Borneo hoang dã là nhà của "người của rừng" — loài đười ươi, cùng khu rừng mưa được cho là cổ xưa nhất hành tinh, khoảng 140 triệu năm tuổi. Trên hòn đảo lớn thứ ba thế giới này, sự sống tiến hóa thành vô số hình hài chỉ có ở nơi đây: khỉ vòi mũi dài, báo gấm răng nanh dài nhất họ mèo, voi lùn nhỏ nhất thế giới, tám loài hồng hoàng, cùng ba triệu con dơi thoát hang mỗi hoàng hôn. Từ tầng tán cao tám mươi mét xuống thế giới trong lòng đất, hãy cùng khám phá pháo đài cổ nhất của sự sống — và lý do vì sao những loài quý hiếm nơi đây đang thực hiện cuộc chống cự cuối cùng.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Video giới thiệu về Borneo, hòn đảo sở hữu một trong những khu rừng mưa cổ xưa nhất thế giới với hệ sinh thái đa dạng và độc đáo. Từ cấu trúc phân tầng của rừng đến những loài động thực vật đặc hữu kỳ lạ, video làm nổi bật sự kỳ diệu của thiên nhiên đồng thời cảnh báo về nguy cơ sụp đổ hệ sinh thái do tác động của con người và việc mất rừng.
Khu rừng này đã giả cỗi từ khi những con khủng long cuối cùng còn bước đi trên trái đất.
Nó ra đời trước cả dãy Himalaya.
Trước cả rừng Amazon.
Trước gần như mọi khu rừng còn tồn tại đến hôm nay.
Suốt 140 triệu năm, nó đứng vững qua những kỷ băng Hà.
Những lần biển dân.
Những cuộc đại tuyệt chủng.
Một pháo đài của sự sống.
Nhưng chỉ trong vài chục năm gần đây, pháo đài ấy đang sụp đổ nhanh hơn bao giờ hết.
Và những cư dân quý hiếm nhất của nó đang thực hiện cuộc chống cự cuối cùng.
Đây là Borneo, hòn đảo lớn thứ 3 thế giới, nằm ngay trên đường dích đạo giữa vùng đông Nam Á.
Với diện tích hơn 748.000 km2, nó rộng gấp hơn 2 lần Việt Nam.
Và nó là hòn đảo duy nhất trên hành tinh được chia sẻ bởi 3 quốc gia.
Phần lớn nhất, khoảng 73%, thuộc về Indonesia, mang tên Kalimantan.
Phía bắc là hai bang Sabah và Sarawak của Malaysia.
Và 5 lót giữa, chỉ chiếm khoảng 1% là vương quốc nhỏ bé Brunei.
Ba lá cờ, một khu rừng.
Nhưng điều thực sự làm nên Borneo không nằm trên bản đồ chính trị, nó nằm ở thời gian.
Khu rừng mưa Borneo được cho là một trong những khu rừng cổ xưa nhất còn xót lại trên trái đất, khoảng 140 triệu năm tuổi.
Để dễ hình dung, rừng Amazon trẻ hơn nó tới hàng chục triệu năm.
Và trên cái tuổi khổng lũ ấy là chìa khóa của tất cả.
Khi một hệ sinh thái được yên ổn tiên hóa suốt hàng trăm triệu năm mà không bị xóa sổ bởi băng giá hay biến động.
Sự sống có đủ thời gian để làm một điều phi thường, tự tách mình thành vô số hình hài.
Ngày nay, Borneo là nơi trú ngụ của khoảng 15.000 loài thực vật, hàng trăm loài chim và thú.
Và điều đặc biệt nhất, rất nhiều trong số đó không còn tồn tại ở bất kỳ đâu khác trên thế giới.
Chúng được sinh ra ở đây, chỉ sống được ở đây. Và nếu biến mất khỏi đây, chúng sẽ biến mất khỏi vũ trụ.
Để hiểu pháo đài này, ta phải hiểu cách nó được xây lên như thế nào.
Rừng mưa Borneo không phải một khối phẳng, nó giống như là một tòa nhiều tầng.
Trên cùng, cách mặt đất tới 80 mét là những cây đại thụ vươn khỏi mọi toán khác, tắm trong ánh nắng.
Bên dưới là tầng tan chính, một mái nhà xanh khép kín, nơi phần lớn sự sống diễn ra.
Thấp hơn nữa là tầng cây bụi lầm mở.
Và dưới cùng là mặt đất, nơi ánh sáng gần như không bao giờ chạm tới.
Tối đến mức giữa ban ngày vẫn như hoàng hôn.
Mỗi tầng là một thế giới riêng, mỗi tầng có những cư dân của riêng nó.
Và hành trình của chúng ta sẽ đi từ trên cao xuống lỏng đất, qua từng tầng của pháo đài cũ này.
Bắt đầu từ trên cao, vươn lên khỏi cả khu rừng là loài cây cao nhất châu Á nhiệt đới, cây tua làng.
Có cây cao tới gần 90 mét, tương đương một tòa nhà 30 tầng.
Và thân nó có một bí mật, nhẵn và trôn đến mức gần như không kẻ nào leo lên được.
Kể cả gấu chó, kẻ chuyên trèo cây để cướp mật.
Chính vì vậy, những đàn ông mật khổng lồ chọn cây tua làng làm nhà,
treo những tổ ong dài cả mét lùng làng dưới cảnh cao, an toàn khỏi mọi kẻ săn mồi.
Một cái cây và cả một nền văn minh nhỏ sống nhỏ nó.
Tại Borneo, cây sung là nhà bảo trợ cho mọi loài.
Đây là nơi duy nhất thức ăn không bao giờ cạn kiệt, ngay cả trong những thời điểm khắc nghiệt nhất.
Từ chim hồng hoàng đến những loài thú nhỏ, tất cả đều phải dựa vào nguồn năng lượng này để tồn tại.
Nếu rừng là một cơ thể sống, thì những cây sung chính là trái tim đăng đập,
liên tục bơm sự sống cho cả khu rừng.
Nhưng vương quốc trên những tán cây cao không chỉ có thế,
chúng còn là sân khấu của những cư dân sạc sỡ bậc nhất khu rừng,
những chiếc mỏ khổng lồ mang tên hồng hoàng.
Borneo là quê hương của tám loài hồng hoàng, một trong những nơi có đa dạng hồng hoàng nhất châu Á.
Nổi tiếng nhất là hồng hoàng mỏ sừng, Rhinoceros hardbill,
với chiếc mũ cong vút màu đỏ cam trên đỉnh mỏ.
Nó là biểu tượng của cả hoàn đảo.
Và là loài chim biểu trưng của bang Sarawak.
Người đầy ác từ bao đời xem nó là loài chim thiêng, xứ giả núi trời với đất.
Với sẻ cánh rộng lớn, mỗi nhịp vỗ của chúng không hề thanh thoát
mà mang theo sức nặng của không khí bị xe toạc.
Âm thanh đó đủ mạnh để báo hiệu sự xuất hiện của chúng từ cách xa hàng trăm mét.
Kỳ lạ nhất là hồng hoàng mũ cát, Helmeted Hornbill.
Khác với họ hàng cong mũ rỗng, chiếc mũ của nó là một huế đặc.
Thứ ngà quý hiếm đến mức bị săn lùng rao giết, đẩy loài này tới bờ tuyệt chủng.
Nó nay bị xếp vào nhóm cực kỳ nguy cấp.
Những con đực trưởng thành thậm chí lao vào nhau giữa không chung, hút mũ chan chát để giành cây sung chín.
Và tiếng kêu của nó, một chẳng cười ruồn rập vang khắp thùng lũng
là một trong những âm thanh khó quên nhất của rừng già.
Rực rỡ hơn cả là hồng hoàng mỏ nhăn, Wrinkled Hornbill
với chiếc mỏ vàng cam pha đỏ trông như được tô bằng tay.
Ấn tượng không kém là hồng hoàng màu trắng, White-crowned Hornbill.
Đội chiếc màu lông trắng dựng lên như một vương miện bù rù.
Loài này rất hiếm gặp, chỉ sống trong những cảnh rừng nguyên sinh sâu nhất.
Còn dễ bắt gặp nhất là hồng hoàng nâu, Oriental Pied Hornbill.
Nhỏ hơn, dạn dĩ hơn, nó xuất hiện khắp nơi, từ rừng già đến những cảnh cây ven sông
và thường là con hồng hoàng đầu tiên mà bất kỳ ai cũng nhìn thấy khi đến Borneo.
Ba loài còn lại, hồng hoàng đen, hồng hoàng màu và hồng hoàng cổ hung
kín đáo hơn, ẩn mình trong những tán rừng ít giấu chân người.
Và đôi khi giữa tầng lá, một chấm màu tròn đe lên rồi vượt tắt,
chim mỏ rộng đen vàng, một trong những viên ngọp nhỏ bé và khó thấy nhất của khu rừng.
Nhưng hồng hoàng còn giữ một trong những tập tính nuôi con kỳ lạ nhất thế giới loài chim.
Đến mùa sinh sản, chim mái chui vào một hộp cây,
rồi tự bịt kín cửa từ bên trong bằng bùn và phân, chỉ chừa một khe hẹp.
Suốt nhiều tuần, nó bị giam cùng đàn con, hoàn toàn phụ thuộc vào chim trống mướm ngồi qua khe nhỏ.
Một sự tin tưởng tuyệt đối, một pháo đài tí hon bên trong pháo đài lớn.
Phía sau vẻ ngoài kiêu sa ấy là một sức mệnh quan trọng.
Chúng là những người làm vườn cần mẫn của rừng già.
Mỗi ngày chúng bay hàng chục km, nuốt trà chín rồi gieo hạt đi khắp nơi.
Rừng nuôi chúng và đổi lại, chúng gieo mầm cho những cánh rừng của mai sau.
Ở một khu rừng cao tới 80m, rơi xuống đồng nghĩa với cái chết.
Vì thế, nhiều loài ở Borneo đã học một kỹ năng phi thường, bay mà không cần cánh.
Ban ngày, thằn lắn bay Draco xòe hai màng da căng trên những chiếc xương sườn kéo dài.
Lượn từ thân cây này sang thân cây khác như là một cánh rỉu tí hon.
Trốn bay căng tấm màng da nối từ cổ tới tận đuôi.
Và có thể lượn xa gần 70m chỉ trong một cú phóng, gần bằng chiều dài một sân bóng.
Thậm chí có cả loài rắn biết bay.
Rắn cây thiên đường dẹt mình ra, uốn lượn trong không trung để truyền từ ngọn cây xuống đất.
Và nổi tiếng nhất là ếch bay Wallace.
Loài ếch với bàn chân mẳng rộng như chiếc dù, giúp nó lượn giữa các tàn cây.
Nó mang tên Alfred Russel Wallace.
Tên một nhà thám hiểm đã có những đóng góp to lớn cho việc khám phá sự đa dạng sinh học tại Borneo.
Trong pháo đài nhiều tầng này, ngay cả bầu không khí giữa các tàn cây cũng là một con đường.
Nhưng ngôi sao thực sự của tầng 8 Borneo là một sinh vật mà người bản địa gọi bằng cái tên đầy kính trọng, Orang Hutan.
Trong tiếng Mã Lai, nó có nghĩa là người của rừng.
Và khi nhìn vào đôi mắt ấy, ta sẽ hiểu vì sao.
Đối ưa Borneo là loài vượn lớn duy nhất của châu Á, là họ hàng gần của chính chúng ta.
Chia sẻ tới khoảng 97% bộ gen với con người.
Chúng dành gần như cả cuộc đời trên cây.
Một con được trưởng thành có thể nặng gần 90kg.
Vậy mà vẫn di chuyển giữa các tàn cao bằng sức mạnh và sự khéo léo đáng kinh ngạc.
Uốn cả thân cây để với sang cảnh bên cạnh.
Nhưng điều khiến đời ư thực sự phi thường không phải cơ bắp mà là trí tuệ.
Chúng biết dùng công cụ, bẻ cành làm gậy trọc mật,
ngấp lá làm ô che mưa, làm cốc hứng nước.
Và quan trọng hơn, chúng họp lẫn nhau.
Ở những vùng rừng khác nhau của Borneo, đời ư có những tập quán khác nhau.
Những cách kiếm ăn được truyền từ mẹ sang con qua nhiều thế hệ.
Các nhà khoa học gọi đó bằng một từ mà trước đây người ta tưởng chỉ dành cho con người.
Văn hóa.
Chính vì thế, mối liên kết giữa đời ư mẹ và con
là một trong những mối liên kết bền chặt nhất của thế giới động vật.
Đời ư con bám lấy mẹ suốt những năm đầu đời
và nó sẽ ở bên mẹ tới 6-7 năm,
thời gian phụ thuộc dài nhất của bất kỳ loài thú hoang nào chỉ so con người.
Suốt những năm ấy, con non học mọi thứ từ mẹ.
Cây nào ăn được, quả nào chín vào mùa nào,
làm sao đan một chức tổ mới trên cây mỗi đêm.
Cả một thư viện tri thức sinh tồn được trao đi bằng sự kiên nhẫn.
Bởi trong khu rừng này không ai sinh ra đã biết cách sống.
Người của rừng phải học cách làm người của rừng.
Và khi một con đực trưởng thành cất tiếng,
cả khu rừng đều nghe thấy.
Nhờ chức túi họng khổng lồ,
tiếng gọi đường dài của nó có thể vang xa hơn 1 km.
Tuyên bố với những con đực khác rằng đây là lãnh địa của mình.
Một ông vua lặng lẽ của tầng 8.
Nhưng người của rừng đang dần biến mất.
Chỉ trong vòng một thế kỷ,
số lượng đời ươi Borneo đã giảm tới hơn 80%.
Từ con số hơn 300.000 cá thể của một thế kỷ trước,
giờ đây chỉ còn chưa đầy 60.000 đến 100.000 người của rừng suốt lại.
Dù con số hàng trăm nghìn nghe có vẻ lớn,
nhưng thực tế, chúng đã bị chia nhỏ thành các đảo sinh thái biệt lập.
Sự cô lập này khiến khả năng giao phối và duy trì nòi giống của chúng
đứng trước những rủi ro cực kỳ mong manh.
Chúng ta sẽ trở lại với lí do đằng sau con suối.
Nhưng trước hết, hành trình phải đi xuống,
theo dòng nước tới nơi khu rừng gặp những dòng sông.
Ở Borneo, những dòng sông là huyết mệnh.
Nước mưa xối xuống gần như quanh năm,
có nơi hơn 4.000 mm mỗi năm gom lại thành những con sông rộng lớn,
cuộn chảy màu nâu trà vì phủ sa và lá mục.
Dọc hai bờ là rừng ngập nước và rừng nước,
vùng chuyển tiếp giữa đất liền và biển cả.
Và đây là lãnh địa của một trong những sinh vật kỳ lạ nhất Borneo,
khỉ vòi.
Chỉ nhìn một lần là không thể quên,
những con được trưởng thành mang một chiếc mũi to đến mức rủ xuống che cả miệng,
và tự nhiên hiếm khi làm gì mà không có lý do.
Chiếc mũi ấy hoạt động như một chiếc la,
khi con được kêu, chiếc mũi cộng hưởng âm thanh,
khuếch đại tiếng gọi vang khắp khu rừng.
Vừa để thu hút con cái, vừa để cảnh báo đối thủ.
Mũi càng lớn, tiếng càng vang,
và với khỉ cái càng hấp dẫn.
Khỉ vòi mang theo một chiếc bụng phình to không phải do dư thừa,
mà là một nhà máy tiêu hóa kỳ diệu.
Bên trong đó là hệ thống dạ dày đa ngăn đầy áp vị khuẩn,
giúp chúng phân hủy những loại lá cây chứa để chất sơ và độc tố
mà các loài khác phải tránh xa.
Chiếc bụng ấy chính là chiều khóa sinh tồn,
cho phép loài linh trưởng độc bản này biến những thực vật thô cứng
thành nguồn năng lượng sống giữa rừng già.
Khỉ vòi chỉ sống ở Borneo,
không nơi nào khác trên trái đất có chúng.
Nhưng bí mật đáng kinh ngắng nhất của chúng lại nằm ở dưới nước.
Khỉ vòi là một trong số rất ít loài linh trưởng biết bơi giỏi.
Bàn chân chúng có màng một phần giữa các ngón, giống chân vịt.
Khi bị đe dọa, chúng không chạy,
chúng nhảy thẳng xuống sông và bơi sang bờ bên kia.
Đó là một canh bạc.
Bởi dưới làn nước đục kia là một kẻ săn mồi cổ xưa hơn cả khu rừng này.
Cá sấu nước mặn.
Loài bo sắt lươn nhất còn sống trên hành tinh.
Một con trường thành có thể dài tới 6-7 mét.
Với khỉ vòi, mỗi lần vượt sông là một lần đánh cực mạng sống.
Ở lại trên cây, sẽ gặp chăn và báo.
Xuống nước, sẽ gặp cá sấu.
Trong pháo đài này, không có nơi nào là hoàn toàn an toàn.
Chỉ có những lựa chọn ít rủi ro hơn.
Và khi màn đêm xuống trên những khu rừng ngập mặn ven sông,
dòng nước lại kể một câu chuyện khác.
Trên vài tán cây đước, hàng nghìn con đom đóm chấp sáng cùng một nhịp.
Đồng loạt, như thể cả cái cây đang thở bằng ánh sáng.
Không ai biết chắc vì sao chúng đồng bộ hoàn hảo đến vậy.
Chỉ biết đó là một trong những cảnh tượng dịu dàng và bí ẩn nhất của Borneo về đêm.
Bây giờ, hãy đi xuống nơi tối nhất của pháo đài, mặt đất rừng.
Ở đây, nắng gần như không lọt qua nổi mái tán dày phía trên.
Và trong bóng tối vĩnh cửu ấy, sống những cư dân bí ẩn nhất Borneo.
Cư dân đầu tiên là một bóng ma vô hình giữa đại ngàn, bao gấm Borneo.
Loài mèo lớn nhất của hòn đảo và cũng là loài khó nhìn thấy nhất.
Nhiều người sống cả nơi trong rừng Borneo mà chưa từng gặp một lần.
Bộ lông của nó phủ những mảng vân lớn như những đá mây,
giúp nó tan biến vào ánh sáng lông đốm dưới tán rừng.
Nhưng bao gấm giữ một kỷ lục đáng sợ, so với kích thức hộp sọ.
Nó có cặp răng nanh dài nhất trong tất cả các loài mèo còn sống trên thế giới.
Dài đến mức người ta thường so sánh nó với loài hổ răng kiếm đã tuyệt chủng.
Nó cũng là một trong những loài mèo leo trèo giỏi nhất hành tinh.
Cổ chân xoay được gần như hoàn hảo, cho phép nó tụt xuống thân cây, đầu trú xuống dưới.
Điều gần như không loài mèo lớn nào khác làm được.
Nó thậm chí có thể cho mình trên cảnh chỉ bằng hai chân sau.
Một bóng ma biết leo cây, cho một khu rừng không ai nhìn thấy nó.
Và đây là một nghịch lý của Borneo.
Trên hoàn đảo của những loài khổng lồ lại có loài voi nhỏ nhất thế giới, voi lùn Borneo.
Nhỏ hơn hẳn họ hàng châu Phi và châu Á đại lục.
Nặng tầm 2-3 tấn, trong khi các loài voi khác thường nặng từ 4-6 tấn.
Với khuôn mặt trông hiền lành như trẻ thơ, đôi tay lớn và chiếc đuôi dài gần chạm đất.
Vì sao chúng lại nhỏ như vậy vẫn còn là một bí ẩn?
Nhiều nhà khoa học tin rằng sau hàng trăm nghìn năm bị cô lập trên đảo,
tổ tiên chúng đã dần thu nhỏ để thích nghi với nguồn thức ăn hạn chế,
một hiện tượng gọi là hội trứng đảo.
Nhưng dù nhỏ, chúng vẫn ăn tới hàng trăm kg thực vật mỗi ngày
và mở những lối mòn xuyên rừng mà vô số loài khác đi theo.
Ngày nay chỉ còn khoảng 1.000 con voi lùn ngoài tự nhiên,
1.000 trên cả một hòn đảo.
Nhưng mặt đất rừng Borneo còn giố những cư dân khác, kín đáo hơn nhiều.
Trong những cánh rừng núi cao ở trung tâm hòn đảo số một loài chim mà chỉ Borneo mới có,
chỉ Bor, con trống khoác bội lông đen thẫm,
khuôn mặt để lộ hai giải yếm da xanh rừng rực rỡ,
cùng một chiếc đuôi trắng muốt cong phút hiếm thấy trong thế giới loài chim.
Nó nhút nhát đến mức suốt một thời gian dài,
khoa học gần như không biết gì về đời sống hoang dã của nó.
Trong mùa sinh sản, con trống không chỉ dựa vào ngoại hình,
nó thực hiện những màn trình diễn vô cùng ấn tượng.
Nó sẽ sử dụng buộc đuôi trắng tinh khôi như một chiếc quạt khổng lồ
và phồng to lớp da yếm xanh rừng rực rỡ để thu hút con mái.
Đây là loài đặc hữu, không tồn tại ở bất kỳ nơi nào khác trên trái đất.
Khi màn đêm bung xuống, một cư dân khác thức giấc,
khỉ lùn Tasier, nhỏ vừa lòng bàn tay.
Nó có đôi mắt to đến mức mỗi con mắt còn nặng gần bằng cả một bộ não của nó.
Đôi mắt lớn nhất so với cơ thể trong toàn bộ loài thú.
Nhưng đôi mắt ấy không xoay được trong hóc.
Bù lại, Tasier có thể quay đầu gần trọn một vòng như loài cú để quét khắp bóng tối.
Là loài ăn thịt hoàn toàn, nó phóng mình bắt côn trùng và những con mùi nhỏ trong đêm.
Loài này sống ở Borneo và Sumatra, không phải đặc hữu,
nhưng là một trong những gương mặt kỳ lạ nhất của rừng đêm.
Và lần khuất trong bóng tối là loài gấu nhỏ nhất thế giới, gấu chó.
Chỉ nặng bằng một nửa người trưởng thành,
nó mang trên ngực một vẹt lông vàng hình mặt trời mọc.
Cái tên của nó bắt nguồn từ đó.
Với chiếc lưỡi dài tới 20cm và bộ vút cong khỏe,
gấu chó sẽ toan thân cây mục để tìm mật ong, mối và ú trùng.
Chính nó là kẻ mà cây tua làng trơn nhãn đã tiến hóa để né tránh.
Nhưng pháo đài Borneo không chỉ vươn lên trời, nó còn ăn sâu xuống lỏng đất.
Ở bang Sarawak, sau hàng triệu năm nước mưa bỏ mòn đá vôi,
cả một thế giới ngầm đã hình thành bên dưới khu rừng.
Đây là vùng hang động được nghiên cứu kỹ nhất thế giới nhiệt đới,
và nó giữ những kỷ lục khiến người ta chóng váng.
Nơi đây có hang chứa hang động lớn nhất hành tinh.
Một khoang ngầm rộng đến mức có thể chứa vừa vài chiếc máy bay chở khách riêng cạnh nhau.
Có lối hang lớn nhất thế giới, cao tới mức có thể nuốt trọn cả một tòa nhà trọc trời.
Nhưng điều kỳ vĩ nhất ở đây không phải là đá, mà là sự sống.
Bám chân chân của một hang động khổng lồ là khoảng 3 triệu con rơi.
3 triệu, suốt cả ngày, chúng cho mình trong bóng tối, ngủ.
Nhưng khi hoàng hôn bung xuống, một trong những màn trình diễn ngoạn mục nhất của thế giới tự nhiên bắt đầu.
Từng đợt, từng đợt, hàng triệu con rơi tuôn ra khỏi cửa hang.
Nhưng chúng không mai lộn xộn, chúng cuộn thành những giải xoé giải,
uốn lượn trên đền trời như làn khói sống.
Vì sao lại xoé như vậy?
Bởi ngay bên ngoài cửa hang, những kẻ săn mồi đang chờ.
Diều hâu ăn rơi lượn vòng, trục lao vào bắt những con lẻ đàn.
Và giải xoé chính là lá chắn.
Bằng cách cuộn lại thành một khối rẻ đặc, chuyển động khó lường,
đàn rơi khiến kẻ săn mồi gần như không thể khóa mục tiêu vào một cá thể.
Lại một lần nữa, sức mạnh của số đông.
3 triệu con rơi ấy, mỗi đêm, bay ra rừng và ăn hàng chục tấn côn trùng.
Nếu không có chúng, khu rừng sẽ ngập trong số bọ.
Và ngay cả thứ chúng để lại phía sau cũng nuôi sống cả một thế giới.
Dưới nền hang, những núi phân rơi tích tụ qua hàng nghìn năm
trở thành nguồn thức ăn cho một hệ sinh thái riêng.
Gián, dế, cuốn chiếu và những loài sinh vật cả đời chưa từng thấy ánh mặt trời.
Cả một chuỗi thức ăn vận hành trong bóng tối tuyệt đối,
thứ mà không ai nhìn thấy.
Nhưng nếu thiêu nó, cả khu rừng phía trên cũng lung lay.
Đó là điều pháo đài này dạy ta.
Lập đi lập lại, mọi thứ đều được nối với nhau.
Nhưng đàn rơi không phải là cư dân duy nhất của bóng tối.
Cũng trên những vòng hang ấy, hàng vạn con chim yến làm tổ.
Và tổ của chúng là một trong những thứ đắt đỏ nhất mà con người từng lấy từ thiên nhiên.
Khác với chim thường, yến không dùng cành lá.
Chúng xây tổ hoàn toàn bằng nước bọt.
Kéo thành từng sợi, rồi để khô cứng lại thành một chiếc bát nhỏ dính chặt trên vét đá.
Chính chiếc tổ ấy là yến rào, món ăn được săn đùng suốt hơn 1.000 năm.
Và cũng chính là minh chứng cho việc con người đã gắn đời mình với pháo đài này so đến nhường nào.
Trở lại mặt đất rừng, ẩn giữa lớp lá mục, đôi khi người ta bắt gặp một điều tưởng như không có thật.
Một bông hoa lớn nhất thế giới, Rafflesia.
Một bông hoa đơn có thể đạt đường kính tới 1m và nặng đến 11kg.
Nhưng Rafflesia không chỉ lớn, nó là một trong những loài thực vật kỳ lạ nhất từng tồn tại.
Nó không có lá, không có thân, không có rễ, không hề quang hợp.
Suốt gần như cả vòng đời, Rafflesia sống ẩn mình như một mạng sợi ký sinh bên trong một loài dê leo, hoàn toàn vô hình.
Rồi bất ngờ sau nhiều tháng, nó đâm ra một nụ và bung nở thành bông hoa khổng lồ này chỉ trong vài ngày ngắn ngủi.
Và để được thụ phấn, nó chơi một trò lừa tàn nhẫn, Rafflesia bốc lên mùi thịt thối.
Cái mùi khủng khiếp ấy đã đánh lừa những con ruồi nhặn, vốn quen tìm đến sắc chết để đẻ trứng.
Chúng lao vào bông hoa, vô tình mang theo phấn, rồi bay sang bông khác.
Một bông hoa giả làm sắc chết, để đánh lừa loài ruồi, để duy trì loài sống.
Trong pháo đài cổ này, ngay cả cái đẹp cũng có một mưu kế riêng để sống sót.
Nhưng bây giờ, ta phải quay lại câu hỏi đã bỏ ngỏ từ đầu, vì sao rừng đang biến mất?
Suốt 140 triệu năm, pháo đài này đã đứng vững qua mọi thử thách của tự nhiên.
Nhưng nó chưa bao giờ đối mặt với thử thách như bây giờ.
Chỉ trong khoảng 40 năm, gần một phần ba diện tích rừng bồn hiều đã biến mất.
Phần lớn để nhường chỗ cho những đồn điển cọ dầu, thứ dầu ăn có mặt trong vô số sản phẩm trên khắp thế giới, từ mì gói đến mỹ phẩm.
Khi rừng ngã xuống, từng tầng nhà mà chúng ta vừa đi qua sụp đổ theo.
Đời ươi mất nơi ở, mất cả những cây ăn quả mà chúng và mẹ đã học thuộc qua nhiều thế hệ.
Voi lùn bị dồn vào những màng rừng ngày càng nhỏ, bao gấm mất lãnh địa, khỉ vòi mất những dòng sông.
Những loài đã mất hàng triệu năm để tiến hóa nên hình hài độc nhất của mình, giờ có thể biến mất chỉ trong vài thế hệ của chúng ta.
Đó là lý do vì sao chúng được gọi là động vật quý yếm.
Không phải vì chúng đẹp, mà vì chúng gần như là những cá thể cuối cùng.
Nhưng câu chuyện chưa kết thúc.
Trên khắp Borneo, những trung tâm cứu hộ đang nuôi dưỡng đời ươi mùa côi và dạy chúng cách trở về rừng.
Những khu bảo tồn được mở rộng, những hành lang xanh được nối lại để voi và đời ươi có thể di chuyển.
Pháo đài chưa thất thủ, nó chỉ đang chờ xem chúng ta sẽ chọn điều gì.
140 triệu năm trước, khi khu rừng này ra đời, con người còn chưa tồn tại.
Và suốt rừng ấy thời gian, nó vẫn lặng lẽ là một việc duy nhất nuôi dưỡng sự sống và biến sự sống thành môn hình vạn trạng.
Tất cả đều là những chương khác nhau của cùng một câu chuyện dài 140 triệu năm.
Có lẽ điều khiến Borneo trở nên đặc biệt không chỉ là những loài quý yếm mà nó che chở,
mà là lời nhắc nhở rằng một số thứ một khi đã mất đi sẽ không bao giờ quay trở lại.
Đây là Borneo, pháo đài cổ nhất của sự sống.
Cảm ơn bạn đã đồng hành trong hành trình khám phá pháo đài của xưa này.
Nếu bạn yêu thích những câu chuyện về thiên nhiên, văn hóa và những vùng đất kỳ thú trên khắp thế giới,
đừng quên nhấn thích, đăng ký kênh và bật thông báo để không bỏ lỡ những hành trình tiếp theo.
Xin chào và hẹn gặp lại!