Không Đọc Thủy Hử Thì Không Thể Biết Cái Kỳ Tuyệt Của Thiên Hạ

Đình Sự
538 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIBài phân tích đi sâu vào những nguyên nhân dẫn đến sự hỗn loạn trong tác phẩm Thủy Hử, từ khiếm khuyết hệ thống của nhà Tống, sự kiêu ngạo của quyền lực cho đến sự tha hóa của cá nhân. Qua hình tượng nhân vật Cao Cầu và sự kiện tại Long Hổ Sơn, tác giả làm rõ quy luật suy vong của một triều đại khi thực tài bị thay thế bởi những kẻ nịnh hót và sự tự mãn trong thời kỳ thịnh trị.
Kim Thánh Thán, nhà phê bình văn học lỗi lạc bậc nhất đời Minh Mạc Thanh Sơ,
người xếp Thủy Hữu ngang hàng với Nam Hoa Kinh của Trang Tử,
Ly Tao của Khuất Nguyên, sử ký của Tư Mã Thiên,
từng buông một câu để đời rằng không đọc Thủy Hữu thì không thể biết được cách kỳ tuyệt của thiên hạn.
Một câu nói ngắn gọn nhưng đủ sức khiến người ta phải tự hỏi,
rốt cuộc trong pho tiểu thuyết được viết bằng máu và nước mắt của 108 giang hồ hảo hãn ấy,
có ẩn dấu điều gì mà một bậc kỳ tài như Kim Thánh Thán phải thán phục đến vậy.
Hôm nay, cổ Kim Thư Quán sẽ cùng quý vị ngược dòng thời gian,
trở về với bổi đầu của bộ kỳ thư này,
không phải để kể lại một câu chuyện đánh nhau, cướp của, giết người như nhiều người vẫn lầm tưởng,
mà để lần theo hai mạch nguồn song song.
Một mạch thuộc về cõi thần quỷ hoang đường,
một mạch thuộc về cõi người trần mắt thịt đầy dẫy toan tính.
Hai mạch nguồn ấy tưởng chừng chẳng liên quan gì đến nhau,
nhưng lại cùng hội tụ về một điểm, đó là câu hỏi dây dứt suốt 800 năm qua,
rằng khi nào thì một xã hội thái bình bắt đầu gieo hạt giống cho chính sự diệt vong của nó.
Muốn hiểu vì sao 108 hảo hán buộc phải giạt về bến nước Lương Sơn,
trước tiên phải hiểu cái nền móng đã sinh ra cả triều đại nhà Tống.
Một triều đại mang trong mình một thứ khiếm khuyết bẩm sinh,
khiếm khuyết ấy không cách nào chữa được, bởi nó nằm ngay trong cách triều đại này ra đời.
Cuối thời đường, thiên hạ chia năm sẽ bày, sự gọi là thời ngũ đại thập quốc.
Năm triều đại ngắn ngủi thay nhau nắm quyền ở phương Bắc,
Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu,
người đời sao gói gọn bằng năm chữ dễ nhớ,
Lương Đường Tấn Hán Chu gắn liền với năm người sáng lập.
Người cuối cùng trong số đó là Quách Uy, hoàng đế khai quốc của Hậu Chu.
Quách Uy và người kế vị là Xài Vinh, hai vị vua này,
không chỉ trong thời ngũ đại mà đặt trong suốt triều dài lịch sử Trung Hoa,
cũng được xếp vào hàng những minh quân hiếm có.
Tiếc thay, Xài Vinh đoàn mệnh, mất năm 37 tuổi,
để lại ngai vàng cho đứa con mới lên bảy.
Ấu Chúa nối ngôi, Thái Hậu buông rèm nhiếp chính,
quân quốc đại sự giao phó cho đám lão thần của Xài Vinh để lại.
Trong đó có một viên đại tướng được trọng dụng bậc nhất, tên là Triệu Khuông Dận.
Người này tay cầm một cây côn bản lông, đánh khắp thiên hạ,
uy vọng ngút trời trong quân đội, rốt cuộc binh biến Trần Kiều nổ ra,
hoàng bào khoác lên người, nhà Tống ra đời.
Đó chính là Tống Thái Tổ.
Ai cũng biết chuyện Triệu Khuông Dận hay là nâng chén rượu giải binh quyền của đám công thần.
Đại Khái ông nói với đám huynh đệ từng vào sinh ra tử cùng mình,
rằng thôi, các người cứ giao hết binh quyền về quê an hưởng phú quý,
còn việc nước để chấm lo liệu.
Có người bảo đây là hành động qua cầu rút ván, được chim bẻ ná,
nhưng thử đặt mình vào vị trí Triệu Khuông Dận mà xét.
Trước ông, đã có tiền lệ,
chính Quách Huy cũng từng khoác hoàng bào cướp ngôi Hậu Hán mà lập ra Hậu Chu.
Chưa đầy 10 năm sau, Triệu Khuông Dận lập lại đúng kịch bản ấy.
Hai tiền lệ liên tiếp trong một khoảng thời gian ngắn ngồi như vậy.
Ai dám chắc rồi đây?
Một viên đại tướng nào đó dưới chướng mình, công cao hơn chủ,
uy vọng ngất trời, cũng chẳng bị ba quân khoác hoàng bào mà thay ngôi đổi vị.
Triệu Khuông Dận hiểu rất rõ cái đạo lý thế cuộc mạnh hơn người.
Đến bước đường ấy, không tiếm quyền cũng phải tiếm quyền.
Giữa cái thời loạn lạc liên miên, nếu ông giảng đạo đức nhân nghĩa xuông,
thì ngay chính đám huynh đệ theo mình cũng sẽ quay lưng,
bởi họ theo ông không phải để làm bậc thánh nhân mà để đổi đời.
Cũng vì lẽ ấy, suốt triều tống, một chủ trương xuyên suốt được đặt ra,
trọng văn khinh võ, phòng ngừa đám võ tướng làm phản.
Đây chính là thứ khiếm khuyết bẩm sinh mà nhà Tống mang theo suốt vòng đời của mình,
không thể nào sửa được.
Nắm được cái gốc dễ này, về sau đọc Thủy Hữu,
nhìn thấy bao nhiêu cảnh võ quan bị văn thần chèn ép,
bị gian thần hãm hạ, người ta mới hiểu,
đó không phải là chuyện ngẫu nhiên của riêng vài cá nhân,
mà là hệ quả tất yếu của cả một thể chế,
một căn bệnh đã ăn sâu vào cốt túy ngay từ ngày lập quốc.
Có điều, để phòng người ngoài kỹ đến đâu, Triệu Khuông Dận cũng không ngờ.
Người cướp cơ nghiệp của dòng họ mình lại chính là em ruột, Triệu Quang Nghĩa.
Sau Thái Tổ là Thái Tông, sau Thái Tông là Trân Tông,
rồi đến vị hoàng đế làm nên câu chuyện chúng ta sắp kể,
Tống Nhân Tông, tên thật là Triệu Trinh.
Quách uy, xài vinh vừa nãy được xem là những vị vua bậc nhì bậc ba trong lịch sử Trung Hoa.
Vậy ai mới xứng đáng đứng đầu bảng?
Không ai khác, chính là Tống Nhân Tông.
Ông cũng là vị hoàng đế tại vị lâu nhất Triệu Tống.
Miếu hiệu Nhân Tông, chỉ hai chữ ấy thôi, đã nói lên tất cả.
Một vị vua lấy chữ nhân làm cốt lõi trị quốc.
Dưới thời ông, kinh tế, văn hóa Trung Hoa phát triển vượt bậc, xã hội cởi mở bao dung,
chính môi trường phồn thịnh ấy mới sản sinh ra một thế hệ anh tài rực rỡ hiếm có.
Trong tám vị đại văn hào lừng danh của cả hai triều đường Tống gột lại,
thì đã có sáu vị xuất thân từ đúng thời Nhân Tông.
Đó là chưa kể một dàn danh thần khác như Phú Bật, Hàn Kỳ, Văn Ngạn Bác,
Tư Mã Quang, Phạm Trọng Yêm, nhiều không đếm xuể.
Văn có bao trừng thiết diện vô tư, võ có địch thanh trận tiền dũng mãnh.
Một triều đại mà văn thần võ tướng đều sao sáng rực trời như vậy.
Cả nghìn năm phong kiến Trung Hoa, tìm đâu ra lần thứ hai?
Đến đây, xin phép được dừng lại một chút để hỏi thẳng quý vị đang theo dõi câu chuyện này.
Nếu được lựa chọn sống trong một thời đại, quý vị sẽ chọn một thời loạn lạc nhưng đầy cơ hội đổi đời,
hay một thời thái bình thịnh trị nhưng phẳng lặng đến mức tẻ nhạt?
Hãy để lại câu trả lời của mình dưới phần bình luận bởi câu chuyện chúng ta sắp kể sau đây.
Sẽ cho quý vị thấy, ngay cả thời thịnh trị an lành nhất,
cũng có thể ấp ủ trong lòng nó một quả bom hẹn giờ, chỉ chờ ngày phát nổ.
Dân gian còn lưu truyền bao nhiêu giai thoại về nhân tông,
nổi tiếng nhất phải kể đến chuyện Ly Miêu Hoán Thái Tử,
sau này còn được dựng thành vở kinh kịch đã Long Bảo lưu danh sân khấu đến tận ngày nay.
Nhưng có lẽ, minh chứng rõ ràng nhất cho đức độ của vị vua này lại nằm ở chính cái ngày ông Băng Hà.
Sử sách nhà Tống ghi lại tin nhân tông mất truyền ra,
kinh thành khóc than vang trời suốt mấy ngày liền không dứt,
người ta đóng cửa hàng quán, bỏ cả việc mua bán, đứng đầy đường đầy ngõ mà khóc.
Đến cả những kẻ ăn xin, những đứa trẻ con,
cũng gom góp mua giấy tiền đem đến trước cổng Hoàng Cung mà đốt, mà than khóc.
Sứ giả nước Liêu, khi đó vốn là nước địch của Đại Tống,
mang tin dữ về đến kinh đô Liêu quốc, người trong nước không phân biệt xa gần.
Hãy nghe tin đều rơi lệ.
Vua Liêu là Liêu Đạo Tông Gia Luật Hồng cơ nghe tin cũng không cầm được nước mắt,
thốt lên một câu rằng 42 năm qua, ta chẳng còn biết chiến tranh là gì.
Một vị vua khiến kẻ địch cũng phải khóc thương khi Băng Hà,
một thời đại rực rỡ đến mức 800 năm sau người ta vẫn còn nhắc.
Vậy mà, chính từ trong lòng cái thời thịnh trị tưởng như hoàn hảo ấy,
lại nảy sinh ra thứ mầm họa dẫn đến cả một cuộc đại loạn về sau.
Đây chính là nghịch lý đầu tiên mà chúng ta cần khắc cốt ghi tâm,
rằng thịnh thế không phải là tấm khiên bảo vệ tuyệt đối.
Đôi khi, chính sự an nhàn thái quá lại là mảnh đất màu mỡ nhất cho thói kiêu ngạo,
cho sự buông lỏng cảnh giác, cho những quyết định bộp trộp của kẻ nắm quyền,
sinh sôi nảy nở, chờ ngay trở thành thạm họa.
Câu chuyện phải bắt đầu từ chính triều Nhân Tông, năm gia hữu thứ ba,
một trận ôn dịch bất ngờ bùng phát ở Kinh Thành.
Bách tính lầm than, người chết la liệt.
Nhân Tông lo lắng, bèn sai một vị quan thái úy tên Hồng Tín,
đi đến núi Long Hổ Sơn ở đất Giang Tây,
mời Trương Thiên Sư về Kinh làm phép trữ tả, cứu dân độ thế.
Nói đến đây, chắc hẳn nhiều người sẽ thắc mắc Trương Thiên Sư là ai?
Sao nghe cứ như một danh sưng quen thuộc, lập đi lập lại qua nhiều đời,
nhiều triều đại khác nhau trong sử sách.
Quý vị đoán không sai.
Trương Thiên Sư, kỳ thực không phải tên riêng của một cá nhân,
mà là một danh hiệu được truyền lại qua nhiều thế hệ của cùng một dòng họ.
Chuyện phải lần về tận cuối thời Đông Hán.
Khi đó, thiên hạ đại loạn trong dân gian nổi lên hai giáo phái lớn của đạo giáo sơ khai.
Một phái gọi là Thái Bình Đạo, do Trương Giác sáng lập.
Nhắc đến Trương Giác, những ai từng nghe qua tam quốc diễn nghĩa hẳn không xa lạ gì.
Chính ông ta là người phất cỡ khởi nghĩa Khăn Vàng, với khẩu hiệu lừng danh
trời xanh đã chết, trời vàng sắp lập, năm giáp tí đến, thiên hạ đại cát.
Cuộc khởi nghĩa ấy về sau bị dập tắt, Thái Bình Đạo cũng lụi tàn theo.
Còn phái kia, gọi là ngũ đấu mễ giáo, tôn lão tử làm giáo chủ,
lấy đạo đức kinh làm kinh điển, lấy trường sinh bất lão, tu luyện thành tiên là mục tiêu tối thượng.
Người sáng lập phái này chính là Trương Đạo Lăng, vị thiên sư đời thứ nhất.
Từ đó về sau, danh hiệu thiên sư được chuyển nối theo huyết thống con cháu họ Trương,
đời này qua đời khác. Kể từ thời Đường Huyền Tông,
danh hiệu ấy còn được triều đình chính thức xác phong, công nhận tính đến nay đã chuyển được 60 bữa đời.
Cho nên, thiên sư không phải danh sưng ai muốn nhận cũng được,
mà phải qua kế thừa huyết thống mới có tư cách mang tên gọi ấy.
Trở lại chuyện Hồng Thái Úy lên đường đến Long Hổ Sơn.
Đến nơi, vị trụ trì tại Thượng Thanh Cung cho biết,
vị thiên sư đời này, đạo hiệu hư tĩnh thiên sư hiện không ở trong cung quán,
mà đang tự mình kết am cỏ trên đỉnh núi để tu luyện.
Muốn gặp, Thái Úy phải chai giới tắm gội sạch sẽ rồi tự mình lên núi cầu kiến,
không được cậy quyền cậy thế sai người đi thay.
Hồng Tín miễn cưỡng làm theo, một mình lặn lội leo núi.
Giữa đường, gặp một chú tiểu đồng cưỡi trên lưng châu, thổi xáo nghêu ngao mà đi xuống.
Hồng Tín kinh ngạc hỏi thăm.
Chú bé đáp tỉnh queo rằng thiên sư của bọn con nghe tin hoàng đế sai Thái Úy đến mời lên kinh làm phép trừ ôn dịch,
nên đã tự mình cưỡi hạc bay đi trước rồi.
Thái Úy không cần lên núi tìm nữa, cứ quay về là vừa.
Nói đoạn, đứa trẻ thổi xáo, thúc châu đi mất.
Hồng Tín đứng thẫn thở giữa sườn núi, nghĩ bụng.
Đã vậy thì thôi, ta quay về cho rồi, lên làm gì cho mệt.
Xuống núi, kể lại đầu đuôi cho vị trụ trì nghe.
Trụ trì nghe xong vỗ đuổi than tiếc rằng chú tiểu đồng cưỡi châu ấy chính là thiên sư hóa thân.
Thái Úy đã lỡ mất cơ duyên diện kiến bậc chân nhân rồi.
Có điều, trụ trì cũng chấn an.
Đã có lời của tổ sư truyền ra, át việc trên kinh thành đã yên ổn.
Thái Úy cứ an tâm mà về phục trị.
Câu chuyện tưởng chỉ dừng ở đó, một giai thoại nhỏ về sự gặp gỡ hụt giữa người phàm và bậc tiên ra.
Nhưng nếu ngẫm kỹ, đây chính là lần thử thách đầu tiên mà số phận đặt ra cho Hồng Tín,
và ông đã trượt ngay từ vòng gửi xe.
Một bậc chân nhân đạo hạnh cao thâm,
hóa thân thành đứa trẻ chăn châu để thử lòng thành của kẻ mang danh sứ giả triều đình.
Vậy mà Hồng Tín, với đầu óc đẩy dãy thứ tư duy quan liêu, nhìn thấy một đứa bé chăn châu quê mùa.
Thì chỉ có thể nhìn ra một đứa bé chăn châu quê mùa, tuyệt không mãi mãi nghĩ đến khả năng.
Bậc kỳ nhân dị sĩ đôi khi lại ẩn mình trong lốt kẻ thấp hèn nhất.
Đây có phải là căn bệnh của riêng Hồng Tín, hay là căn bệnh chung của không ít kẻ mang trong mình quyền lực?
Luôn nhìn đời bằng con mắt phân biệt sang hèn, để rồi bỏ lỡ biết bao chân giá trị nằm ngay trước mắt.
Nếu chỉ dừng ở đó, Hồng Tín cùng lắm chỉ đáng trách vì sự vô tâm, nhưng tai họa thực sự còn ở phía trước.
Sáng hôm sau, đợi việc bàn giao công văn xong xuôi,
vị trụ trì mời Thái Uý dạo chơi ngắm cảnh trước khi về kinh.
Long Hổ Sơn, cùng với Thanh Thành Sơn ở đất Tứ Xuyên, Võ Đang Sơn ở đất Hổ Bắc,
đều là những ngọn danh sơn bậc nhất của đạo giáo trên núi La Liệt cung quán Đạo Quang.
Hồng Tín vốn đã hoàn thành sứ mệnh, trong lòng cũng nhẹ nhõm,
nghĩ bụng hiếm khi có dịp lên đến Long Hổ Sơn, chi bằng dạo chơi cho thoả.
Ông đi khắp trước sau trái phải, hết cung nọ đến quán kia,
mãi rồi lạc bước đến một tòa điện nằm khuất nẻo phía sau.
Tòa điện ấy, hai cánh cửa đóng kín, xích sắt to bằng bắp tay khóa chặt,
bên ngoài dán đến mười mấy lớp bùa niêm phong,
trên mỗi lớp bùa lại đóng dấu triện đỏ trồng trồng lớp lớp.
Phía trên mái hiên, treo một tấm biển sơn son để bốn chữ vàng lớn phục ma chi điện.
Hồng Tín không hiểu, gạn hỏi cho ra lẽ.
Trụ trì vội vàng chạy đến giải thích, đây là nơi tổ sư đời trước dùng để trấn áp yêu ma.
Từ đó về sau, mỗi đời thiên sư kế nhiệm đều tự tay dán thêm một lớp bùa niêm phong lên cửa,
nghiêm cấm con cháu đời sau không được mở ra.
Nếu để yêu khi thoát ra ngoài, át sinh đại họa.
Đến nay đã chuyển qua tám chín đời tổ sư, xích sắt khóa cửa đã bị đúc chỉ bịt kín,
tuyệt đối không thể mở.
Hồng Tín nghe xong, à một tiếng ra là vậy, nhưng lòng ông lại nảy sinh một ý nghĩ khác.
Ta đường đường là đương chiều Thái Uý, sống đến chừng này tuổi đầu,
còn chưa từng thấy yêu ma quỷ quái hình thù ra sao.
Nay nhân tiện ở đây, sao không mở ra xem thử cho biết.
Ông chuyển lệnh, mở cửa.
Trụ trì hoảng hốt quỷ xuống van xin rằng tổ sư đã có di huấn, tòa điện này tuyệt đối không được mở.
Xin Thái Uý nghĩ lại.
Nhưng Hồng Tín đã nổi cơn tự ái của kẻ có quyền.
Ông chừng mắt quát, các người không mở phải không?
Được, để ta về chiều tâu lại.
Các người tự ý lập điện thở yêu, gây họa cho quân dân bách tĩnh,
để chiều đình phát lạc từng đứa một đi đẩy cho biết mặt xem còn dám cãi lời ta nữa hay không.
Vị trụ trì sợ hãi, đành phải gọi thợ đến, xé bùa, đập khóa.
Cửa vừa mở, bên trong tối tâm lạnh lẽo, đã mấy trăm năm không thấy ánh mặt trời,
thỏ tay ra không nhìn thấy năm ngón.
Quả thực là trốn nhân tích bất đáo, yêu tình vãng lai.
Đợi đến khi đạo chúng cầm đốt bước vào soi rõ, mới thấy giữa điện trống trơn,
chỉ dựng đọc một tấm bia đá cao chừng năm sáu thước, phía dưới đè một con rùa đá.
Mặt trước tấm bia khắc đầy chữ như thiên thư, không ai đọc hiểu nổi.
Mặt sau khắc bốn chữ lớn, ngộ hồng như khai, nghĩa là gặp họ hồng thì mở.
Hồng tín thấy vậy, cười lớn đắc ý.
Các người xem, ta họ hồng, đây chính là duyên phận trời định từ mấy trăm năm trước,
dành sẵn cho ta đến đây mà mở.
Các người đừng có ngăn cả nữa.
Trụ trì vẫn cố hết sức can ngăn, nhưng hồng tín đã không còn nghe lọt tai bất cứ lời nào.
Sai người sô đổ bia đá, bảy con rùa đá lên, đào sâu xuống dưới ba thước,
lộ ra một phiến đá xanh lớn cỡ một trượng vuông.
Trụ trì lần cuối cùng quỳ xuống văn xin, đừng đào nữa.
Nhưng đến nước này, nói gì cũng vô ích.
Hồng tín ra lệnh, bảy tấm đá xanh lên.
Vừa bảy tấm đá lên, dưới đó lộ ra một cái huyệt sâu hun hút không thấy đáy.
Mọi người còn đang ngơ ngác, bỗng nghe từ dưới huyệt vọng lên một tiếng động kinh thiên động điện,
tựa hồ trời long đất lở.
Một luồng khí đen từ đáy huyệt vọt lên, húc sập nửa tòa điện.
Luồng khí đen ấy xông thẳng lên không chung, rồi tan ra thành một trăm lẻ tám đảo kim quang.
Tòa đi khắp bốn phương tám hướng mà biến mất.
Cả đám người có mặt sợ đến mức kêu cha gọi mẹ, chạy tan loạn ra khỏi điện.
Hồng tín lúc này cũng sợ đến mất hồn mất vía.
Ông đứng thẫn thở giữa sân, tự hỏi, lẽ nào ta vừa thả yêu ma ra thật rồi sao?
Vị trụ trề đứng bên cạnh, giọng run run, nói cho Thái Uý hay sự thật.
Tòa điện này vốn là do lão tổ sư động huyền chân nhân dùng phù chú chấn giữ.
Bên trong nhốt 36 ngôi sao thiên cang, 72 ngôi sao địa sát, cộng lại đúng 108 vị ma quân.
Cho nên mới lập bia đá iểm chấn từ đời này qua đời khác.
Ngày Thái Uý đã thả họ ra, át sẽ gây đại họa, sinh linh đổ thán, biết làm sao đây?
Sự đá rồi, hối cũng không kịp nữa.
Hồng tín thu dọn hành lý, dẫn theo tùy tùng vội vã hồi kinh phục trị.
Về đến chiều, ông chỉ tâu lại việc mời được thiên sư đi trước làm phép,
tuyệt nhiên không dám hé răng nửa lời về chuyện đã thả yêu ma ra khỏi phục ma điện.
Nhân tông hoàng đế đến tận lúc băng hà cũng chẳng hề hay biết,
chính dưới chiều đại thịnh trị bậc nhất của mình đã có 108 ngôi hung tinh,
âm thầm tản mát khắp bốn phương thiên hạ, chờ ngày hội tụ.
Đến đây, có lẽ quý vị đã bắt đầu hình dung ra bố cục của cả bộ Thủy Hử.
Con số 108 tuyệt không phải ngẫu nhiên mà tác giả Thi Nại Am tùy tiện đặt ra.
Trong đạo giáo, tròm sao bắt đầu được cho là cai quản 36,
vị sao thiên cang cùng 72 vị sao địa sát, mỗi vị sao ứng với một vị thần.
Con số 108 còn là bội số của 9,
mà 9 trong quan niệm phương Đông tượng trưng cho sự tột cùng, trí cao vô thượng.
Người xưa còn tính 1 năm có 12 tháng, 20 bư tiết khí, 72 hậu,
cộng cả 3 con số này lại cũng ra đúng 108,
tượng trưng cho vòng tuần hoàn của trời đất xoay vần không dứt.
Ngay trong nhà Phật, chuông chùa buổi sớm buổi tối cũng thành đúng 108 tiếng mới thôi,
ứng với 108 món phiền não của kiếp người.
Một con số mang trong mình cả tầng tầng lớp, lớp ý nghĩa chiết học phương Đông như vậy.
Tự nó đã nói lên rằng, sự xuất hiện của 108 anh hùng Lương Sơn
không đơn thuần là chuyện giặc có nổi loạn,
mà mang giáng dấp của một cuộc vận hành tất yếu theo lẽ trời.
Nhưng liệu có thật sự là lẽ trời,
hay đây chỉ là cách tác giả Thi Nại Am mượn màu sắc thần quái để nói một chuyện giấc người?
Bởi xét cho cùng, nếu không có một Hồng Tín kiêu ngạo,
cậy quyền cậy thế, không tôn trọng giới hạn mà tiền nhân đã đặt ra,
thì 108 ngôi hung tinh kia có lẽ vẫn còn yên vị dưới đáy huyệt sâu tại Long Hổ Sơn.
Tai họa, suy cho cùng, không đến từ thứ được niêm phong kỹ càng,
mà đến từ chính bàn tay của kẻ không chịu tôn trọng những niêm phong ấy.
Ở đây, cổ Kim Thư Quán muốn gửi đến quý vị một điều đáng suy ngẫm.
Trong đời sống hôm nay, mỗi chúng ta ít nhiều đều từng đóng vai một Hồng Tín,
đứng trước một cánh cửa được người đi trước cẩn thận dán bùa niêm phong.
Có thể là một quy tắc gia đình, một giới hạn đạo đức nghề nghiệp,
một lời cảnh báo của bậc trưởng bối từng trải.
Không phải giới hạn nào cũng đáng bị phá bỏ nhân danh, sự tò mò hay quyền lực nhất thời trong tay.
Có những cánh cửa, một khi đã mở ra, thì dù có hối hận đến đâu,
thứ thoát ra từ bên trong, cũng không thể nào nhốt trở lại được nữa.
Câu chuyện đến đây mới chỉ là khởi đầu của mạch nguồn thần thoại.
Nhưng Thủy Hữ sợ dĩ trở thành kỳ thư không chỉ vì nó có yếu tố thần quái ly kỷ,
mà vì nó song song dựng lên một mạch nguồn khác.
Mạch nguồn của cõi người, lý giải vì sao 108 con người bằng xương bằng thịt ấy,
rốt cuộc lại phải giạt hết về bến nước Lương Sơn.
Và mạch nguồn ấy bắt đầu không phải từ một anh hùng hảo hán nào,
mà từ một kẻ mà người đời sao nguyền rùa nhiều nhất trong toàn bộ tác phẩm.
Thời gian thấm thoát trôi, nhân tông băng hà, kế đến anh tông, rồi thần tông,
rồi đến đúng triều đại xảy ra câu chuyện của chúng ta, triều tống tiết tông.
Tại kinh thành Đông Kinh Biện Lương, có một kẻ xuất thân từ gia đình xa xút,
tổ tiền vốn cũng có danh vọng, nhưng đến đời hắn thì đã lụi bạc.
Người ta gọi hạng người này là con nhà phá lạc hộ.
Kẻ ấy họ cao, vì là con thứ hai trong nhà, nên người ta gọi là cao nhị.
Cao nhị làm nghề gì?
Nghề băng nhàn.
Băng nhàn, nghe cái tên có vẻ xa lạ với người thời nay,
nhưng kỳ thực, cái hạng người ấy, thời nào cũng có, ở đâu cũng có.
Đây không phải là kẻ giúp việc, giúp đỡ chuyện thường ngày,
mà là kẻ chuyên bày trò tiêu khiển cho những cậu ấm con nhà giàu có thừa tiền thiếu bản lĩnh.
Nguyên tắc miêu tả cao nhị, từ nhỏ không chịu học nghề dựng nghiệp đàng hoàng,
chỉ giỏi đàn hát múa nhảy, múa thương đánh gậy, đấu vật đùa giỡn,
còn thơ phú văn chương thì học lỏng qua loa cho có vẻ.
Nghe qua tưởng là kẻ chẳng có gì trong tay, nhưng xin quý vị đừng vội xem thường cái nghề băng nhàn này.
Không phải cứ muốn làm băng nhàn là làm được,
phải là kẻ lắm tai vật, giỏi ứng biến, hiểu thấu tâm lý người đối diện,
mới có đất sống trong cái nghề ấy.
Ngay cả thời nay, ở những thành phố lớn phồn hoa,
quanh những cậu ấm con nhà giàu ba đời,
vẫn không thiếu những cao nhị phiên bản hiện đại,
không có bản lĩnh làm ăn chân chính,
nhưng thừa tinh khôn để bám vào kẻ có tiền mà sống phong lưu,
để rồi chính những kẻ tưởng chừng vô hại ấy,
một ngày nào đó lại là người nắm giữ vận mệnh của cả một tập thể.
Trong đủ loại ngón nghề của cao nhị, có một môn hắn xuất sắc hơn cả,
đó là môn súp cúc, tức đá cầu.
Thời Tống, người ta không gọi là bóng đá, mà gọi là súp cúc.
Đây là môn thể thao truyền thống lâu đời của Trung Hoa,
manh nha từ tận thời chiến quốc,
ban đầu dùng để rèn luyện quân sĩ, tập cho binh lính sự nhanh nhẹn khéo léo.
Đến thời Tây Hán, súp cúc đã phát triển thành môn thi đấu có luật lệ hẳn hoi.
Sang đến thời Đường, do môn cầu mã cầu thịnh hành hơn trong việc luyện binh,
súp cúc dần chuyển hướng sang tính giải trí.
Quả cầu cũng được cải tiến, khâu bằng tám mảnh ra,
bên trong nhồi bong bóng động vật thổi căng hơi.
Chia hai đội, hai không thành, ai ghi nhiều bàn hơn thì thắng,
đã có giáng dấp rất gần với môn bóng đá hiện đại.
Về sau, lối đá đối kháng hai đội dần bớt phổ biến,
thay vào đó là lối đá biểu diễn kỹ thuật cá nhân.
Người chơi đứng thành vòng tròn,
dùng mọi bộ phận cơ thể trừ tay để khống chế quả cầu không cho rơi xuống đất,
còn hình thành hẳn những phường hội chuyên nghiệp gọi là tề vân xã hay viên xã.
Đời tống, môn này thịnh hành đến mức trên từ vua chúa quý tộc
dưới đến thư dân bách tính, ai ai cũng say mê.
Ngay cả người Mông Cổ, sau khi lập ra nhà Nguyên, cũng bị cuốn theo trào lêu này.
Đáng buồn là, đến thời nhà Minh,
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Trương cho rằng đây là trò chơi vật làm nhụt trí,
hạ lệnh cấm quan lại binh sĩ chơi xúc cúc, kẻ nào phạm sẽ bị trừng phạt nặng nề.
Sang đến nhà Thanh, người mãn lại lấy việc cưỡi ngựa bắn cung làm gốc,
cũng cấm tiệt môn này để tránh quý tộc quan lại vì ham chơi mà sao lãng chính sự.
Một môn thể thao từng thịnh hành mấy nghìn năm,
rốt cuộc lụi tàn theo cách như vậy.
Mãi đến năm 2004, Liên đoàn bóng đá thế giới mới chính thức công nhận xúc cúc
là hình thức cổ xưa nhất của môn bóng đá hiện đại.
Kể cũng là, một môn thể thao khởi nguồn từ đất Trung Hoa
phải đi vòng qua tận trời Âu mấy nghìn năm sau
mới quay lại được công nhận đúng vị trí của nó trong lịch sử thể thao nhân loại.
Có lẽ đây cũng là một bài học khác, rằng những gì thuộc về gốc rễ văn hóa,
nếu tự tay mình vứt bỏ thì đến khi người khác nhặt lấy rồi tỏa sáng,
mình chỉ còn biết đứng nhìn mà tiếc nuối.
Nhờ đá cầu giỏi, cao nhị được một vị công tử họ Vương để mắt,
hai người ngày ngày ra vào tửu lâu kỹ viện, ăn chơi phóng túng.
Vị công tử này con nhà giàu có, cha là Vương Viên Ngoại,
trong nhà có xưởng đúc rèn sắt thép, giàu đến mức nứt đố đổ vách,
dân gian gọi đùa là sinh thiết Vương Viên Ngoại.
Chơi bời mãi rồi cũng đến ngày lộ chuyện,
Vương Viên Ngoại phát hiện con trai mình bị cao nhị dẫn dụ ăn chơi xa đoạn,
liền viết đơn kiện thẳng lên phủ khai phong, phủ khai phong nhận đơn cũng khó xử.
Xét về luật, nghề băng nhàn không phạm pháp, con trai người ta tự nguyện tiêu tiền,
cao nhị không hề trộm cấp cưỡng đoạt của ai.
Nhưng chuyện Vương Viên Ngoại nhờ và cũng không thể xem nhẹ,
bởi thời ấy mối sắt đều do triều đình chuyên doanh,
nhà nào có xưởng rèn sắt át không phải hạng tầm thường.
Cân nhắc đủ đường, vị quan phủ khai phong nghĩ ra một cách,
sai người bắt cao nhị đến, đánh 20 trượng, đuổi ra khỏi kinh thành,
cấm bất cứ ai được chứa chấp cho hắn ăn ở.
Đi đâu thì đi, riêng đất Đông Kinh này tuyệt đối không được quay lại.
Cao nhị ăn đòn, mất sạch của cải.
Đường cùng phải đi nương nhờ một người bạn cú họ Liễu,
tên Liễu Đại Lan, đang mở một sòng bạc ở đất Hoài Tây.
Liễu Đại Lan vốn là kẻ trượng nghĩa hào hiệp,
chuyên kết giao với anh hùng hảo hán khắp bốn phương,
thấy Cao nhị đến nương nhờ, không nói hai lời,
giữ lại mọi phi tổn coi như của mình.
Cao nhị ở lại sòng bạc của Liễu Đại Lan suốt ba năm dòng.
Ba năm ấy, với bản tính tinh khôn sẵn có, hắn sống như cá gặp nước,
ai đánh bạc thì hắn làm nhà cái, ai đánh nhau thì hắn ra tay đánh thuê,
quan hệ với Liễu Đại Lan ngày một khăng khít.
Nhưng cũng chính ba năm lăn lộn giữa trốn sòng bài long xà hỗn tạp ấy,
đã tôi luyện cho Cao nhị đủ mọi ngón nghề xảo trá mà trước kia ở Đông Kinh hắn còn chưa kịp học hết.
Để rồi khi quay trở lại Kinh Thành, hắn đã là một con người hoàn toàn khác,
văn không ra văn, võ không ra võ, nhưng đủ loại thủ đoạn đều tinh thông.
Nếu quý vị thấy hành trình lần theo cội nguồn của Thủy Hữu này thú vị,
đừng quên lưu lại video vào danh sách phát của mình để có thể quay lại bất cứ lúc nào.
Cùng cổ Kim Thư Quán đi tiếp những chặng đường còn dài phía trước của 108 vị hảo hãn lương Sơn.
Ba năm sau, nhân dịp Chiết Tông Hoàng Đế ra Tế Lễ Nam Giao,
tạ ơn trời đất mấy năm mưa thuận gió hòa, nhân đó ban lệnh đại xá thiên hạ.
Tin tức chuyển đến tai Cao nhị nơi đất khách hắn mừng như bắt được vàng,
nghĩ bộ tội cũ đã được xóa, vậy còn trần trừ gì nữa mà không về.
Đất khách dẫu tốt đến đầu, cũng không bằng cố hương.
Đồng Kinh Biển Lương mới đúng là nơi trôn nhau các rốn phổn hoa của ta.
Liễu Đại Lan nghe hắn muốn về, trong lòng cũng bịnh dịn không nỡ,
nói rằng huynh đệ ở đây với ta ba năm, tình nghĩa đã sâu động.
Ngay huynh đệ về, ta thật lòng không yên tâm.
Thôi thế này, ta có một người bà con, mở một tiệm thuốc ở khu Kim Lương Kiều, họ đồng.
Gọi là đồng tương sĩ, ta viết cho huynh đệ một phong thư, kèm theo ít lộ phí.
Huynh đệ mang thư đến lương nhờ người ấy, cũng có chỗ lương thân.
Huynh đệ thấy sao?
Cao Nhị nghe vậy, cảm kích vô cùng, thầm nghĩ.
Hiện giờ ta ở Đông Kinh, trên không một miếng ngói che đầu,
dưới không một tất đất cắm rùi, nay có người đến lương nhờ, thì còn gì bằng?
Hắn tả ơn Liễu Đại Lan, khoác gói hành lý lên vai, rời đất hoài Tây, thẳng hướng Đông Kinh mà đi.
Lần trở về Đông Kinh này của Cao Nhị,
chính là cánh cửa mở ra toàn bộ phó truyện Thủy Hữ đồ sộ sau này,
để rồi từ đó dẫn thẳng đến chương đầu tiên vang danh thiên hạng,
vương giáo đầu vương tiến đêm khuya chạy trốn đến Phủ Diên An.
Có một điều thú vị mà có lẽ nhiều người xem phim truyền hình truyền thể sẽ không ngờ tới.
Cao Nhị sau này đổi tên thành Cao Cầu,
người mà hậu thế đóng đinh là Đại Gian Thần,
là nguyên nhân trực tiếp đẩy Lâm Xung, đẩy Dương Chí, đẩy biết bao anh hùng hảo hán vào bước đường cùng.
Kỳ thực trong chính xử lại không hẳn là một kẻ nham hiểm độc ác như trong tiểu thuyết miêu tả.
Sử liệu như Huy Chủ Lục ghi lại,
Cao Cầu vốn từng là tiểu lại chép chữ trong phủ của đại học sĩ Tô Đông Pha.
Người này thông minh lanh lợi, chữ viết đẹp, giỏi cả văn lẫn võ,
tai đá cầu chỉ là một trong vô vàn sở trường của hắn mà thôi.
Trong chính xử, Cao Cầu làm đến chức thái úy,
thống lĩnh cấm quân hơn 20 năm cuối thời Bắc Tống.
Nhưng người dẹp cuộc khởi nghĩa của Tống Giang,
nguyên mẫu ngoài đời của Tống công minh trong Thủy Hữ,
lại không phải Cao Cầu mà là một viên tướng khác tên Trương Thúc Giang.
Mối thù giữa Cao Cầu với Lâm Xung, với Sử Tiến hoàn toàn là hư cấu của Thi Nại Am.
Vậy vì sao Thi Nại Am lại chọn đúng Cao Cầu,
biến ông ta thành hiện thân của cây ác trong toàn bộ tác phẩm?
Câu trả lời nằm ở chính bản chất của văn chương.
Đôi khi, để lột tả một hệ thống mộc dũng,
người viết cần một gương mặt cụ thể để Bách Tính có thể chí vào mà căm ghét,
mà nguyên rùa.
Cao Cầu, một kẻ xuất thân hạ tiện, không công lao hãn mạng,
chỉ nhờ tài mọn su nịnh mà leo lên đến hàng thái úy,
quá đối tiêu biểu cho một cơ chế dùng người sai lệch,
nơi tài đá cầu quan trọng hơn tài trị quốc,
nơi lòng trung thành với một cá nhân quan trọng hơn năng lực phụng sự chăm họ.
Thi Nại Am không cần Cao Cầu ngoài đời thực có ác đến đâu.
Ông chỉ cần mượn cái tên ấy,
cái xuất thân bang nhản ấy,
để dựng lên biểu tượng cho câu hỏi lớn hơn nhiều,
rằng khi một triều đại để cho kẻ bất tài vô đức nắm giữ quyền bình,
thì những lâm sung, những dương trí,
những kẻ có tài có đức thực sự sẽ còn đường sống hay không?
Và đây chính là bài học thứ hai mà câu chuyện Cao Cầu để lại cho hậu thế,
không hề kém phần sâu sắc so với bài học từ Phục Ma Điện.
Nếu Hồng Tín dạy chúng ta về cái giá của việc coi thường giới hạn,
thì Cao Cầu dạy chúng ta về cái giá của việc để cho tài mọn thế chỗ cho thực tài.
Một xã hội, một tổ chức, một gia đình,
hế khi nào bắt đầu coi trọng kẻ giỏi lấy lòng hơn kẻ giỏi làm việc,
coi trọng kẻ giỏi tân bốc hơn kẻ dám nói thẳng,
thì ngày suy vong chỉ còn là vấn đề thời gian.
Đông Kinh Biện Lương phồn hoa đến đâu,
cũng không ngăn được việc một Cao Cầu bước chân trở lại.
Và từ bước chân ấy, cả một triều đại huy hoàng bắt đầu đếm ngược.
Con đường phía trước của Cao Nhị hay Cao Cầu còn dài.
Từ tiệm thuốc của Đồng Tương Sĩ,
số phận sẽ đưa đẩy hắn đến gặp một vị vương gia say mê đá Cầu không kém gì hắn.
Để rồi từ đó, một bước lên mây, quyền khuynh triều giã,
đẩy cả Giang Sơn Nhà Tống vào một trang sử khác,
ưu ám hơn nhiều so với thời của Nhân Tông Thịnh Trị.
Nhưng đó đã là câu chuyện của một chương khác.
Cổ Kim Thư Quán xin hẹn quý vị vào một dịp sau.
Nhìn lại toàn bộ hành trình vừa đi qua,
từ chén rượu giải binh quyền của Triệu Khuôn Dận,
đến 42 năm Thái Bình không biết mùi chiến trận của Nhân Tông,
từ cánh cửa Phục Ma Điện bị một viên Thái Uý kêu ngạo mở toang,
đến bước chân trở về Đông Kinh của một kẻ băng nhàn vô lạc.
Tất cả những mảnh ghép tưởng trừng rời giặc ấy,
kỳ thực đang cùng nhau rệt nên một bức tranh lớn.
Bức tranh về cách một thời đại huy hoàng,
từng bước một tự tay reo xuống mầm móng cho sự sụp đổ của chính mình.
Người xưa có câu,
sinh ưu yêu hoạn,
tử ưu an lạc,
sinh ra trong lo âu hoạn nạn,
chết đi trong an nhàn sung sướng.
Nhân Tông tạo dựng nên một thời đại đáng tự hào bậc nhất lịch sử Trung Hoa,
nhưng chính sự Thái Bình quá lâu dài ấy
lại khiến những kẻ như Hồng Tín trở nên kiêu căng tự mãn,
khiến hệ thống dùng người bắt đầu dễ dãi với những cao cầu.
Không phải ngoại xâm, không phải thiên tai,
mà chính sự tự mãn từ bên trong
mới là thứ đáng sợ nhất đối với bất cứ thời thịnh trị nào.
Đây không chỉ là chuyện của 800 năm trước.
Một gia tộc giàu có qua ba đời mà con cháu buông lỏng rèn rũa.
Một cơ nghiệp thành công lâu năm mà người đứng đầu hết còn biết lắng nghe lời trái ý.
Một con người đạt đến đỉnh cao mà không còn biết sợ hãi trước bất cứ giới hạn nào.
Tất cả đều đang lặp lại.
Theo những cách khác nhau,
chính cái kịch bản mà Hồng Tín và Cao Cầu đã viết nên từ 800 năm trước.
Kim Thánh Thán nói không đọc Thủy Hử thì không biết cái kỳ diệu của thiên hạ.
Có lẽ cái kỳ diệu ấy không nằm ở những trận đánh long trời lở đất
mà nằm ở chính khả năng nhìn thấu nhân tình thế thái của Thi Nại Am.
Khi ông chọn cách mở đầu một pho chuyện anh hùng,
không phải bằng một trận chiến mà bằng một tòa điện thờ bị mở
và một kẻ vô lại được thả về kinh thành.
Đến đây, cổ Kim Thư Quán xin khép lại phần đầu tiên trong hành trình
đi tìm cội nguồn của 108 vị hảo hán Lương Sơn Bạc.
Thời lượng chương trình hôm nay đến đây là hết.
Nếu quý vị cảm thấy câu chuyện hôm nay mang lại điều gì đó đáng suy ngẫm,
xin đừng ngần ngại để lại một lượt thích,
một dòng bình luận chia sẻ góc nhìn của riêng mình
và nhấn theo dõi kênh cổ Kim Thư Quán
để không bỏ lỡ những chặng đường tiếp theo
khi Cao Cầu chính thức bước vào vũ đài quyền lực
và khi những vị sao hung tinh năm xưa bắt đầu lần lượt hạ phạm.
Cổ Kim Thư Quán xin hẹn gặp lại quý vị trong video kế tiếp.
