào quán trà ấm áp ven sông, gặng hỏi ra thế.
Khi nghe Hoài An kể về biến cố của Diệp gia ở Lâm An,
Thẩm Bách Xuyên bỗng đập bàn, rơi lệ nói
Hóa ra, cậu là công tử của Diệp phụ huynh.
Năm xưa, khi Thẩm mỗi mới lập nghiệp bị phá sản,
chính Diệp láo ra đã không ngần ngại cho tôi mượn 300 lượng bạc không lấy một đồng lái để vực dậy cơ đổ.
Ân tình ấy tôi chưa kịp trả, thì nghe tin Diệp gia gặp nạn.
Không ngờ trời xanh có mắt lại đưa đường dẫn lối cho tôi gặp được cốt nhục của ân nhân trong hoàn cảnh này.
Thẩm Bách Xuyên nắm chặt tay Hoài An, ánh mắt đầy kiên định.
Hoài An, hiệu buôn của tôi ở Tô Châu đang thiếu một trưởng quản có lòng trung thực tuyệt đối như cậu.
Hãy đi cùng tôi, tôi sẽ giúp cậu hoàn thành tâm nguyện trả nợ và khôi phục gia phòng.
Theo chân Thẩm Bách Xuyên về vùng Tô Châu trù phú, Diệp Hoài An không hề ý lại vào danh tiếng và ơn nghĩa của phụ thân quá cố.
Chàng từ chối lời đề nghị ngồi ngay vào chiếc ghế trưởng quỹ lớn của vữa buôn,
mà khẩn khoản xin được bắt đầu từ vị trí của một người chép sổ sách bình thường.
Hoài An muốn dùng chính mồ hôi, trí tuệ và đôi tay của mình để chứng minh năng lực,
đồng thời học hỏi tận gốc rễ quy trình vận hành của một hiệu buôn lớn nhất nhì giang nam.
Tại đây, chàng áp dụng triệt đề đạo lý, thước thẳng, cân chuẩn mà cha đã truyền dạy.
Mọi khoản thu chi qua tay Hoài An đều rõ ràng, minh bạch đến từng đồng su lẻ.
Sự trung thực và nhạy bén của chàng nhanh chóng được chứng minh khi phát hiện một lô lụa dệt bị lỗi sợi nhỏ ở góc khuất,
thứ mà người thường khó lòng nhận ra và các trưởng quỹ khác định nhắm mắt cho qua để xuất xưởng.
Hoài An đã kiên quyết giữ lại.
Chàng ôn tồn giải thích với mọi người, người mua lụa có thể bị lừa dối một lần,
nhưng lương tâm của người buôn bán thì không thể tự lừa dối cả đời.
Một sắp lụa lỗi có thể đổi lấy vài lượng bạc trước mắt,
nhưng sẽ cướp đi cái góc uy tín của cả gia tộc họ thầm.
Sự kiên định ấy không những không làm tổn thất hiệu buôn,
mà ngược lại, khi khách hàng biết chuyện, họ càng thêm tin tưởng vào tấm chiêu bài của thầm gia.
Đơn đặt hàng từ khắp nơi, đổ về, như nước sông cuộn chảy.
Thầm Bách Xuyên vô cùng đắc ý, nhận ra Hoài An chính là một viên ngọc thô,
đá qua mài rũa, tỏa ra thứ ánh sáng, đức độ hiếm có.
Ông quyết định giao toàn quyền quản lý xưởng diệt lớn nhất Tô Châu cho chàng
và trích ra 3 phần 10 lợi nhuận dòng hàng năm làm phần thưởng xứng đáng cho tài năng của Hoài An.
Trong khi Diệp Hoài An dùng đức trị người, tích lũy phúc báo từng ngày tại Tô Châu,
thì tại kinh thành Lâm An, Triệu Phú Hải lại đang trượt dài trên vết xe đổ của sự tham lam vô đổ.
Sau khi hạ bệ được Diệp ký, vạn lợi đường của hắn độc chiếm thị trường tơ lũa.
Thế nhưng, bảng tính gian manh của một kẻ tiểu nhân không bao giờ thay đổi.
Để vơ vết thêm nhiều tiền bạc hòng cung phụng cho quan phủ nhà môn và lối sống xa đọa của bản thân,
Triệu Phú Hải bắt đầu dở trò bớt xén.
Hắn pha trộn sợi thô kém chất lượng vào lũa cao cấp,
ép giá các hộ nuôi tầm nghèo khổ và dùng vũ lực để dập tắt những lời than vãn của khách hàng.
Bề ngoài, vạn lợi đường trông vẫn vô cùng nguy nga lộng lấy.
Nhưng bên trong, cái nền móng của nó đã bắt đầu mục ruộng từ lúc nào.
Nhân quả tuy vô hình nhưng chưa từng sai lệch một ly.
Những đồng tiền bất chính mà Triệu Phú Hải kiếm được chẳng mấy chốc
lại tiêu tán vào các sòng bạc lớn và những phi vụ hối lộ quan chức ngày càng tham lam hơn.
Hắn không hề biết rằng chiếc lưới vô hình của trời đất đang từ từ khép lại.
Thời hạn ba năm như một cái chớp mắt, mùa đông năm thứ ba cuối cùng đã gõ cửa lâm an.
Đúng vào ngày hẹn trả nợ năm xưa, một trận tuyết đầu mùa mỏng manh rơi xuống,
phủ một lớp lụa trắng xóa lên những mái ngói rêu phong của kinh thành.
Tại phế tích của hiệu lụa diệp ký năm xưa, đám đông chủ nợ đã tụ tập đông đủ.
Gió lạnh giít qua những khe cửa mục nát, nhưng bầu không khí lại vô cùng nóng bức bởi những tiếng bàn tán xôn xao.
Dẫn đầu đám đông vẫn là gá tay sai của triệu Phú Hải.
Hắn lớn tiếng chê diễu.
Đã ba năm rồi, thằng nhãi, diệp hoài An chắc chắn đã chết cống ở xóa sinh nào đó,
hoặc đã trốn biệt tích sang phương Bắc rồi.
Làm sao một tên thư sinh nghèo kết xác có thể kiếm nổi hàng ngàn lượng bạc để trả nợ chứ?
Giữa những tiếng thờ dài thất vọng của một vài chủ nợ lương thiện từ phía đầu phố,
tiếng bóng ngựa rồn rập vang lên phá tan bầu không khí tĩnh mịt.
Một cỗ xe ngựa sang trọng được hộ tống bởi bốn gia nhân lực lưỡng từ từ tiến lại gần.
Cửa xe mở ra, một thanh niên bước xuống.
Chàng mặc chiếc áo troàng gấm màu xanh nho nhã, phong thái ung dung, đĩnh đạc, tựa như gió mát trăng thành.
Gương mặt chàng tuy có thêm vài phần phong trần của năm tháng, nhưng ánh mắt vẫn sáng ngời sự kiên định và ấm áp của ngày xưa.
Người đó không ai khác chính là Diệp Hoài An.
Đám đông ồ lên kinh ngạc.
Triệu Phú Hải lúc này cũng đang đứng quan sát từ xa, mặt bỗng chốc biến sắc, hàm dâu giật giật đầy bất an.
Hoài An bước tới trước mặt các chủ nợ, khẽ mỉm cười và chắp tay cúi trao đầy tôn kính.
Chư vị thúc bá, hương thân.
Ba năm trước, Diệp Hoài An tôi đã quỳ tại nơi này, dùng sinh mạng và danh dự để hứa trả sạch nợ nân của Diệp ra.
Hôm nay, đúng hẹn ba năm, tôi trở về để thực hiện lời hứa ấy.
Chàng khẽ phẩy tay, các gia nhân lập tức khenh xuống ba chiếc dương gỗ lớn.
Khi nắp dương được mở ra, những thỏi bạc dòng trắng sáng xếp ngay ngắn bên trong tỏa ra ánh hào quang lấp lánh dưới ánh nắng mùa đông nhạt nhòa.
Mỗi một khoản nợ ở đây, tôi đã ghi chép đầy đủ không thiếu một xu.
Ngoài ra, để tá ơn chư vị đã rộng lòng cho tôi thời hạn ba năm, tôi xin gửi kèm mỗi người một phần ngân lượng nhỏ, coi như chút lễ mọn ấm lòng ngày đông.
Hoài An rõ ràng tuyên bố, giọng nói ấm áp vang vọng khắp con phố.
Từng người bước lên nhận lại tiền nợ của mình trong sự ngỡ ngàng sen lẫn xúc động khôn tả.
Họ không chỉ nhận lại được tiền bạc đã mất, mà còn nhận được một bài học vô giá về chữ tín và lòng tự trọng của con người.
Nhiều người dơm dớm nước mắt chắp tay tạ ơn Hoài An và không ngớt lời ca ngợi hương hồn của Diệp Lão Gia dưới suối vàng đã sinh được một người con hiếu thảo, chính trực vô song.
Đứng giữa đám đông đang hần hoàn, Triệu Phú Hải siết chặt nắm tay, lòng đố kị và nỗi sợ hãi dâng lên như sóng cuộn.
Hắn lầm bầm trong cổ họng.
Không thể nào, thằng doanh con này sao có thể trở nên giàu có như vậy, chắc chắn có điều gì đó mở ám, ta không thể để nó yên ổn ở lâm an này được.
Sự trở về quang minh chính đại của Diệp Hoài An khiến Triệu Phú Hải vô cùng căm phẫn và đố kị.
Lúc này, vạn lợi đường đang trên đà sụp đổ hoàn toàn, khi chỗ dựa vững chắc nhất của hắn ở nhà môn đã bị triều đình bãi chức trong chiến dịch thanh tra quăng lại tham nhũng.
Nhìn thấy Hoài An sắp khôi phục lại hào quang của Diệp Ký, lòng đố kị hẹp hỏi khiến hắn điên cuồng.
Quyết định thực hiện một âm mưu tàn độc cuối cùng, hòng tiêu diệt tận gốc sản nghiệp Diệp Giá.
Đêm ấy, trước ngày tuyển chọn lụa dâng lên Hoàng Cung, Triệu Phú Hải thuê một toán lưu manh, lèn vào xưởng kho của Diệp Ký bên sông Tiền Đường.
Hắn muốn dùng ngọn lửa thiêu dụi toàn bộ số lụa thượng hạng mà Hoài An giày công chuẩn bị.
Mâm, dồn trang vào bước đường cùng không thể ngóc đầu lên được.
Gió bắc rít liên hồi, tuyết rơi lất phất.
Khi lửa bùng lên từ kho hàng, tiếng cảnh báo động vang lên dồn dập.
Thế nhưng, Triệu Phú Hải đã tính sai sức mạnh của lòng dân.
Hàng trăm người nghèo, phu dịch bên sông và hành khất từng nhận ơn nghĩa của Diệp Giá lập tức lao ra cứu hỏa.
Họ xếp hàng dài, chuyển tay nhau những trậu nước sông Tiền Đường bút giá, bảo vệ kho hàng thoát nạn trong găng tấc.
Nhưng thiên đạo vô tư, nhân quả như bóng với hình, lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt.
Khi ngọn lửa ở Diệp Ký vừa được khống chế thành công, cuồng phong bất bất ngờ đổi hướng dồn dập,
thổi ngược những tàn lửa đỏ rực về phía vừa buôn vạn lợi đường, cách đó không xa.
Lửa gặp gió bấc như hổ mọc thêm cánh, bén thẳng vào kho chứa dầu nhuộm và vải thô dễ cháy của họ triệu.
Chỉ trong chấp mắt, xào huyệt kẻ thù ác hóa thành một biển lửa hung tàn ngút trời.
Chớ treo thay, gia nhân thường ngày được nuôi dưỡng bằng tiền bạc bất chính.
Nay, chỉ lo vơ vét của cải, rồi tháo chạy. Không một ai cứu hỏa.
Triệu Phú Hải điên cùng lao vào lửa hồng cứu dương vàng bạc tích chữ,
liền bị thanh xạ nhà bùng cháy đổ sập để nghiến lấy chân.
Hắn gào khóc tuyệt vọng, may mắn được vài người qua đường kéo ra ngoài.
Tuy giữ được mạng sống, nhưng đôi chân hắn hoàn toàn tàn phế,
toàn bộ sản nghiệp hóa thành cho bụi chỉ sau một đêm.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, mùa đông năm ấy lạnh giá vô cùng.
Vạn lợi đường biến mất hoàn toàn.
Triệu Phú Hải giờ đây chỉ còn là một kẻ tàn phế, nghèo khổ,
phải lê lết khắp góc phố Kinh Thành xin ăn qua ngày.
Một buổi chiều đông tuyết rơi trắng xóa,
Triệu Phú Hải co rúm dưới hiên ngôi miếu hoang dã,
toàn thân run dậy vì đói lạnh.
Cơn đau từ đôi chân tàn phế khiến hắn rên rỉ tuyệt vọng.
Đúng lúc ấy, một cỗ xe dừng lại trước miếu.
Bước xuống xe là Diệp Hoài An,
người này đã là đại thương gia lừng lẫy khắp giang nam.
Nhìn thấy Hoài An, Triệu Phú Hải kinh hoàng,
cố sức lê lết thân hình tàn tạ vào góc tối trốn tránh.
Hắn nhắm mắt run dậy,
chờ đợi sự xỉ nhục từ người mình từng hám hại đến mức nhà tan cửa nát.
Diệp Hoài An từ từ quỳ xuống nền tuyết lạnh,
nhẹ nhàng đắp lên đôi vai gầy gò của kẻ thù chiếc áo troàng lông cừu ấm áp.
Chàng đặt bên cạnh hắn một bát cháo nóng hổi cùng một túi bạc nhỏ,
rồi khẽ thở dài ôn tồn nói,
Triệu Lão Gia, oán oán tương báo biết thừa nào nguôi,
chút ngân lượng này đủ để ông tìm một nơi trú ngụ qua mùa đông này,
hãy bảo trọng.
Nhìn bát cháo ấm và chiếc áo troàng lông cừu trên vai,
Triệu Phú Hải sững sở.
Sự bao dung của Hoài An như luồng ánh sáng gột rửa tâm hồn tội lỗi của hắn.
Hắn bật khóc nức nở, dập đầu xuống đất nghẹt ngào.
Diệp Công Tử, ta đã hại chết cha cậu, cướp đoạt gia sản của cậu.
Vậy mà cậu lại lấy đức báo oán?
Ta thật không bằng cầm thú, có tội với trời đất.
Ngay ngày hôm sau, Triệu Phú Hải tự mình lê lết đến nhà môn Lâm An đầu thú.
Hắn khai nhận toàn bộ tội lỗi năm xưa
từ việc hối lộ quan chức, vu khống Diệp Phụ Tư Thông Giặc Kim
cho đến việc phóng hỏa đốt kho hàng Diệp Ký.
Công lý được thực thi, Tri Phụ Đại Nhân mới lập tức hạ lệnh giải oan cho hương hồn Diệp Phụ,
khôi phục thanh danh cho Diệp Già.
Diệp Ký chính thức được treo lại tấm biển hiệu năm xưa.
Trong ngày làm lễ, Diệp Hoài An cung kính dân hương trước bài vị của cha.
Chàng lặng lẽ mỉm cười nhìn lên bầu trời xanh thẳm bao la,
thấu hiểu sâu sắc rằng mọi danh vọng rồi cũng trôi theo dòng nước.
Chỉ có chữ đức và tấm lòng lương thiện là còn mãi,
che trở cho vạn kiếp nhân sinh.
Theo chức lý Phật giáo, vạn vật trên đời đều vận hành theo luật nhân quả vô hình,
nhưng vô cùng chuẩn xác.
Câu chuyện của Diệp Già chính là minh chứng hùng hồn cho thấy
lòng bao dung và đức hạnh chính là liều thuốc cảm hóa vĩ đại nhất,
có thể hóa giải hận thù và mang lại phúc báo viên mãn đời đời.
Cảm ơn bạn đã lắng nghe.
Hãy like và chia sẻ câu chuyện này nếu bạn tin rằng lòng thiện vẫn còn trong cuộc đời.
Mời bạn đăng ký kênh Chuyện Nhân Quả để cùng gieo thêm hạt thiện lành
qua những câu chuyện nhân quả mỗi ngày.
Kênh Chuyện Nhân Quả chúc các bạn một đời bình an.
Người đời thường nói chỉ cần tích chữ thật nhiều của cải,
xây dựng phủ đệ nguy Nga thì thế hệ mai sau sẽ được ấm no tự tải.
Thế nhưng nếu là tiền tài bất nghĩa kiếm được từ mồ hôi nước mắt người khác
thì chỉ là ngọn lửa thiêu dụi phúc phần của thế hệ sau.
Mời các bạn xem hết câu chuyện sau đây để hiểu thế nào là đề đức cho con
và cái giá phải trả khi dùng lương tri đổi lấy tài lộc vinh hòa.
Vào những năm thuần hữu thời Nam Tống,
tại vùng Gia Hưng chủ phú nhắc đến cái tên Tạ Tự An, không ai là không biết.
Gã là một thương nhân tơ lụa khét tiếng,
sở hữu nhiều sưởng diệt lớn và ruộm dâu tầm giọng lớn.
Tạ Tự An thông minh nhưng đầy lòng tham và sự tàn nhẫn.
Trên thương trường, gã sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để triệt hạ đối thủ,
từ ép giá nông dân nghèo, làm giả khế ước,
cho đến mua chuộc quan phụ địa phương để thâu tóm gia sản kẻ khác với giá rẻ mạt.
Đối với gã, thế gian này không có chỗ cho đạo nghĩa hay lòng chắc ẩn,
chỉ có tiền tài mới là thước đo chân thực của sức mạnh.
Thế nhưng, tạo hóa lại đưa đến một nỗi lo canh cánh cho kẻ ngạo mạn.
Tạ Tự An dù giàu nứt đố đổ vách nhưng lại chịu cảnh hiếm muộn,
kết hôn nhiều năm vẫn không có nổi một muộn con nối dõi để thừa kế cơ nghiệp khổng lồ.
Gã cưới một chính thất cùng hai nàng thiếp,
nhưng phụ đệ rộng lớn vẫn luôn lạnh lẽo, thiếu vắng tiếng cười trẻ thơ.
Trong khi Tạ Tự An điên cuồng tìm kiếm các bậc lang trung danh tiếng,
đổ vô số vàng bạc vào những thang thuốc đắt đỏ,
thì chính thất của gã, Tô Phu Nhân, một người phụ nữ hiền lương,
chỉ biết ngày ngày quỳ trước Điện Phật Tụng Kinh Xám Hối,
thành tâm cầu nguyện mong hóa giải bớt oán hận do phu quân gieo rắc.
Một đêm mùa đông tuyết rơi dày đặc phong tỏa lối đi,
gió tuyết gầm rú ngoài hiên.
Một vị cao tăng hành cước gầy gò, áo ca sa sờn rách,
run rảy vì lạnh, dừng chân trước cổng Tạ Phủ xin bát cháo nóng sữa ấm.
Tạ Tự An đi bàn chuyện làm ăn về,
thấy Lão Hòa Thượng đứng trước cửa đại môn liền sa sầm nét mặt,
quát tháo gia nhân xua đuổi đi,
vì cho rằng kẻ bần hàn xuất hiện trước cổng chính sẽ làm ảnh hưởng xấu đến tài lộc của mình.
Tô Phu Nhân nghe tiếng ồn vội bước ra xem.
Thấy hoàn cảnh đáng thương của vị cao tăng,
bà sai tỳ nữ đem chiếc áo bông dày, hộp cơm nóng,
cùng vài lượng bạc vụn trao cho ông.
Vị sư già nhận lấy, nhìn vào khuôn mặt phúc hậu nhưng đượm buồn của bà,
rồi ngước nhìn tấm biển vàng rực rỡ của Tạ Phủ.
Ông khẽ thở dài, giọng trầm ấm vang vọng giữa màn đêm tuyết phủ tịch mịch.
Phu Nhân tâm địa Bồ Tát, thật là phúc phận của Tạ già.
Chỉ tiếc rằng, khí số phủ đệ này nhìn ngoài rực rỡ,
nhưng bên trong nghiệp oáng đang cuồn cuộn tụ lại.
Lão già mong mỏi có người kế thừa,
nhưng nếu ác nghiệp không dừng,
con cháu sau này cũng sẽ gánh chịu tai ương từ những hạt giống xấu mà cha gieo trồng.
Nói đoạn, vị cao tăng chắp tay xá dài rồi bước bước đi,
bóng dáng chìm dần vào màn tuyết trắng,
bỏ lại Tô Phu Nhân đứng lặng giữa cái lạnh thấu xương với nỗi bất an mờ hổ.
Đêm hôm đó, bà đem lời vị hòa thượng kể lại cho Tạ Từ An,
khóc lóc khuyên dân gã hãy mở kho phát trận cứu giúp dân nghèo,
bớt tranh giành tư lợi để tích âm đức cho thế hệ mai sau.
Thế nhưng, Tạ Từ An nghe xong chỉ cười lớn đầy ngạo mạn,
nâng chén rượu ngọc thạch lên khinh miệt.
Thật là những lời nhảm nhí.
Thế gian này mạnh được yếu thua, tiền bạc của ta là do bản lĩnh của ta giành lấy.
Ta không cần tích đức, ta chỉ cần tích vàng.
Có tiền, ta có thể mua được những lang chung giỏi nhất,
mua được những thứ thuốc quý nhất trên đời để có con.
Để xem, ông trời làm gì được Tạ Từ An này?
Không những không tỉnh ngộ, hôm sau gã liền cấu kết với quan huyện,
lập khế ước giả xiết nợ Chu Gia,
một gia tộc diệt lụa lâu đời đang khốn đốn vì thiên tai.
Chu Lão Gia nhân hậu bị lừa gạt đến trắng tay,
mất đi xưởng diệt và toàn bộ nhà cửa tổ tiên để lại chỉ trong một đêm.
Gia đình họ lâm vào cảnh nghèo túng,
phải rời bỏ quê hương trong sự ướt ức tột cùng.
Trước khi đi, Chu Lão Gia nhìn về phía Tạ Phủ Nguy Nga,
nghẹn ngào oáng than rằng sự giàu sang dựa trên nước mắt người khác
sẽ sớm tiêu tan và thế hệ sau của Gia chắc chắn sẽ phải trả giá nặng nề.
Thế nhưng, ngay tối hôm đó, một bức ngoặt bất ngờ xảy ra.
Khi Tạ Tử An đang say xưa bên tiệc rượu mừng thâu tóm được Chu Gia,
Gia nhân hớt hải, chạy vào báo tin.
Tô Phu Nhân cảm thấy mệt mỏi,
lang chung đến bắt Mạch phát hiện bà đã có tin vui hơn hai tháng,
Mạch tượng vô cùng mạnh mẽ.
Tạ Tử An nghe xong sững sờ rồi bật cười đầy đắc ý,
gá ngẳng mặt lên trời khiêu khích.
Hòa Thượng Thối, người nói ta ác nghiệp thì không giữ được khuyết Mạch xáo.
Chu Gia vừa sụp đổ, đứa con của ta liền đến.
Trời xanh rõ ràng đứng về phía kẻ có tiền.
Đứa trẻ này chính là minh chứng cho thấy Tạ Tử An ta đã tự định đoạt số phận.
Gã chìm đắm trong niềm vui sướng mà không biết rằng
bánh xe nhân quả đã bắt đầu chuyển động, hướng thẳng về phía gia tộc gã.
Mùa thu năm sau, giữa tiếng chim hót liu lo
và ánh nắng vàng rực rỡ trải dài khắp Tạ Phủ,
Tô Phu Nhân hạ sinh một bé trai khôi ngô tuấn tú.
Đứa trẻ vừa chào đời đã có đôi mắt sáng ngời,
vầng trán cao rộng, toát lên vẻ lanh lợi khác thường.
Tạ Tử An vui mừng khôn xiết, gã ngửa mặt cười lớn,
tự đắc cho rằng bản thân đã chiến thắng mọi lời nguyền rũa của thế gian.
Gã đặt tên con là Tạ Thiên Bảo,
ngụy ý cậu chính là bảo vật quý giá nhất trời ban cho gia tộc họ Tạ,
đồng thời cũng là minh chứng cho sự giàu sang trường tồn của gã.
Tạ Tử An cưng chiều thiên bảo như nâng niu viên ngọc quý.
Từ nhỏ, gã đã vung tiền mua sắm những loại lụa là gấm vóc mềm mại nhất,
đồ chơi bằng vàng bạc tinh xảo nhất, dâng lên cho cậu ấm.
Lên năm tuổi, Thiên Bảo bộc lộ tư chất thông minh xuất trúng,
học chữ nhanh đến kinh ngạc, học một hiểu mười.
Thế nhưng, trái ngược với niềm vui của Tạ Tử An,
tô phu nhân lại ngày ngày đêm canh cánh một nỗi lo âu sâu sắc
khi chứng kiến những biểu hiện kỳ lạ của con trai.
Thiên Bảo tuy thông minh nhưng tính khí lại vô cùng bướng bình và lạnh lùng,
luôn coi mình là trung tâm.
Đối với gia nhân trong phủ, cậu thường tỏ thái độ hống hách.
Có lần, một tỷ nữ lỡ tay làm rơi món đồ chơi bằng ngọc của cậu,
dù món đồ không hề sứt mẻ,
Thiên Bảo vẫn lạnh lùng yêu cầu cha đuổi nàng ra khỏi phủ ngay trong đêm mưa gió,
bất chấp lời cầu xin thảm thiết của cô gái tội nghiệp.
Tô phu nhân thấy vậy, liền giữ con lại, dịu dàng khuyên dân.
Thiên Bảo, người sống ở đời quý nhất là lòng khoan dung,
người giúp việc trong nhà cũng là vì mưu sinh,
con không nên tuyệt đường sống của họ,
hãy biết tích đức hành thiện để giữ gìn phúc báo sau này.
Thế nhưng, Thiên Bảo chỉ nhìn mẹ bằng ánh mắt thờ ơ rồi đáp,
mẫu thân, phụ thân bảo thế gian này chỉ có kẻ yếu mới cần lòng thương hại.
Người mạnh chỉ cần có nhiều tiền và quyền lực là có thể bắt người khác phải phục tụng,
con không cần nhìn sắc mặt của kẻ hạ nhân.
Tạ Tử An nghe thấy liền bước vào,
không những không gian dạy con mà còn cười lớn đầy tự hào.
Nói rất hay, con trai của Tạ Tử An ta phải có khí phách như thế,
kẻ yếu sinh ra là để phục vụ kẻ mạnh,
con cứ việc hưởng thụ, gia sản của ta đủ cho con dùng mười đời không hết.
Sự cưng chiều vô lối của cha đã đẩy Thiên Bảo vào con đường ăn chơi xa xỉ từ nhỏ.
Cậu không mặn mà với kinh thư,
mà chỉ say mê sưu tầm cổ vật quý hiếm,
ngọc thạch kỳ dị, giá trị liên thành.
Để có tiền chiều lòng con,
Tạ Tử An lại tiếp tục dùng mọi thủ đoạn vắt kiệt mồ hôi công sức của nông dân và tiểu thương
nhằm tích lưỡi của cải.
Năm Thiên Bảo 12 tuổi, cậu say mê bức tượng Phật bằng ngọc bích cổ
tại một ngôi chùa cổ đang xuống cấp ở phía nam Gia Hưng.
Ngôi chùa này vốn là nơi nương tựa tâm linh của dân nghèo trong vùng.
Biết con trai thích thú,
Tạ Tử An lập tức dùng quyền thế ép buộc vị sư trụ trì phải nhượng lại bức tượng.
Khi bị từ chối, gá liền câu kết với quan huyện vu khống nhà chùa chứa chấp tội phạm,
say binh lính đến niêm phong,
ép buộc các tăng ni phải rời đi để tịch thu bức tượng ngọc báo giá.
Ngày bức tượng được dước về Tạ Phủ,
Thiên Bảo vô cùng phấn khích đặt ngay trong thư phòng để ngắm nghĩa.
Nhưng kỳ lạ thay, chỉ vài ngày sau,
bức tượng bỗng nhiên xuất hiện những vết nứt dọc theo thân dù không ai chạm vào.
Cùng lúc đó, các sường diệt lụa lớn của Tạ Gia liên tiếp gặp sự cố lạ lùng.
Kén tầm, chuẩn bị thu hoạch bỗng dưng bị hỏng mốc.
Các thuyền chở tơ lụa đi giao ở phương Bắc bị đâm giữa sông lớn
do dông lốc đột ngột nổi lên,
khiến gá tổn thất hàng vạn lượng bạc.
Đứng trước những tổn thất liên tiếp,
Tạ Từ An vẫn dừng dưng, cho rằng đó chỉ là vận xui nhất thời.
Gá tiếp tục lao vào các thương vụ ép giá cho vai nặng lái
để bù đắp khoảng trống tài chính,
khiến nhiều gia đình lương thiện lâm vào cảnh nợ nâng chống chất.
Gá đâu biết rằng mỗi đồng tiền bất nghĩa gá mang về
để đắp vào kho vàng thực chất
là đang đầy nhanh tốc độ tiêu tán phúc đức của gia tộc.
Trong khi đó, tính cách của Thiên Bảo ngày càng ngỗ ngược.
Cậu bắt đầu kết giao với đám công tử bột,
ăn chơi đàn điếm suốt ngày đêm.
Những lời khuyên can của Tô Phu Nhân
hoàn toàn bất lực trước sự dung túng của Tạ Từ An.
Mỗi khi bà trách mắng con, gá lại gạt đi.
Nó còn trẻ, ham chơi một chút có sao.
Gia sản Tạ Gia vĩ đại thế này,
lo gì không nuôi nổi một đứa con?
Bánh xe nhân quả vẫn lầm lũi quay,
không nhanh không chậm,
nhưng vô cùng chuẩn xác sự xuất hiện của Thiên Bảo,
đứa con mà Tạ Từ An hằng tự hào.
Thực chất không phải là phúc lành,
mà chính là một món nợ khổng lồ
mà gá phải trả cho những kiếp người nghèo khổ
đã bị gá trà đạp dưới gót chân phù quý.
Sáu năm trôi qua nhanh như cái chớp mắt,
tựa như nước chảy qua cầu.
Tạ Thiên Bảo giờ đây đã là một thanh niên 18 tuổi,
dung mạo tuấn lãng khôi ngô, phong thái nhò nhá,
nhưng đôi mắt lại luôn lấp lánh tiê nhìn xảo quyệt,
lạnh lùng giống hệt cha mình năm xưa.
Tuy nhiên, nếu Tạ Từ An dùng sự mưu sâu kế hiểm
trên thương trường để tích lũy của cái,
thì Thiên Bảo lại chỉ biết tiêu phí trí thông minh của mình
vào những trò tiêu khiển vô bổ
và những cuộc vui thâu đêm suốt sáng.
Sự nuông chiều mù quáng của cha
đã đẩy lòng tự phụ của cậu ấm Tạ Gia lên đến đỉnh điểm.
Cậu tin chắc rằng, bất luận bản thân gây ra họa lớn thế nào,
kho vàng chất cao như núi của cha cũng dư sức dọn dẹp tàn cuộc.
Mùa xuân năm ấy, một thương nhân bí ẩn tên là Trầm Khuông
từ phương Bắc xa xôi tìm đến vùng gia hưng trù phú.
Người này mang theo vô số kỳ trân dị bảo,
từ những viên minh châu lấp lánh của Tây Vực
đến những tấm gấm diệt kim tuyến tinh xảo
chưa từng thấy ở Giang Nam.
Trầm Khuông nhanh chóng tiếp cận Thiên Bảo,
dùng những lời mật ngọt tân bốc tài năng và chí hướng của cậu
lên tận mây xanh.
Hắn dĩ tai cậu về một chuyến giao thương tơ lụa xuyên biên giới,
hứa hẹn sẽ mang lại khoản lợi nhuận khổng lồ
gấp 10 lần số vốn ban đầu.
Hắn khéo léo kích động lòng tự ái của Thiên Bảo
bằng những lời khích tướng.
Thiên Bảo thiếu da, tải hoa suốt chúng,
chẳng lẽ cả đời cứ chấp nhận
đứng dưới bóng mát của thân phụ
để người đời dị nghỉ.
Chuyến đi này nếu thành công,
danh tiếng của thiếu da sẽ vang dội khắp Giang Nam.
Khi ấy, ngài tự mình lập nên một cơ nghiệp riêng,
đứng ngang hàng với tả lão da
mà không cần dựa dẫm vào cái danh gia tộc.
Bị đánh trúng tâm lý khao khát chứng tỏ bản thân,
Thiên Bảo lập tức sập bẫy.
Cậu hào hứng trở về phụ,
yêu cầu cha xuất ra 5 vạn lượng bạc để làm vốn đầu tư.
Thế nhưng, thời điểm này, tạ Từ An
đang gặp không ít khốn đốn
do triều đình thắt chặt kiểm soát giao thương đường thủy,
lại thêm việc các xưởng dẹt liên tục
bị thất thoát tài sản không rõ nguyên nhân.
Gã nghiêm khắc từ chối yêu cầu của con trai.
5 vạn lượng không phải là số tiền nhỏ,
có thể tùy tiện mang đi đầu tư.
Thương lộ phương Bắc hiện nay
đang vô cùng hỗn loạn,
giặc giã hoành hành khắp nơi.
Con chưa từng bước chân vào thương trường,
kinh nghiệm bằng không.
Đừng nghe lời rụ rỗ của kẻ ngoài
mà rước họa diệt thân.
Lần đầu tiên bị cha khước
từ một cách dứt khoát trước mặt các gia nhân,
Thiên Bảo không những không tỉnh ngộ,
mà trong lòng còn nảy sinh oán hận sâu sắc.
Cậu cho rằng cha đã giả nua,
nhút nhát và ích kỷ.
Luôn muốn kìm hám,
không cho cậu vượt trội hơn gã.
Trong cơn phẫn nộ và khao khát chứng tỏ bản lĩnh,
Thiên Bảo đã đưa ra một quyết định
vô cùng điên rổ.
Nhân lúc tạ Từ An đi vắng
để giải quyết tranh chấp đất đai ở huyện bên,
cậu đã lẻn vào mật thất của cha,
lấy con dấu gia tộc
cùng khế ước sở hữu ba sưởng diệt lụa
lớn nhất của tạ già,
vốn là huyết mạch kinh tế
chống đỡ cho cả dòng họ bấy lâu này.
Thiên Bảo đem những giấy tờ vô giá ấy
đến một tiệm cầm đồ lớn
của Thế Lực Ngầm tại địa phương Thế Chấp
lấy 5 vạn lượng bạc giao cho Trầm Khuông.
Cậu tự tin nghĩ rằng
chỉ cần chuyến buôn thành công,
tiền vàng đổ về,
cậu sẽ chuộc lại khế ước dễ dàng
trước khi cha phát hiện ra sự việc.
Thế nhưng, lưới trời lồng lộng,
thưa mà khó lọt.
Chỉ chưa đầy nửa tháng sau,
Trầm Khuông cùng toàn bộ số tiền vàng
biến mất như một làn khói,
không để lại bất kỳ dấu vết nào.
Thiên Bảo điên cuồng lung sục khắp
các quán trọ ở Gia Hưng,
nhưng chỉ nhận lại sự im lặng đáng sợ.
Đúng lúc cậu đang hoảng loạn tột độ,
chưa biết phải xoay sở ra sao,
thì chủ nợ của tiệm cầm đồ
dẫn theo hàng chục hộ vệ lực lưỡng
tay cầm gậy gộc ngay ngang bước vào tạ phủ
để tịch thu ba xưởng rệt
theo đúng khế ước đã thế chấp.
Tạ Tư An nhận được hung tin
liền vội vá phi ngựa trở về phủ.
Nhìn thấy tờ khế ước
có dấu ấn đỏ chót của gia tộc
cùng chữ ký rành rành của con trai.
Gã như bị một đảo sấm xét
giữa trời quang đánh trúng,
lồng ngực thắt lại đau đớn đến nghẹt thở.
Gã không thể tin nổi,
đứa con trai gã nâng niu như mạng sống.
Đứa trẻ gã dùng cởi làm việc ác,
đạp lên xương máu kẻ khác để cung phụng
lại tự tay dâng huyết mạch
của gia tộc cho kẻ khác.
Gã quay sang nhìn Thiên Bảo,
giọng run dày trong cay đắng.
Thiên Bảo!
Tại sao con lại làm thế với cha?
Tại sao con lại phản bội dòng họ này?
Trái ngược với sự đau đớn tột cùng của cha.
Thiên Bảo dù trong lòng có chút sợ hãi,
nhưng thói kiêu ngạo
đã ăn sâu vào cốt tủy
khiến cậu lớn tiếng cử cái,
đổ lỗi ngược lại.
Nếu cha sớm đưa tiền cho con,
thì mọi chuyện đâu ra nông nỗi này.
Cha giàu có nứt đố đổ vách,
mất đi ba sưởng dẹt thì đã sao?
Chẳng phải cha luôn dạy con
muốn làm việc lớn thì phải liều lĩnh,
phải dùng mọi thủ đoạn sao?
Con chỉ là đang học theo những gì cha dạy mà thôi.
Những lời nói lạnh lùng,
vô ơn ấy như những nhát dao găm thẳng
vào tâm can tạ tử an.
Gã lào đảo thối lui vài bước,
gương mặt tái mét, hơi thở dồn dập,
đôi mắt vàng tia đỏ
nhìn đứa con trai độc nhất đầy xa lạ.
Gã chợt nhận ra sự tàn nhẫn,
tham lam và ngạo mạn
mà gã gieo rắc bấy lâu nay lên người khác,
giờ đây đã kết thành một quả đắng nguyên vẹn,
dâng lên bởi chính đứa con
ruột thịt của mình.
Tô phu nhân tử phòng trong bước ra,
chứng kiến cảnh tượng tan hoang
và nghe những lời nghịch tử nói,
bà không chịu nổi cú sốc tinh thần quá lớn
nên ngất lịn đi.
Tạ Phủ vốn dĩ uy nghi lộng lẫy,
nay bỗng chốc bao trùm
bởi một bầu không khí ưu ám
thê lương như báo trước ngày tàn
của một gia tộc phú quý
nhưng rỗng tuyết phúc đức.
Sau cái đêm định mệnh ấy,
Tạ Phủ rơi vào tình cảnh hỗn loạn chưa từng có.
Ba sường diệt lớn nhất,
vốn là cái gốc dễ xinh nhai chống đỡ
cho sự phồn vinh của cả gia tộc,
chính thức rơi vào tay chủ nở.
Tạ Tự An không cam lòng nhìn cơ nghiệp
cả đời mình dày công gây dựng
Gã cố nén cơn đau thắt ngực,
lập tức khoác áo lên đường ngay trong đêm.
Gã tìm đến phụ của huyện lệnh
và những mối quan hệ làm ăn lâu năm
hy vọng dùng chút tình nghĩa cũ
và lời hứa hẹn về lợi nhuận
để vây mượn một số tiền lớn hòng chuộc lại khế ước.
Thế nhưng,
thế thái nhân tình nóng lạnh khôn lường.
Khi gã giàu sang phú quý
thì trăm kẻ vây quanh nịnh hót.
Lúc gã xa cơ lỡ vận
thì ai nấy đều ngoảnh mặt làm ngơ.
Huyện lệnh,
kẻ từng nhận không biết bao nhiêu vàng bạc đút lót
từ tay tạ từ an.
Nay chỉ tiếp gã bằng thái độ hờ hứng.
Lão ngồi trên ghế cao
nhấp một ngụm trà ngon rồi thong thả buông lời.
Tạ lão ra,
không phải bản quan không muốn giúp
mà là tờ khế ước con trai ngươi ký
có giấy trắng mực đen rõ ràng.
Chuyện thế chấp tự nguyện của dân gian,
quan phủ đâu thể tùy tiện can thiệp.
Ngươi hãy tự tìm cách xoay sở
thì hơn.
Không chỉ quan phủ,
ngay cả những thương nhân khác trước đây
từng bị tạ từ an chèn ép.
Nay thấy gã gặp nạn, liền đồng loạt quay lưng,
cắt đứt mọi nguồn cung cấp tơ tẩm
và từ chối thu mua sản phẩm còn lại
của tạ gia.
Chỉ trong vòng một tháng,
từ một đại phú thương tiếng tâm lẫy lửng,
tạ từ an bỗng chốc lâm vào
cảnh nợ nần bùa vây tứ phía,
không một ai thương sót.
Trong khi đó, tại tạ phủ,
bầu không khí ngày càng trở nên thê lương.
Tô phù nhân sau cú sốc
do nghịch tử gây ra đã ngá bệnh nặng,
nằm liệt giường không thể dậy nổi.
Vị lang chung được mời đến
sau khi bắt mạch chỉ biết lắc đầu thở dài,
bảo rằng đây là tâm bệnh
do ưu ớt, tích tụ, thần chí suy kiệt.
Có dùng thuốc quý
cũng khó lòng cứu vãn nếu tâm không an.
Giữa lúc gia đình lâm vào
cảnh khốn quẫn, tạ Thiên Bảo
lại không hề tỏ ra ăn năn hối cãi.
Sống trong nhung lụa từ nhỏ,
cậu hoàn toàn không chịu nổi
cảnh ăn uống đạm bạc và sự
kinh miệt của người đời.
Thay vì giúp cha gánh vác gia đình
hoặc chăm sóc người mẹ hiền đang hấp hối,
Thiên Bảo lại cảm thấy oán hận
cuộc sống hiện tại.
Cậu cho rằng sự bất lực của cha
đã khiến cậu mất đi tư cách
của một đại công tử.
Trong cơn túng quẫn và khát khao gỡ gạc
lại thể diện, Thiên Bảo quyết định
dấn thân vào con đường đỏ đen,
tin rằng chỉ có nó mới là cách nhanh nhất
để lấy lại tiền tài.
Nhân lúc cha ra ngoài
cố gắng bán đi những mẫu ruộng
dâu cuối cùng, Thiên Bảo
lẹn vào phòng của mẫu thân.
Nhìn người mẹ đang mê man trên giường bệnh,
cậu không một chút sót thương,
thả nhiên lục lọi chiếc dương gỗ nhỏ,
lấy đi toàn bộ số trang sức
bằng vàng ngọc, vốn là
tài sản tích cóp cuối cùng của tô phu nhân
để phòng thân. Thiên Bảo
đem toàn bộ số nữ trang ấy lao vào
bạc phường lớn nhất thành gia hưng.
Cậu điên cuồng vung tiền,
hy vọng vận may sẽ mỉm cười.
Thế nhưng, kẻ ăn cắp
tiền phòng thân của mẹ để làm sai
thì làm sao có được phúc báo?
Chỉ sau vài canh giờ ngắn ngủi,
số nữ trang cuối cùng hoàn toàn bay biến
sạch sẽ. Khi không còn
một đồng dính túi, Thiên Bảo
bị đám hộ vệ hung tợn giữ lại.
Chúng ép cậu phải ký vào một tờ giấy nợ mới
với số tiền khổng lồ.
Trong cơn hoảng loạn tột độ,
Thiên Bảo một lần nữa mất hết lý trí.
Bà đồng ý lấy chính tờ khế ước
sở hữu ngôi đại phủ đệ Tạ Gia
đang ở để làm vợ chấp cuối cùng
hòng giữ lại mạng sống.
Chiều muộn, Tạ Tư An
trở về phủ sau một ngày nhẫn nhục
bán ruộng. Gá vừa bước chân
qua ngưỡng cửa thì đập vào mắt
là cảnh tượng hỗn độn.
Đám đòi nợ thuê đã ngồi chém trệ
ở phòng khách, tay cầm tờ khế ước
phủ đệ có chữ ký của Thiên Bảo.
Chúng lạnh lùng thông báo cho gã biết
trong vòng ba ngày phải dọn ra khỏi nhà
vì toàn bộ phủ đệ này giờ đã
thuộc về chủ sòng bạc.
Tạ Tư An nghe xong, toàn thân
run dẩy, đứng không vững phải bám vào
chiếc cột gỗ đại sảnh.
Gá chạy sộc vào phòng trong tìm con
thì chỉ thấy Tô Phu Nhân
đã chút hơi thở cuối cùng từ lúc nào
đôi mắt bà vẫn đượm buồn nhìn
về phía trước chiếc dương trống rỗng.
Thiên Bảo lúc này đang bị
đám chủ nợ trói ở góc sân, miệng
liên tục gào thét văn xin cha cứu mạng.
Nhìn người vợ hiền lương,
nhìn đứa con trai độc nhất,
kẻ đã tự tay tước đi hơi
ấm cuối cùng vào mái nhà duy nhất của gia đình.
Tạ Tư An bỗng nhiên
không còn cảm thấy tức giận nữa.
Một nỗi trống rỗng, lạnh lẽo
tột cùng xâm chiếm lấy tâm can gá.
Lời cảnh báo năm xưa
của vị cao tăng hành cước bỗng chốc
vang vọng bên tai gá rõ mồn một.
Lão già muốn có con nối dõi,
nhưng nếu nghiệp ác không dừng,
đứa trẻ đến thế gian này cũng chỉ là để đòi nợ,
mang theo tai ương mà thôi.
Hóa ra,
trời xanh không hề láng quên ác nghiệp.
Đứa con trai tin anh
mà gá từng tự hào
và yêu thương hết mực,
thực chất chính là hiện thân của tất cả những oán hận,
nước mắt của những người bị gá bức hại
năm xưa.
Kho vàng đầy ấp ngày nào này
đã hoàn toàn trống rỗng.
Ba ngày sau, thời hạn dọn đi đã đến.
Tạ Tư An đứng trước đại môn Tạ Phủ,
nhìn tấm biển vàng rực rỡ
ngày nào bị người ta thô bạo gỡ xuống,
ném thẳng xuống nền đất bụi bầm.
Phủ đệ nguy nga bấy lâu,
gá tự hào giờ đã đổi chủ.
Gá chỉ còn lại hai bàn tay trắng,
trên vai là chiếc tay nải sờn,
cũ chứa vài bộ quần áo rách và một ít lương thực thô.
Bên cạnh gá,
Tạ Thiên Bảo dường như vẫn chưa tỉnh mộng phú quý.
Đôi giày gấm của cậu
đã rách bươm, gương mặt lem luốc,
nhưng miệng vẫn không ngừng lầm bầm
oán trách số phận, oán trách người cha bất lực,
bất lực không thể bảo vệ cuộc sống
nhung lụa cho mình.
Cha con gá
bước đi lang thang trên những con phố
của Thành Gia Hương, nơi gá từng
ngay ngang chèn ép biết bao người.
Trời đổ cơn mưa phùn lạnh giá,
gió bắc thổi qua tấm áo mỏng
khiến cả hai dun dậy cầm cập.
Không còn tiền bạc,
không còn gia nhân phục dịch,
Thiên Bảo nhanh chóng kiệt sức vì đói và lạnh.
Sự nung chiều từ nhỏ
khiến cậu không có chút khả năng
chịu đựng nào.
Chỉ sau một tuần sống cạnh màn trời chiếu đất,
Thiên Bảo đổ bệnh nặng,
toàn thân nóng gian,
đôi chân xưng tấy không thể tự đi lại được.
Nhìn đứa con trai
nằm co quắp dưới mái hiên
của một ngô nhà hoang, tạ tự an
lòng đau như cắt.
Gá chút bỏ chút tôn nghiêm tội nghiệp cuối cùng
của một đại phú thương ôm chiếc bát vỡ
đi gõ cửa từng nhà để xin cháu loãng.
Mỗi khi xin được ngụm nước ấm
hay miếng bánh ngô khô khốc,
gá đều nhường hết cho con.
Thế nhưng Thiên Bảo
mỗi khi tỉnh táo lại
dùng những lời lẽ cay độc oán trách cha
đổ lỗi rằng chính sự tàn nhẫn
và vô năng của gá đã đẩy cậu
vào con đường cùng.
Trải qua những ngày tháng khổ cực ấy,
oán hận trong lòng tạ tự an bỗng nhiên tiêu biến.
Gá không còn tức giận
trước sự ngỗ ngược của con trai nữa
khi nhìn vào đôi mắt chứa đầy sự ích kỷ
và oán trách của Thiên Bảo.
Gá chỉ thấy hình bóng của chính mình năm xưa,
một kẻ ngạo mạn, coi tiền tài là tất cả
và sẵn sàng trả đạp
lên đau khổ của người khác.
Gá thấu suốt rằng
Thiên Bảo chính là tấm gương phản chiếu ác nghiệp
của Gá.
Cậu đến cuộc đời này không phải để hiếu kính
mà để đòi lại tất cả những gì
Gá đã cướp đoạt của nhân gian
bắt Gá phải nếm trải nỗi đau khổ tột cùng
của một người cha.
Hiểu được nhân quả, tạ tự an
bắt đầu hành trình sám hối thực sự.
Hằng ngày, ngoài việc đi xin ăn
để nuôi con, Gá tình nguyện
làm những công việc nặng nhọc nhất cho dân làng
mà không đòi hỏi tiền công
từ gánh nước, quét dọn đường xá
đến phụ giúp những gia đình neo đơn.
Ai đưa cho miếng cơm,
củ khoai, Gá đều trân trọng
chắp tay cảm tả.
Gá cố gắng gom góp từng chút thiện hạnh nhỏ bé
để lấp đầy kho đức
vốn đã rỗng tuyết của dòng họ.
Mùa xuân năm thứ ba kể từ ngày phá sản
cha con Gá lang thang trở lại phía nam Gia Hưng
nơi có ngôi chùa cổ năm xưa
từng bị tạ tự an
dùng quyền lực bép bức để cướp bức tượng
Phật Ngọc Bích.
Kỳ lạ thay, ngôi chùa giờ đây đã được
trùng tu khang trang, tiếng chuông chùa
vang vọng thanh tịnh giữa không gian.
Người đứng ra quyên góp và kêu gọi
xây dựng lại ngôi chùa không ai khác
chính là hậu duệ của Chu Gia.
Gia tộc năm xưa từng bị tạ tự an
lừa gạt đến trắng tay.
Nhờ kiên trì làm ăn chân chính
và tích đức hành thiện, Chu Gia đã khôi phục
lại cơ nghiệp, con cháu họ đều thành đạt
và sống rất nhân hậu.
Tạ tự an đứng từ xa nhìn cảnh tượng ấy
nước mắt Gia lăn dài trên gò má
gầy gò, khắc khổ.
Gia không dám bước vào chùa
vì tự thấy tội lỗi của mình quá lớn
liền quy sụp xuống bãi cỏ ngoài cổng
hướng về điện Phật mà dập đầu
sám hối sâu sắc, Gia cầu nguyện
cho linh hồn người vợ hiền được an nghỉ
và cầu xin trời xanh giảm bớt
ác nghiệp trên thân đứa con trai tội nghiệp.
Chứng kiến mái tóc cha
đã bạc trắng, tấm lưng
còng xuống vì gánh vác mọi dông bão
cuộc đời để nuôi mạng sống cho mình
và hành động quỳ lại
sám hối chân thành của cha
trái tim băng giá của tạ Thiên Bảo
bỗng chốc tan chảy.
Lần đầu tiên trong đời, cậu ấm ngỗ ngược
biết rơi những giọt nước mắt hối hận
cậu lết đôi chân tàn tật
đến bên cạnh cha, ôm lấy bờ vai
gầy guộc của tạ Tự An và nghẹn ngào gọi
một tiếng, phụ thân, con sai rồi.
Giây phút hai cha con
ôm nhau khóc giữa tiếng chuông
chùa trầm ấm, bầu không khí
oán hận bao trùm suốt bao năm qua
bỗng chốc tan biến, áo gấm
vinh hoa, kho vàng đầy áp suy cho cùng
chỉ là mây khói thoảng qua, chỉ có
sự thức tình của lương tri và tình thâm
cốt nhục mới là chân thật.
Tạ Tự An mỉm cười thanh thản, gã biết
rằng dù gã đã mất đi tất cả
của cải thế gian, nhưng vào giây phút cuối cùng này
gã đã tìm lại được linh hồn
của con trai mình và để lại cho cậu
một bài học vô giá về tình người.
Không lâu sau đó, tạ Tự An
nhẹ nhàng nhắm mắt, xuôi tay
dưới bóng cây cổ thụ trước cổng chùa
gương mặt toát lên vẻ an lòng
tự tải.
Trong chất lý Phật giáo, thế gian
vạn vật đều là hư ảo, tiền tài
của cải tựa như giọt xương
trên đầu ngọn cỏ, đến rồi đi theo
duyên hợp tan.
Duy chỉ có nghiệp lực và phúc đức là bóng
với hình, ngàn năm không chuyển rời
đi theo con người từ đời này sang đời khác.
Để đức cho con
không phải là để lại núi vàng góc bể
mà là để lại cho con
một tấm lòng lương thiện,
một lối sống chính trực và một cái kho
phúc đức dày sâu.
Đó mới chính là chiếc bùa hộ mệnh linh nghiệm nhất
bảo hộ cho con cháu đời đời
bình an, thịnh vượng.
Cảm ơn bạn đã lắng nghe.
Hãy like và chia sẻ câu chuyện này
nếu bạn tin rằng lòng thiện vẫn còn trong cuộc đời.
Mời bạn đăng ký kênh
Chuyện Nhân Quả để cùng gieo thêm
hạt thiện lành qua những câu chuyện
nhân quả mỗi ngày.