Nước Úc Chi Triệu Đô Diệt Trăm Nghìn Con Lừa Hoang ở Sa Mạc, Kết Quả Thật Kinh Hoàng !……

Thế giới tươi đẹp
336 người theo dõi
157 Lượt xem video·21 thg 8, 2026
Nước Úc Chi Triệu Đô Diệt Trăm Nghìn Con Lừa Hoang ở Sa Mạc, Kết Quả Thật Kinh Hoàng !… nguồn;;st…
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Bạn có tin không, ngay tại hành tinh của chúng ta có một vùng đất rộng tới hàng triệu cây số
nhưng lại là một bản án tử hình cho bất cứ ai dám đặt chân tới, đó là sa mạc chết chóc của nước Úc.
Ở đây nắng nóng lên tới 50 độ C, không một bóng cây, không một giọt nước.
Thế nhưng vào những năm 1800, người ta đã đưa một sinh vật vào đây để giải cứu con người.
Một sinh vật được ca tụng là vị cứu tinh, để rồi chính nó biến thành cơn ác mộng khủng khiếp nhất
kéo dài đến tận ngày hôm nay. Bạn có đoán được đó là con gì không?
Trước khi đi sâu, nếu bạn đang xem video này và thấy thú vị, hãy nhấn like và đăng ký kênh Góc Vô Hạn
để không bỏ lỡ những câu chuyện khác nhé.
Để hiểu tại sao thảm họa này bắt đầu, chúng ta phải quay ngược thời gian về giữa thế kỷ 19.
Lúc này, làn sóng người định cư và các nhà thám hiểm đổ xô vào sâu trong lục địa Úc
để tìm vàng và mở rộng bờ cõi.
Ban đầu, họ dùng ngựa và châu bò để kéo hàng, nhưng khí hậu sa mạc Úc quá tàn khốc.
Ngựa thì cần cỏ tươi, bò thì cần uống nước liên tục.
Chỉ sau vài ngày băng qua cát nóng, những con vật này kiệt sức, gục ngã và chết hàng loạt.
Việc giao thương bị tê liệt.
Người Úc đứng trước một bài toán sinh tử.
Nếu không tìm được một loài vật chịu gian khổ tốt hơn, công cuộc khai phá vùng đất này sẽ hoàn toàn thất bại.
Tại sao họ không sử dụng lạc đà?
Vì thời đó lạc đà rất hiếm và phải vài thập kỷ sau mới được dùng phổ biến.
Và đúng vào khoảnh khắc bế tắc đó, loài lừa đã xuất hiện như một vị thần.
Sau đó lừa được nhập khẩu từ khắp nơi trên thế giới.
Loài lừa ngay lập tức chứng minh chúng sinh ra là để dành cho sa mạc.
Chúng lì lợm, kiên nhẫn và khỏe đến mức kinh ngạc so với thân hình nhỏ bé.
Đặc biệt, lừa không hề kén ăn.
Chúng có thể nhai rôm rốt những bụi cây khô héo,
những ngọn cỏ cứng ngắc mà ngựa hay bò nhìn thấy đều phải khóc thét.
Chúng lại uống cực kỳ ít nước.
Một đàn lừa có thể lầm lũi đi bộ hàng tuần liền dưới cái nắng như thiêu như đốt, mà hiếm khi bị kiệt sức.
Từ những năm 1820 đến 1840, nhu cầu mua lừa tăng vọt một cách điên cuồng.
Các thị trấn đào vàng mọc lên như nấm, và lừa chính là những shipper vĩ đại nhất thời bấy giờ.
Chúng trở thiết bị mỏ, vận chuyển lương thực và trở những thùng nước cứu mạng đi xuyên qua hàng ngàn dặm sa mạc.
Với các chủ trang trại lừa quý hơn vàng,
họ mê mẩn chúng đến mức tự lập các trại nhân giống nội địa thay vì tốn tiền nhập khẩu.
Loài lừa chính thức bước lên đỉnh cao vinh quang tại nước Úc.
Nhưng cuộc đời ai biết trước được chữ ngờ.
Đầu thế kỷ 20, cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ.
Xe ô tô, xe tải hạng nặng và các tuyến đường sắt bắt đầu vươn dài vào sa mạc.
Những công việc chở hàng nặng nhọc trước đây giờ được thay thế bằng máy móc.
Và thế là những chú lừa trung thành bỗng chốc trở thành kẻ thừa thái.
Đứng trước bài toán kinh tế, các thợ mỏ và chủ trang trại đã đưa ra một quyết định vô cùng nhân tâm.
Thay vì tốn tiền mua cỏ nuôi những con vật không còn giá trị sử dụng,
họ mở toan cánh cửa chuồng, xua đuổi hoặc bỏ mặc những đàn lừa tự sinh tự diệt giữa sa mạc hoang vù.
Họ nghĩ rằng thiên nhiên khắc nghiệt sẽ sớm xóa sổ chúng.
Nhưng họ đã lầm. Họ đã đánh giá thấp bản năng sinh tồn của loài lừa.
Những con lừa bị bỏ rơi bắt đầu tụ tập lại thành từng đàn nhỏ,
tiến sâu vào các vùng hẻo lánh của Tây Úc và vùng lãnh thổ phía Bắc.
Chúng tự do chiêm lĩnh những vùng đất mới mà không cần con người quản lý.
Cứ như vậy, mầm mống của một cuộc xâm lẳng quy mô lớn đã được gieo xuống.
Số lượng của chúng bắt đầu tăng lên một cách tróng mặt và không thể kiểm soát.
Ở sa mạc này hoàn toàn không có các loài thú săn mồi lớn như hổ báo hay sư tử.
Kẻ săn mồi hung dữ nhất sa mạc chỉ là chó dingô bản địa,
mà dingô thì quá nhỏ bé, chúng chỉ dám dinh dập bắt vài con lừa con lạc đàn.
Còn đối với một con lừa trưởng thành nặng gần 3 tạ,
móng quốc cứng như đá và cú đá hậu trời dáng,
chó dingô nhìn thấy cũng phải né xa.
Không bị ai săn đuổi, lại gặp điều kiện khí hậu phù hợp,
loài lừa bắt đầu sinh sản một cách điên cuồng.
Từ một vài nhóm nhỏ bị bỏ hoang ban đầu,
quần thể lừa nhân lên theo cấp số nhân.
Đến năm 1949, tình hình tồi tệ đến mức chính phủ Tây Úc phải gạt bỏ mọi sự biết ơn quá khứ.
Chính thức tuyên bố lừa là loài sinh vật gây hại quốc gia.
Khi số lượng lừa hoang tăng vọt lên hàng trăm nghìn con,
chúng bắt đầu tạo ra một cuộc thảm sát thầm lặng
đối với hệ sinh thái vốn đã vô cùng mong manh của nước Úc.
Đòn chí mạng đầu tiên nằm ở nguồn nước.
Khi số lượng lừa hoang tăng vọt lên hàng trăm nghìn con,
chúng bắt đầu tạo ra một cuộc thảm sát thầm lặng
đối với hệ sinh thái vốn đã vô cùng mong manh của nước Úc.
Nhưng giờ đây, hàng ngàn con lừa hoang ủn ủn kéo đến chiếm đóng.
Bộ móng quốc siêu cứng của chúng dẫm đạp, nát bấy các bờ hồ,
biến dòng nước trong vắt thành những vũng bùn lầy,
ô nhiễm nghiêm trọng do chất thải của chính chúng.
Kinh khủng hơn, chúng cậy thế đông và khỏe,
hùng hãn bao vầy hố nước suốt ngày đêm.
Các loài động vật bản địa nhỏ bé như chuột túi kangaroo,
đà điểu em mu hay chim sa mạc,
dù có khác đến trái họng cũng không tài nào chen vào được.
Nhiều loài động vật đã phải chấp nhận chết khát ngay bên cạnh hố nước
vì không dám đối đầu với những hung thần móng quốc này.
Ngay cả gia súc của các trang trại cũng bị đẩy vào tình cảnh tương tự,
khiến những người nông dân chỉ biết khóc.
Không chỉ cướp nước, loài lừa còn tàn phá thảm thực vật một cách triệt để.
Khác với bò hay cừu chỉ ăn cỏ mềm, lừa có cấu tạo răng cực khỏe.
Chúng sơi tái từ cỏ cứng, bụi gai cho đến vỏ cây khô
những thứ vốn là nguồn sống cuối cùng của sinh vật bản địa vào mùa hạn hán.
Việc hàng trăm ngàn con lừa liên tục di chuyển đường dài
đã vô tình làm nén chặt lớp đất bề mặt.
Đất bị nén cứng như bê tông khiến nước mưa không thể thấm xuống,
triệt tiêu khả năng mọc lại của thảm thực vật.
Khi mùa mưa tới, nước không thấm được sẽ tạo thành những trận lũ quét,
cuốn trôi lớp đất màu mỡ, gây ra tình trạng xói mòn nghiêm trọng
mà thiên nhiên phải mất hàng thập kỷ mới có thể chữa lành.
Đối với các chủ trang trại, loài lừa hoang trở thành một cơn ác mộng tài chính.
Để tìm kiếm thức ăn và nguồn nước ở phía bên kia,
các đàn lừa sẵn sàng húc đổ, phá nát các hàng rào bảo vệ kiên cố.
Chúng chen trúc, đạp phá các máng ăn, bể chứa nước bằng kim loại của nông dân,
đẩy các hộ gia đình ở vùng sâu vùng xa vào cảnh kiệt quệ về kinh tế.
Và một mối đe dọa khủng khiếp khác mà mắt thường không nhìn thấy, đó là dịch bệnh.
Lừa hoang mang trên mình hàng tá loại ký sinh chủng và mầm bệnh nguy hiểm.
Việc chúng tự do đi lại xuyên các bang, tiếp xúc với nguồn nước của gia súc nuôi
đã khiến việc kiểm soát dịch bệnh của chính phủ Úc hoàn toàn bất khả thi.
Đến cuối thế kỷ 20, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách
đã phải dùng mình kinh hãi khi nhìn vào bản đồ sinh thái,
những vùng wetlands, đất ngập nước suối sa mạc,
các quần xã thực vật quý hiếm đang biến mất một cách chóng mặt.
Loài lừa đã hoàn toàn thay đổi bộ mặt tự nhiên của nước Úc theo cách tồi tệ nhất.
Các chủ đất bất lực, chính phủ lo sốt vó,
các nhà bảo tồn liên tục phát đi tín hiệu cầu cứu,
cả nước Úc nhận ra họ đang phải đối đầu với một đội quân xâm lược bất trị.
Đứng trước một đội quân xâm lược lên tới hàng trăm ngàn con,
nước Úc rơi vào trạng thái báo động.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để quét sạch một loài vật siêu thông minh,
siêu lì lợm, đang lẩn trốn trên một diện tích sa mạc rộng gấp 20 lần Việt Nam.
Ban đầu, các chủ trang trại đã thử mọi cách truyền thống đặt bẫy,
rình bắn ở các hố nước.
Nhưng lừa không hề ngốc.
Chúng có trí khôn và sự cảnh giác đáng kinh ngạc.
Chỉ cần nghe thấy một tiếng súng nổ ở vùng này,
cả đàn sẽ ngay lập tức kéo nhau di cư sang vùng khác.
Đến giữa thế kỷ 20,
chính phủ Úc nhận ra các biện pháp thô sơ hoàn toàn vô tác dụng.
Họ buộc phải nâng tầm cuộc chiến bằng một thứ đắt đỏ hơn,
không kích bằng trực thăng.
Những chiếc trực thăng gầm rú bay qua các vùng sa mạc hẻo lánh.
Các tay súng bắn tỉa ngồi bên cửa hầm xả đạn,
liên tục vào các đàn lừa từ trên cao.
Cách này tuy hiệu quả nhưng chi phí vô cùng đắt đỏ,
tiền xăng dầu, tiền thuê phi công, tiền đạn dược.
Chưa kể, sa mạc quá rộng,
trực thăng vừa bay đi thì lừa ở chỗ khác lại mò ra.
Số lượng lừa dường như là vô tận.
Chính trong lúc bế tắc,
các nhà khoa học Úc đã phát minh ra một chiến thuật săn lùng có 102.
Một phương pháp được đánh giá là đỉnh cao về mặt sinh học,
nhưng lại là sự phản bội tan nhẫn nhất trong lịch sử thế giới động vật.
Chiến dịch Lừa Judas
Cái tên Judas được lấy từ nhân vật phản bội nổi tiếng trong kinh thánh.
Ý tưởng của chiến dịch này cực kỳ đơn giản,
nhưng lại tinh vi đến mức đáng sợ.
Đầu tiên, người ta sẽ dùng trực thăng bủa vây
và bắt sống duy nhất một con lừa hoang.
Thay vì hạ gục nó,
họ sẽ đeo vào cổ nó một chiếc vòng định vị GPS sử dụng sóng vô tuyến cực mạnh.
Sau đó, họ thả con lừa này trở lại sa mạc.
Bây giờ, hãy đặt mình vào vị trí của con lừa đó.
Sau khi thoát nạn, nó hoảng sợ, cô độc và thèm khát đồng bọn.
Theo bản năng sinh tồn và tính xã hội cực cao của loài lừa,
nó sẽ điên cuồng đi tìm kiếm một bầy lừa hoang khác để gia nhập.
Nó không hề biết rằng,
chiếc vòng cổ của mình đang liên tục phát đi tín hiệu vị trí về trung tâm điều khiển,
khi con lừa gián điệp đã gia nhập cùng đồng bọn.
Niềm vui của nó chưa kéo dài được bao lâu,
thì từ đằng xa, tiếng cánh quạt trực thăng lại gầm rú xé toạc bầu trời.
Các tay súng xuất hiện.
Họ xả súng hạ gục toàn bộ đàn lừa hoang,
hàng chục, hàng trăm con ngã xuống trong nháy mắt.
Nhưng có một quy tắc sắt đá,
họ tuyệt đối không được bắn con lừa đeo vòng cổ Judas.
Giữa bãi chiến trường hoang tàn,
con lừa Judas đứng chơ trọi một mình,
bàng hoàng và ngơ ngác,
không hiểu tại sao đồng bọn mới của mình lại biến mất.
Bản năng lại một lần nữa trỗi dậy,
sự cô độc thúc ép nó tiếp tục bước đi,
tiếp tục băng qua hàng trăm dặm sa mạc để tìm một bầy lừa khác.
Và rồi trực thăng lại đến,
một cuộc thảm sát nữa lại diễn ra.
Cứ như thế,
một con lừa Judas có thể dẫn đường cho con người tiêu diệt hàng ngàn đồng loại của nó.
Phương pháp này hiệu quả đến mức kinh ngạc,
được áp dụng rầm rộ tại vùng lãnh thổ phía Bắc
vào những năm 1980 và vùng Kimberley sau đó.
Nó thành công tới nỗi nhiều quốc gia khác
đã phải xách đèn sang Úc để học tập,
áp dụng để diệt trừ dê hoang và lợn rừng.
Nhờ có chiến dịch lừa Judas,
số lượng lừa hoang ở Úc đã giảm xuống mức thấp kỷ lục.
Thiên nhiên bắt đầu có dấu hiệu hồi sinh,
các hố nước trong lành trở lại,
thảm thực vật mọc lên.
Nhưng chiến thắng này phải trả một cái giá không hề rẻ,
đầu tiên là tiền bạc.
Để duy trì hệ thống GPS, trực thăng, phi công
và các đội săn lùng trên mặt đất,
chính phủ và các chủ đất phải đổ vào đó hàng triệu đô la mỗi năm.
Chỉ cần nguồn ngân sách này bị cắt giảm một chút,
hoặc con người lơ là, loài lừa với sức sống mãnh liệt
sẽ lập tức tái đàn và bùng nổ số lượng trở lại.
Và cái giá thứ hai chính là đạo đức.
Khi chiến dịch này được công bố rộng rãi,
các tổ chức quyền động vật trên thế giới đã phản ứng vô cùng dữ dội.
Họ cho rằng việc biến một con vật thành kẻ phản bội đồng loại,
bắt nó chứng kiến đồng bọn mình bị thảm sát hết lần này đến lần khác
là một sự tra tấn tinh thần quá tàn nhẫn và vô nhân đạo.
Ngược lại, phe ủng hộ thì lập luận.
Nếu không làm vậy, thiên nhiên nước Úc và các loài động vật bản địa sẽ tuyệt chủng.
Cái giá của việc để yên cho loài lừa hoành hành
còn khủng khiếp hơn gấp nhiều lần.
Bước sang thế kỷ 21, cuộc chiến giữa con người và loài lừa tại Úc
đã bước sang một chương hoàn toàn mới.
Sau nhiều thập kỷ bị săn lùng giáo giết bằng trực thăng
và chiến dịch lừa Judas,
những con lừa hoang còn sống sót không hề bị diệt vong.
Thay vào đó, chúng đã tiến hóa về mặt hành vi để thích nghi.
Chúng rút lui hoàn toàn khỏi những vùng đông bằng trống trải,
nơi trực thăng dễ dàng săn đuổi.
Giờ đây, các đàn lừa kéo nhau lên cố thủ
tại những vùng núi đá gồ ghê, hiểm trở như vùng Kimberley hay Pilbara.
Ở địa hình dốc đứng, nhiều hang hốc này trực thăng gần như bị vô hiệu hóa
còn việc tiếp cận bằng đường bộ thì lại là điều bất khả thi đối với con người.
Loài lừa như đang gửi một lời thách thức ngạo nghế tới chính phủ Úc.
Các người có công nghệ, còn chúng tôi có địa hình.
Thách thức lớn nhất của thời hiện đại chính là tiền bạc.
Bạn phải biết rằng, để duy trì một chiến dịch săn lùng quy mô lớn
cần một nguồn kinh phí khổng lồ và liên tục.
Nhưng ngân sách của chính phủ thì luôn có hạn, mà nước Úc đâu chỉ có mỗi lừa.
Họ còn phải đối đầu với hàng triệu con mèo hoang, lợn rừng, lạc đà, cóc mía.
Tất cả các loài xâm lấn này đều đang tranh giành miếng bánh ngân sách.
Hệ quả là gì?
Cứ mỗi khi số lượng lừa giảm xuống mức kiểm soát được,
chính phủ sẽ ngay lập tức cắt giảm ngân sách để chuyển sang diệt loài khác.
Nhưng loài lừa giống như một chiếc lò xo bị nén chặt.
Các đàn lừa hoang ở vùng núi tràn xuống sinh sản điên cuồng
và bùng nổ số lượng trở lại như chưa từng có cuộc chia ly.
Vòng luần cuộn này đã kéo dài hàng thập kỷ mà không có lối thoát.
Để phá vỡ thế bế tắc,
các nhà khoa học Úc đã phải tung vào cuộc những công nghệ tối tân nhất.
Họ dùng máy bay không người lái trang bị camera tầm nhiệt
để quét qua các vách đá ban đêm,
dùng vòng cổ GPS thế hệ mới và cả vệ tinh không gian
để định vị từng di biến động của các đàn lừa.
Cuộc chiến thầm lặng này tiêu tốn hàng triệu đô la mỗi năm.
Nước Úc hiện nay,
cứ mỗi khi một kế hoạch càn quét lừa hoang được vạch ra,
truyền thông và mạng xã hội lại bùng nổ một cuộc chiến tranh
luận nảy lửa không có hồi kết.
Một bên là các nhà khoa học,
các nhà sinh thái học và các chủ trang trại.
Đối với họ,
lừa hoang là những tên tội phạm,
hủy diệt thiên nhiên,
làm sói mòn đất,
giết chết động vật bản địa
và ngốn hàng triệu đô la của người dân.
Cần phải tiêu diệt triệt để không thường tiếc.
Nhưng ở phe ngược lại,
các tổ chức quyền động vật và rất nhiều người dân Úc
lại phản đối dữ dội.
Họ lập luận rằng việc bắn hạ lừa từ trên
không là cực kỳ dã man và vô nhân đạo.
Thậm chí, đối với nhiều người dân hoài cổ,
loài lừa không phải là loài gây hại,
mà chúng là những công thần,
là một phần di sản văn hóa,
biểu tượng cho thời kỳ tổ tiên họ đi khai hoang mở cõi.
Họ yêu tiếng kêu của loài lừa
và muốn bảo vệ chúng.
Sự rằng xé giữa một bên là trách nhiệm bảo vệ môi trường
và một bên là lòng chắc ẩn,
đạo đức,
đã khiến mỗi bước đi của chính phủ Úc thời hiện đại
trở nên vô cùng nhạy cảm và áp lực.
Vậy tương lai của cuộc chiến này sẽ đi về đâu?
Khi cuộc chiến tưởng chừng như chỉ có máu và súng đạn,
thì thiên nhiên lại mang đến cho chúng ta một cú bẻ lái vô cùng kinh ngạc.
Bạn có tin được không?
Kẻ bị coi là tội đồ hủy diệt nguồn nước,
đôi khi lại chính là vị cứu tinh mạng sống của sa mạc,
tại các vùng hẻo lánh của Kimberley.
Vào những tháng cao điểm của mùa khô hạn,
khi tất cả các hố nước trên mặt đất
đều đã bốc hơi cạn kiệt,
các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một hiện tượng kỳ lạ.
Loài lừa hoang với bản năng sinh tồn siêu Việt
đã dùng bộ móng quốc cực khỏe của mình
để đào sâu xuống lòng cát khô cằn.
Chúng đào sâu tới hơn một mét
cho đến khi chạm được vào các mạch nước ngầm ẩn dấu dưới lòng đất.
Những chiếc diếng tự chế này được các nhà khoa học gọi là hố lừa.
Sau khi con lừa uống nước xong và rời đi,
những hố nước này vô tình trở thành những ốc đảo cứu mạng giữa sa mạc.
Hàng ngàn sinh vật bản địa như chuột túi kangaroo,
đà điểu emu và các loài chim quý hiếm
đã sống sót qua mùa hạn hán kinh hoàng
nhờ vào chính những chiếc diếng do lừa đào.
Đó là một sự mỉa mai đầy thú vị của tự nhiên.
Ngay cả một loài sâm lấn bị ghét bỏ,
đôi khi cũng đóng một vai trò sinh thái không thể thay thế.
Không chỉ có giá trị sinh học bất ngờ,
loài lừa còn có một vị trí vững chắc
trong trái tim của người dân vùng nông thôn Úc.
Tại các thị trấn nhỏ, lừa đã đi vào văn hóa dân gian
và trở thành một thỏi nam châm thu hút du lịch.
Người ta tổ chức các lễ hội lừa,
các cuộc diễu hành cưỡi lừa
để nhắc nhở thế hệ trẻ về công lao của chúng trong lịch sử khai hoang.
Đối với những người già nước Úc,
tiếng kêu vang vọng của một chú lừa giữa đêm sa mạc
là cả một bầu trời ký ức hoài niệm về thời thanh xuân oanh liệt.
Di sản phức tạp này đã chứng minh một điều.
Quản lý loài lừa không đơn thuần là một bài toán khoa học khô khan,
mà nó là nghệ thuật cân bằng giữa việc bảo vệ thiên nhiên
và tôn trọng lịch sử.
Chính vì vậy, hướng tới tương lai,
nước Úc đang thử nghiệm một loại vũ khí mới,
một giải pháp nhân đạo để chấm dứt những cuộc thảm sát đẫm máu.
Kiểm soát sinh sản bằng công nghệ sinh học.
Thay vì ngồi trên trực thăng xả đạn,
các nhà khoa học sẽ dùng súng bắn áp lực từ xa
để tiêm thuốc tránh thai cho những con lừa cái ngoài tự nhiên.
Công nghệ này giúp loài lừa không thể sinh sản thêm
nhưng vẫn được sống trọn vẹn cuộc đời của chúng,
giữ nguyên những hố lừa cứu mạng cho sa mạc.
Đây có thể là một trường mới.
Một cái kết có hậu và nhân văn hơn cho cuộc chiến kéo dài hai thế kỷ.
Nhìn lại toàn bộ hành trình, câu chuyện về loài lừa tại Úc
chính là một bài học xương máu cho toàn nhân loại.
Khi con người tự cho mình quyền can thiệp thô bạo vào tự nhiên,
đưa một loài vật từ nơi khác đến chỉ để phục vụ lợi ích trước mắt
rồi tan nhẫn vứt bỏ chúng,
thì cái giá phải trả ở tương lai
sẽ là hàng thế kỷ sửa sai trong bất lực và tranh cãi.
Bản thân con lừa không có lỗi,
lỗi nằm ở quyết định của con người.
Đến cuối video này, tôi muốn dành câu hỏi cho chính các bạn.
Nếu các bạn là những nhà quan lý nước Úc,
bạn sẽ chọn cách bắn hạ quyết liệt để cứu hệ sinh thái
hay chọn phương pháp nhân đạo chấp nhận sống chung với loài lừa?
Hãy để lại ý kiến của bạn ở phần bình luận bên dưới nhé.
Tôi rất muốn biết góc nhìn của các bạn.
Nếu thấy câu chuyện này hay và mang lại nhiều giá trị,
các bạn đừng quên nhấn like và đăng ký kênh Góc Vô Hạn
để cùng tôi khám phá những bí ẩn kỳ thú tiếp.
Cảm ơn các bạn rất nhiều vì đã theo dõi đến tận những giây cuối cùng.
Xin chào và hẹn gặp lại trong những video tiếp theo.
