0:00 Giới Thiệu 01:21 Cú Sốc Đảo Chiều – Khi “Tử” Vượt “Sinh” 05:35 Nghĩa Địa Dữ Liệu – 963.500 Mã Số Thuế “Chết Lâm Sàng” 07:55 Nghịch Lý Lãi Suất: 5 Lần Mệnh Lệnh Yêu Cầu Giảm Lãi Suất 12:13 Tác Động Tiêu Cực Của Lạm Phát Năm 2026 13:56 Khủng Hoảng Mặt Bằng Nhà Phố Và Sự Suy Tàn Của Chợ Truyền Thống 17:30 Kết Luận
Chuyện gì đang thực sự xảy ra ở TP.HCM khi mỗi tháng trôi qua, Bình quân có hơn 5.500 doanh nghiệp ngừng hoạt động.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, cán con sinh tử đã chính thức đạo chiều, số doanh nghiệp chết vượt số doanh nghiệp sinh.
Đây là bức tranh có thật của nền kinh tế đầu tàu Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026.
Số liệu chính thức từ phiên họp kinh tế xã hội ngày 12 tháng 8 năm 2026 của Ủy ban Nhân dân TP.HCM,
gần 39.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Trong đó, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng 158,66%,
một mức tăng chưa từng có trong lịch sử thống kê doanh nghiệp của TP.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP.HCM, ông Nguyễn Văn Được đã phải thẳng thắng thừa nhận,
đây là rào cạn lớn nhất đe dọa mục tiêu tăng trưởng GRDP 2 triệu số của TP.
Trong video ngày hôm nay, BCN sẽ cùng quý vị giải mã toàn cảnh bức tranh này.
Kính mời quý vị cùng theo dõi!
CỦU SÓC ĐẢO CHIÊU KHI TỬ VƯỜT SINH
Có một chỉ báo mà giới hoạch định chính sách TP.HCM luôn theo dõi sát sao, đó là cán công sinh tử của doanh nghiệp.
Đây là nhiệp mạch phản ánh sức khỏe thật của nền kinh tế.
Suốt quý II năm 2026, cán công này vẫn dương, tức số doanh nghiệp sinh ra vẫn nhiều hơn số chết đi.
Nhưng đến tháng 7 năm 2026, lần đầu tiên trong nhiều năm, đường công đảo chiều, số doanh nghiệp chết chính thức vượt số doanh nghiệp sinh.
Cụ thể, 7 tháng đầu năm 2026, tại TP.HCM ghi nhận, 34.096 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,81%.
Ở chiều ngược lại, chúng ta thấy 2 con số đáng chú ý.
7.483 doanh nghiệp hoàn tất thuộc tục giải thể, tăng 158,66%.
31.321 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,51%.
Tổng 2 số này là 38.805 doanh nghiệp ngừng hoạt động.
Chính Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP.HCM, ông Nguyễn Văn Được đã thẳng thắng thưa nhận trong phiên họp ngày 12 tháng 8 năm 2026,
rằng đây là rào cản lớn nhất đe dọa mục tiêu tăng trưởng GRDP 2 con số của thành phố.
Ông cũng yêu cầu làm rõ nguyên nhân doanh nghiệp TP.HCM tử nhiều hơn sinh.
Chúng ta hãy thử so sánh doanh nghiệp rút lui ở TP.HCM 7 tháng năm 2026,
cùng với các năm từ năm 2023 đến năm 2025.
Năm 2023, khoảng 19.500 doanh nghiệp.
Năm 2024, khoảng 23.100 doanh nghiệp.
Năm 2025, khoảng 29.400 doanh nghiệp.
Năm 2026, 38.805 doanh nghiệp.
Để hiểu một cách đơn giản nhất về bức tranh kinh tế của TP.HCM qua các con số trên,
chúng ta có thể ví nền kinh tế thành phố như một vòng xoay sinh tử của các tế bào kinh doanh.
Sự thay đổi từ năm 2023 đến năm 2026 phản ánh hai tín hiệu báo đọc rất rõ ràng về sức khỏe của thị trường.
1. Lan sóng đóng cửa ngày càng dồn dập và khốc liệt.
Nhìn vào số liệu 7 tháng đầu năm, lượng doanh nghiệp rút lui tăng đều đặn qua mỗi năm,
từ khoảng 19.500 lên gần 39.000 doanh nghiệp.
Điều này cho thấy áp lực lên doanh nghiệp không hề giảm bớt, mà ngày càng tích tụ nặng nề hơn.
Đáng chú ý, số doanh nghiệp chọn con đường giải thể hoàn toàn, tức là khai tự vĩnh viễn,
chấp nhận mất trắng và không quay lại nữa vào năm 2026,
đã tăng vọt tới hơn 158% so với năm trước.
Đây không còn là hành vi tạp ngưng để nghe ngóng tình hình nữa,
mà là quyết định rút lui dứt khoát của những chủ doanh nghiệp
đã cạn kiệt nguồn gốm và niềm tin vào sự phục hồi ngắn hạn.
2. Bước ngoặt lịch sử, sinh không đủ bù tử.
Cục mốc năm 2026 đánh dấu một hiện tượng chưa từng có.
Số lượng doanh nghiệp đóng cửa đã chính thức vượt mặt số lượng doanh nghiệp thành lập mới.
Hơn 38.800 doanh nghiệp ra đi so với chỉ hơn 34.000 doanh nghiệp sinh mới.
Trước đây, giai đoạn 2023-2024, dù thị trường khó khăn và có nhiều doanh nghiệp chết đi,
nhưng số người lạc quan mở doanh nghiệp mới vẫn nhiều hơn.
Giúp tổng quy mô kinh tế của thành phố vẫn phát triển, số mở mới luôn lớn hơn số đóng cửa.
Đến năm 2026, cán con này bị lọt ngược.
Số người phải bỏ cuộc quá lớn, trong khi những người dám bỏ vốn ra mở công ty mới lại rụt rè hơn.
Sự so sánh này chứng minh rằng các doanh nghiệp tại TP.HCM
đang phải trải qua một cuộc sàn lọc ở cấp độ gắt gao nhất.
Nhưng khó khăn tiếp tục từ giai đoạn si thoái trước đó,
chi phí vận hành tăng cao, thiếu đơn hàng, nghẹn dòng vốn
đã chạm đến giới hạn chịu đựng của nhiều mô hình kinh doanh,
buộc thị trường phải bước vào một giai đoạn tái cấu trúc
và thay máu toàn diện.
Thế nhưng, con số doanh nghiệp rút lui ở TP.HCM
chưa phải là toàn cảnh của câu chuyện.
Mời quý vị hãy nhìn vào con số còn khốc liệt hơn.
Nghĩ địa dữ liệu
963.500 mà số thuế chết lâm sàng
Đến đây, chúng ta chạm đến một điểm nghẹn khổng lồ mà rất ít người nói tới.
Cả nước đang có gần 963.500 người nập thuế
ở trạng thái không hoạt động, nhưng chưa thể giải thể.
Trong đó có 325.000 doanh nghiệp
và 638.000 hộ kinh doanh.
Con số này là rất lớn khi so với việc cả nước
hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang còn hoạt động.
Trên hệ thống của cơ quan thuế,
các đối tượng này rơi vào 2 trạng thái.
Trạng thái 03 đã ngừng hoạt động
nhưng chưa đóng được mạ số thuế vì còn nợ tiền.
Gần 292.000 doanh nghiệp bắt kẹt tại đây.
Trạng thái 06 bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký
bao gồm cả doanh nghiệp thu lỗ tự bỏ
và cả doanh nghiệp mà lập ra
để mua bán hóa đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp.
Nguyên nhân ở đây là thủ tục thành lập doanh nghiệp thì dễ,
thủ tục giải thể lại phức tạp,
có người ví giải thể khó như tháo bom.
Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán,
việc gánh thêm các khoản phạt chậm nộp,
truy thu, chi phí kế toán
để hoàn tất giải thể trở thành quá sức.
Vậy là hàng trăm ngàn chủ doanh nghiệp
chọn cách đơn giản nhất, bỏ mặt.
Và đây là lý do Bộ Tài chính,
Tổng Cục Thuế đã tung chiến dịch
làm sạch mạ số thuế trên toàn quốc.
Cục Thuế đã ban hành công văn số 5322,
chỉ đạo các cơ quan thuế trực thuộc,
thực hiện ra soát nghiêm ngặt
và áp dụng biện pháp công khai thông tin
đối với các thực thể thuộc trạng thái 03 và 06,
đồng thời một tranh cãi lớn nổi lên,
quy định cấm xuất cảnh vì nợ thuế.
Đã có những trường hợp thật,
công dân bị chặn tại sân bay
vì nợ 600 đồng,
43.757 đồng
hay 82.800 đồng.
Nhiều người cho rằng đây là điều phi lý.
Chính vì vậy,
dự thảo nghị định mới đề xuất
chỉ cấm xuất cảnh khi nợ thuế
từ 1 triệu đồng trở lên.
Ngưỡng này, theo tính toán,
sẽ tự động loại bỏ rủi ro
cho hơn 50% người nợ thuế
thuộc diện không hoạt động có nợ đồng.
Như vậy, chúng ta đã thấy
bức tranh nhỏ của TP.HCM
Tiếp theo, chúng ta thử đi tìm nguyên nhân
những vấn đề này.
Nghịch lý lại xuất
5 lần mệnh lệnh yêu cầu giảm lại xuất
Trong năm 2026,
tính đến tháng 8,
ngân hàng nhà nước và thống đốc
đã có ít nhất 5 lần đưa ra chỉ đạo
yêu cầu toàn hệ thống ngân hàng giảm lại xuất
nhằm hỗ trợ nền kinh tế.
Việc yêu cầu giảm lại xuất này được thực hiện
liên tục qua từng giai đoạn
nhằm hạ nhiệt mặt bằng lại xuất cho bay
đang nèo ở mức cao.
Dưới đây là tiếng trên các đợt yêu cầu
giảm lại xuất cụ thể trong năm 2026.
Lần một, ngày 30 tháng 3
năm 2026, công văn số
2342, ngân hàng nhà nước
chính thức ra văn bản chấm chỉnh
việc chạy đua lại xuất hay động,
yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai
giải pháp ổn định mặt bằng lại xuất thị trường.
Ngày 9 tháng 4 năm 2026,
thống đốc trực tiếp
chủ trì cuộc họp khẩn với các ngân hàng thương mại.
Tại đây, cơ quan quản lý
ép các nhà băng đạt đồng thuận
giảm ngay lại xuất hay động
từ 0,1 đến 0,5% một năm
nhằm lấy dư địa hạ lại xuất
cho bay. Cuối tháng 5
năm 2026, trước tình trạng
một số đơn vị lén lút nèo lại xuất
đặc biệt ở mức cao, ngân hàng nhà nước
tiếp tục ra văn bản yêu cầu
các ngân hàng thực hiện nghiêm túc trụ trương
giảm lại, đồng thời đe dọa tăng
cường thanh tra, xử lý đơn vị không
chấp hành. Đầu tháng 7
năm 2026, thống đốc
một lần nữa ra lệnh cho toàn ngành
phải tìm mọi cách tiết giảm
chi phí vận hành để tiếp tục hạ
mặt bằng lại xuất cho bay thực chất,
hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn
về dòng vốn trong nửa cuối năm.
Giai đoạn cao điểm từ ngày 7 tháng 8
đến 13 tháng 8 năm 2026.
Ngày 7 tháng 8 năm 2026,
ngân hàng nhà nước
băng hành văn bản số 7125
đề nghị các ngân hàng thiết lập
gói tín dụng ưu đại cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa, với lại xuất thấp hơn
tối thiểu một phần trăm một năm
so với thông thường.
Ngày 13 tháng 8 năm 2026,
dưới sự chủ trì của Thủ tướng Lê Minh Hưng,
cuộc họp khẩn với toàn bộ hệ thống
tổ chức tín dụng được kích hoạt,
đưa ra mệnh lệnh buộc các ngân hàng
phải giảm thực chất lại xuất cho bay,
tạo nên làn sóng giảm lại xuất bay
diện rộng lập tức sau đó.
Vì cơ quan quản lý phải đưa ra yêu cầu
giảm lại xuất tới 5 lần, phản ánh
một thực tế, lại xuất không thể hạ
chỉ bằng mệnh lệnh hành chính,
mà phụ thuộc hoàn toàn
vào các quy luật cung cầu
và áp lực nồi tại của nền kinh tế.
Khi mệnh lệnh hành chính mắc kẹt
trước áp lực thị trường, chúng ta nhìn thấy
4 vấn đề cốt lõi sau.
Thứ nhất, chi phí vốn đầu vào
của ngân hàng quá cao.
Ngân hàng hoạt động như một doanh nghiệp
mua bán vốn, họ không thể giảm giá bán,
tức lại xuất cho bay.
Nếu giảm mua, lại xuất huy động
vẫn neo ở mức cao.
Để giữ chân tiền gợi từ dân cư
trước áp lực lạm pháp
và sự cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác
như vàng, bất đồng sản,
các ngân hàng buộc phải duy trì lại xuất huy động
trung dài hạn ở mức cao.
Khi giả vốn đầu vào cao,
việc ép các ngân hàng giảm lại xuất cho bay
sẽ trực tiếp làm thu hẹp biên lợi nhuận,
đe dọa đến sự an toàn hệ thống
của chính họ.
Thứ hai, áp lực nợ xấu tăng cao
khiến chi phí rủi ro lớn.
Khi rủi ro nên kinh tế tăng,
ngân hàng phải tăng chi phí dự phòng.
Nhiều doanh nghiệp và cá nhân
gặp khó khăn trong việc trả nợ gốc
khiến tỷ lệ nợ xấu tiêm ẩn trong hệ thống phình to.
Theo quy định,
ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro
rất lớn cho các khoản nợ này.
Chi phí dự phòng này được tính vào
chi phí vận hành, buộc ngân hàng
phải nêu lại xuất cho bay cao
đối với các khoản bay mới để bù đắp rủi ro.
Thứ ba, sự lệch pha nghiêm trọng
giữa tính dùng và huy động.
Nền kinh tế năm 2026
đặt mục tiêu tăng trưởng cao
dẫn đến nhu cầu khác vốn
từ các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tốc độ người dân gửi tiền vào ngân hàng
lại không tăng trưởng thương ấn
khi nhu cầu vây vốn lớn hơn
lượng tiền mặt sẵn có.
Theo quy luật thị trường, giá của dòng tiền
từ khác sẽ bị đẩy lên cao
tri tiêu tác dụng của các văn bản yêu cầu hành chến.
Hệ quả là doanh nghiệp
khó tiếp cận tiền rẻ.
Đây rất có thể là nguyên nhân dẫn đến
số lượng doanh nghiệp TP.HCM
ngừng hoạt động tăng cao trong năm 2026.
Ngoài vấn đề về vốn,
doanh nghiệp còn chịu tác động khác
một cách âm thầm nhưng cũng đáng sợ.
Tác động tiêu cực
của lạm phát năm 2026.
Lạm phát năm 2026
đang tác động trực tiếp và toàn diện
đến cấu trúc vận hành của doanh nghiệp
theo hướng tiêu cực, bất chấp các
trị số chung vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Trên thực tế, các doanh nghiệp
đang phải hứng chịu lạm phát
chi phí đẩy vô cùng khốc liệt.
Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long,
sức ép lạm phát đối với doanh nghiệp
không chỉ đến từ biến động giá thế giới,
mà còn do sự điều chỉnh
giá của nhiều loại hàng hóa,
dịch vụ thiết yếu trong nước như
vật liệu xây dựng, cước vận chuyển
và các dịch vụ công.
Sự gia tăng đồng loạt của chi phí nguyên vật liệu,
chi phí vận chuyển, chi phí nhân sự
để duy trì đời sống người lao động
và chi phí lại vay đang trực tiếp
bao mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
Điển hình do tác động từ
của sốc giá nhân liệu toàn cầu
vào năm 2021 chỉ số giá
nhóm giao thông tại TP.HCM
trong 6 tháng đầu năm 2026
đã tăng trên 11%, trực tiếp đẩy
chi phí logistics nội địa
và suất nhập khẩu tăng vọt.
Nhiều doanh nghiệp sản xuất buộc phải đẩy nhanh
việc tích trợ nguyên vật liệu,
ngay cả khi giá đang neo cao
nhằm phòng ngừ rủi ro nước gãy nguồn cung,
qua đó làm gia tăng nghiêm trọng
về gánh nặng dòng tiền.
Điều đáng ngại nhất là các doanh nghiệp
rơi vào tình thế tiến thoái lựng nang.
Chi phí đầu vào leo thang
nhưng lại không thể tăng giá bán
sản phẩm tương ứng.
Do tâm lý chợ giá giảm và thắt chặt
chi tiêu của khách hàng,
sự lệch phá này đẩy rủi ro tài chính
và rủi ro vận hành lên mức báo động.
Hệ lụy của rủi ro vận hành
không dừng lại ở lý thuyết
mà đã hiện hiện qua những câu chuyện thực tế
đầu sót trên thị trường mặt bằng kinh doanh.
Khủng hoảng mặt bằng nhà phố
và sự suy tàn của chợ truyền thống.
Nguồn cầu suy giảm
kết hợp với thói quen tiêu dùng
chuyển dịch sang không gian mạng
đã chăm ngồi cho một cuộc khủng hoảng
trầm trọng chưa từng có
trên thị trường bốc đồng sản thương mại bán lệ
tại thành phố Hồ Chí Minh.
Các cấu trúc thương mại truyền thống
từng là niềm tự hào
và là con gà đậy trứng vàng của thành phố
đang sụp đổ dưới sức ép
của chi phí và công nghệ.
Cuộc khủng hoảng này thể hiện rõ nhất
qua sự điều hiu của các chợ truyền thống biểu tượng.
Tại chợ Bến Thanh, chợ An Đông
hay chợ Tân Bình, cảnh mua bán
tấp nập khách sỉ từ các tỉnh đổ về
nay chỉ còn là quá khứ.
Hàng loạt sạp hàng bị bỏ trống.
Tiểu thương treo biển sang nhượng sạp
các lỗ lên đến 90% giá trị
nhưng vẫn không có người mua.
Nguyên nhân trực tiếp là sự
tấn công ồ ạc của các nền tảng
thương mại điện tử xuyên biên giới
như Shopee, Tiktok Shop.
Để tồn tại, các tiểu thương truyền thống
bị ép buộc phải chuyển đổi số
áp dụng thanh toán không gần tiền mạc
và livestream bán hàng
nhưng năng lực tiếp cận công nghệ
của thế hệ tiểu thương cũ
vẫn là một rào cản quá lớn.
Nghiêm trọng hơn sự sụp đổ
của chợ truyền thống là lan sóng
trả mặt bằng nhà phố đang can quét
khắp các tuyến đường được mệnh danh
là đất vàng của TP.HCM.
Các tuyến phố thương mại xăm út
như Ngô Đức Kế, Hàm Nghi, Nguyễn Huệ, Đông Khởi,
Nam Kỳ Khởi Nghĩa, không chỉ có
các mặt bằng trống kéo dài nhiều tháng
mà gần đây tiếp tục xuất hiện
thêm nhiều điểm kinh doanh mới treo biển.
Xù hướng này nhanh chóng lan sang
các trục đường cận trung tâm như
quận 3, quận 10, quận Phú Nhuận.
Điển hình chỉ một đoạn đường
chưa đầy 500m trên trục đường
3 tháng 2 tính từ Cao Thắng
đến Vòng Xoài Dân Chủ đã ghi nhận
gần chục mặt bằng đang phát thông báo
trao thuê lại. Trái ngược với
phân khúc trung tâm thương mại vẫn duy trì
được tỷ lệ lấp đầy trên 93%.
Mặt bằng nhà phố đang
trải qua đợt giảm giá sâu rộng.
Dữ liệu thị trường cho thấy
nguồn công mặt bằng cho thuê
hiện tăng 20-30%
so với cùng kỳ năm trước,
trong khi lượng khách tìm thuê sụp giảm rõ rệt
buộc giá thuê nhà phố giảm
8-10% so với cuối năm ngoái.
Đặc biệt,
tại các khu vực như quận 10 và quận 11
cũ, giá trao thuê công khai
đã giảm sâu tới 24-25%.
Các khu vực như quận 1
giảm gần 9%
và ở Binh Thạnh, Phú Nhuận
cũng ghi nhận mức giảm giao động
7-16%.
Theo phân tích từ các chuyên gia Saville,
thực trạng này phản ánh một xu thế tất yếu.
Mô hình nhà phố thương mại
truyền thống đã mất đi lợi thế
độc quyền về vị trí và lưu lượng
khách vạn lại do sự bùng nổ
của mô hình bán hàng đa kênh
và thương mại điện tử.
Đồng thời, việc thắt chặt quản lý vỉ hè
cũng khiến các thương hiệu thu hẹp
diện tích mặt tiền vật lý để tối ưu chi phí.
Điều này khiến vòng đời
của các hợp đồng thuê ngày càng ngắn lại
do người kinh doanh không đạt được
kỳ vọng doanh thu.
Nghị lý ở đây là dù giá thuê đã giảm
20-30%, chi phí tuyệt đối
của các mặt bằng trung tâm vẫn
nằm ở mức quá cao.
Từ 100-200 triệu đồng một tháng
vượt xa ngưỡng an toàn là 15-20%
tỉ trọng doanh thu dự kiến
của một mô hình kinh doanh thông thường.
Tình trạng hàng loạt mặt bằng
đắc địa bị bỏ hoang
không chỉ gây lãng phí nguồn lực xã hội
mà còn phản ánh sự lệt pha
nghiêm trọng giữa định giá
tài sản bất đồng sản và khả năng
tạo ra dòng tiền thực tế của nền kinh tế.
Thưa quý vị,
lăng sóng gần 39.000 doanh nghiệp
tại TP.HCM rút lui khỏi thị trường
trong 7 tháng đầu năm 2026
là hệ quả tiêu cực
từ sức ép làm phát chi phí đẩy,
rào cạn tiếp cận vốn và sự
lỗi thời của mô hình bán lẻ nhà phố
truyền thống. Sự kỳ quệ về
biên loại nhuận đã buộc các mô hình
kinh doanh kém hiệu quả phải rời đi.
Thực trạng này để lại nhiều thách thức
ngắn hạn như khối lượng lớn doanh nghiệp
chết lâm sàng, mắc kẹt
ở trạng thái 03, 06 hay
hàng loạt mặt băng đắc địa bị bỏ hoang.
Theo quý vị, doanh nghiệp TP.HCM
nên cần những hỗ trợ gì
để vượt qua khó khăn của năm 2026?
Hãy để lại góc nhìn của quý vị
ở phần bình luận bên dưới
để cộng đồng BCNN cùng thảo luận nhé!
Đừng quên nhấn like, đăng ký kênh
và bọc chuông thông báo.
Để không bỏ lỡ những phân tích tiếp theo
từ BCNN, xin cảm ơn.
Xin chào và hẹn gặp lại!