MADAGASCAR: HÒN ĐẢO KỲ LẠ NHẤT THẾ GIỚI VÀ ”BẪY” NGHÈO ĐÓI

Hiện Tượng Thiên Nhiên
39 Người theo dõi
130 Lượt xem video·2 thg 9, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIMadagascar là một hòn đảo độc bản với hệ sinh thái biệt lập nhưng đang đối mặt với khủng hoảng sinh tồn toàn diện. Sự kết hợp giữa địa hình chia cắt, suy thoái môi trường nghiêm trọng và bẫy nghèo đói hệ thống đã khiến quốc gia này rơi vào tình trạng cực nghèo, bất chấp vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá.
Madagascar, một vùng đất rộng hơn 587.000 km vùng nằm lơ lửng giữa Ấn Độ Dương,
nơi có đến 90% động thực vật không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên trái đất,
nhưng lại là ngôi nhà của một dân tộc mà ngôn ngữ gốc của họ không phải đến từ đại lục Châu Phi cách đó 400 km
mà bắt nguồn từ những hòn đảo thuộc Indonesia cách xa hơn 6.000 km đại dương.
Tại sao một hòn đảo sở hữu kho tàng sinh học vô giá cùng vị trí chiến lược án ngữ kênh đảo Mozambique,
nơi trung chuyển tới 30% lượng dầu mỏ đường biển toàn cầu,
lại rơi vào tình trạng hơn 75% dân số sống dưới mức nghèo khổ cực đoan và chịu mức thu nhập bình quân đầu người,
thấp hơn cả thời điểm năm 1960?
Câu trả lời không đơn thuần nằm ở những sai lầm quản trị hậu thuộc địa,
mà ẩn sâu trong chính những vết dạng nước địa chất từ hàng trăm triệu năm trước,
cấu trúc địa hình đất gãy khắc nghiệt và một cuộc di cư vượt đại dương vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại.
Madagascar, lục địa thứ 8 độc bản trên trái đất
Để hiểu được sự độc bản của Madagascar, chúng ta phải quay ngược thời gian về khoảng 165 triệu năm trước,
khi siêu lục địa Gondwana bắt đầu quá trình tan rã thảm khốc.
Trong cuộc đại phân tách địa chất này, khối đại lục Madagascar,
Ấn Độ đã đứt gãy khỏi bờ biển phía đông của châu Phi.
Khoảng 88 triệu năm trước, Ấn Độ tiếp tục tách rời để tiến về phía bắc va chạm với châu Á,
tạo nền dãy Himalaya, bỏ lại Madagascar, trôi giạt cô độc giữa Ấn Độ Dương.
Sự cô lập địa chất kéo dài gần 90 triệu năm này đã biến Madagascar thành một phòng thí nghiệm tiến hóa khép kín.
Không có sự xâm nhập của các loài thú săn mồi lớn từ đại lục châu Phi như sư tử, báo hay voi,
các sinh vật tại đây đã tiến hóa theo những quý đạo hoàn toàn riêng biệt,
tạo nên một lục địa thứ tám đúng nghĩa về mặt sinh học.
Tuy nhiên, chính sự cô độc địa chất tạo nên kỳ quan sinh thái lại đặt ra một lời nguyện điện lý khắc nghiệt
cho sự phát triển của xã hội con người.
Nếu nhìn vào bản đồ địa hình vệ tinh, Madagascar hiện lên không phải là một đảo quốc bằng phẳng,
mà là một pháo đài đá khổng lồ với sống lưng là dãy House Platter,
cao nguyên trung tâm chạy dài từ bắc xuống nam ở độ cao trung bình 1.000-1.500m.
Bức tường đá này chia hòn đảo thành hai thế giới khí hậu hoàn toàn đối lập.
Phía đông là dải đồng bằng hẹp hứng chịu toàn bộ các trận cuồng phong và mưa lớn từ Ấn Độ Dương,
trong khi phía tây chìm trong sự khô hạn do hiệu ứng phơn che chắn.
Chính cấu trúc địa hình hiểm trở này đã tạo ra một sự chia cắt nội địa dữ dội.
Dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng chi phí vận tải đường bộ trên mỗi km tại Madagascar
thuộc hàng cao nhất thế giới, trong đó hơn 80% mạng lưới giao thông đường bộ hiện nay
vẫn chưa được giải nhựa và hoàn toàn bị cô lập trong mùa mưa.
Sự thiếu hụt kết nối hạ tầng đã ngăn cản sự hình thành của một thị trường nội địa thống nhất,
cô lập các cộng đồng dân cư trong những lòng chảo địa hình riêng biệt.
Sự chia cắt tự nhiên ấy lại càng trở nên phức tạp khi đặt trong bối cảnh nhân khẩu học vô cùng đặc biệt của hòn đảo.
Khác với các quốc gia châu Phi, đại lục lân cận vốn là địa bàn sinh sống của tộc người Bantu từ hàng ngàn năm.
Những cư dân đầu tiên đặt chân lên Madagascar khoảng 2.000 năm trước lại là những nhà hàng hải người Austronesian
vượt đại dương từ quần đảo Sunda thuộc Indonesia ngày nay.
Họ đã nương theo các dòng hải liu và gió mùa Ấn Độ Dương để thực hiện một trong những cuộc di cư bằng đường biển ngoạn mục nhất lịch sử loài người.
Nhà lịch sử học kinh tế Philip Boja từng phân tích trong các công trình nghiên cứu về Ấn Độ Dương.
Sự hòa huyết sau đó giữa người Austronesian và các làn sóng di cư muộn hơn của người Bantu từ châu Phi cùng thương nhân Ả Rập
đã nhào nặn nên tộc người Malagasy ngày nay với 18 bộ tộc riêng biệt.
Ngôn ngữ Malagasy hiện đại, dù nằm ở trung tâm Ấn Độ Dương, vẫn giữ nguyên gốc dễ thuộc họ ngôn ngữ Malayo-Polynesian,
có mối liên hệ từ vựng mật thiết với tiếng baritô ở vùng Borneo hơn là bất kỳ ngôn ngữ nào tại lục địa đen.
Sự kết hợp giữa làn sóng nhân khẩu học đa dạng và địa hình đôi núi bị chia cắt đã ngăn cản sự ra đời
của một thể chế chính trị trung ương tập quyền bền vững trong suốt hàng thế kỷ.
Các bộ tộc hình thành các vùng lãnh thổ khép kín. Người Merina và Bessileo làm chủ vùng cao nguyên trung tâm
với kỹ thuật canh tác lúa nước phức tạp, trong khi người Sakalava, Bara hay Antanroi làm chủ các vùng đồng bằng
và đồng cỏ khô hạn phía Tây và phía Nam với nền văn hóa trăn thả ru mục.
Sự phân hãn về địa lý và văn hóa này không chỉ gây khó khăn cho việc tích lũy nguồn lực xã hội
mà còn tạo ra những dạng nước tộc người sâu sắc.
Khi các đế quốc phương Tây bắt đầu nhom ngó Ấn Độ Dương, một Madagascar bị chia cắt bởi địa hình
và nhân khẩu học đã trở thành một mục tiêu dễ dàng, đặt nền móng cho những bi kịch lịch sử
và phát triển kéo dài đến tận kỷ nguyên hiện đại, hẻm núi sinh thái và sự bế tắc của nguồn gen.
Sự cô lập địa chất từ hàng chục triệu năm trước không chỉ đặt nền móng cho một hệ sinh thái biệt lập
mà còn chia cắt chính bể mặt Madagascar thành những hẻm núi sinh thái vô cùng khắc nghiệt.
Nếu đi về phía Tây Bắc của hòn đảo, chúng ta sẽ bắt gặp một trong những cấu trúc địa hình dị thường
và đáng sợ nhất trên hành tinh, khu bảo tồn thiên nhiên Chinguidebemaraja.
Trong tiếng Malagasy, từ Chingui có nghĩa là nơi mà người ta không thể đi chân đất.
Đó là một đại dương đá rộng hàng trăm km vuông được cấu tạo từ những tháp đá vôi sám nhọn như lưỡi dao
cao tới hàng chục mét, được hình thành qua hàng triệu năm bị nước mưa mải mòn và phân hóa địa chất.
Đối với con người, vùng địa hình Chini là một địa ngục logistic hoàn toàn không thể xâm nhập hay xây dựng hạ tầng.
Nhưng đối với tự nhiên, chính pháo đài đá trong tranh này lại trở thành một cái nhà giam sinh học tuyệt đối,
ngăn cách các loài động vật khỏi sự can thiệp của thế giới bên ngoài.
Sự phân mảnh địa hình tự nhiên này đã đẩy quá trình tiến hóa tại Madagascar đi theo những hướng đi dị biệt,
tạo nên những sinh vật kỳ lạ bậc nhất trên trái đất.
Tiêu biểu nhất trong số đó là các loài vượn cáo, lê mưa, nhóm linh trưởng cổ xưa đã biến mất ở phần còn lại của thế giới
do sự cạnh tranh từ các loài khỉ hiện đại.
Tại Madagascar, do thiếu vắng các loài thú săn mồi cỡ lớn, vượn cáo đã phân hóa thành hơn 100 loài riêng biệt để lấp đầy mọi ngách sinh thái.
Từ loài vượn cáo Injury lớn nhất cất tiếng hú vang vọng khắp rừng mưa phía đông,
đến loài vượn cáo chuột Perthae nhỏ bé chỉ nặng chưa đầy 30 gram.
Sự xuất hiện của loài IAI, một sinh vật săn đêm dị thường với đôi tay rơi, mắt tròn xoe và chiếc ngón tay giữa kéo dài ngoằng
dùng để gõ vào vỏ cây tìm sâu bọ chính là minh chứng đỉnh cao cho sự tiến hóa độc bản khi bị giam cầm trong những tiểu vùng địa hình biệt lập.
Chính cơ chế điện sinh học từng tạo ra sự đa dạng vô diệp này lại đang biến thành một chiếc bẫy sinh tử trong kỷ nguyên hiện đại.
Khái niệm nghịch lý đảo trong sinh học tiến hóa chỉ ra rằng các loài sinh vật tiến hóa trong môi trường cô lập
thường mất đi khả năng tự vệ biến ảo và sở hữu một nguồn xen cực kỳ nhạy cảm trước những biến động ngoại cảnh.
Khi diện tích rừng nguyên sinh bị thu hẹp do hoạt động của con người, các hành lang sinh thái tự nhiên kết nối giữa các thùng lũng đá vôi và hẻm núi hoàn toàn bị đứt gãy.
Theo dữ liệu từ Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế, EUCN, Madagascar hiện là nơi có tỷ lệ động vật linh trưởng bị đe dọa cao nhất toàn cầu,
với hơn 98% các loài vượn cáo đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.
Việc các quần thể động vật bị cô lập trong những vùng rừng phân mảnh hẹp hòi đã dẫn đến hiện tượng suy thoái, nguồn xen nghiêm trọng do phối giống động huyết.
Giống như một mạng lưới điện bị ngắt kết nối từng cầu trì, hệ sinh thái Madagascar đang sụp đổ dây chuyền khi từng mát xích di chuyển bị triệt hạ.
Sự bế tắc của nguồn xen sinh học phản ánh một cách kinh ngạc sự bế tắc trong mô hình phát triển kinh tế của Madagascar.
Giống như cách các loài vượn cáo bị cô lập trong các thùng lũng trình nghi không thể trao đổi xen để chống chịu dịch bệnh,
nên nông nghiệp của hòn đảo này cũng bị giam cầm trong những tiểu vùng địa hình chia cắt, hoàn toàn thiếu đi tính kết nối quy mô lớn.
Tập quán canh tác Tavi truyền thống đốt rừng làm nương dẫy có từ thời những cư dân Austronesian đầu tiên đã đẩy thảm kịch sinh thái lên đỉnh điểm.
Khi mật độ dân số bùng nổ trong vài thập kỷ qua, chư kỳ phục hồi của rừng bị rút ngắn từ 15 năm xuống còn chưa đầy 3 năm.
Con số thống kê từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc FAO cho thấy Madagascar đã đánh mất tới 80% diện tích rừng nguyên sinh kể từ thập niên 1950.
Mất đi lớp phủ thực vật, địa hình đồi núi dốc đứng của vùng cao nguyên lập tức bị mưa bão bào mòn tàn khốc.
Hàng triệu tấn đất đỏ laterit bị rửa trôi mỗi năm xả thẳng xuống các dòng sông lớn như Besiboka và chảy ra canh đảo Mozambique.
Nhìn tư ảnh chụp vệ tinh của NASA, Madagascar như một vệt máu đỏ tươi đang loang ra biển lớn
một hòn đảo đang tự chảy đi nguồn thổ dưỡng sống còn của chính mình.
Sự suy thoái đất đai này lại tạo ra một vòng xoáy nghèo đói tàn nhẫn.
Khi lớp đất mùn mỡ trên các dườn núi bị bao mòn hết, năng suất cây trồng sụt giảm thảm hại, buộc người nông dân nghèo khổ
lại tiếp tục sách dựa tiến sâu vào các hẻm núi Chinyi và những giải rừng nguyên sinh cuối cùng để đốt sạch tìm đất mới.
Nhà điện lý học Jare Diamond từng phân tích trong các công trình nghiên cứu về sự sụp đổ của các văn minh.
Việc một xã hội vất kiệt tài nguyên của những tiểu vùng sinh thái nhạy cảm để đổi lấy nguồn sống ngắn hạn
sẽ luôn dẫn đến thảm họa nhân đạo không thể đào ngược.
Những hẻm núi đá vôi từng bảo tồn các loài sinh vật kỳ lạ nhất hành tinh trong hàng triệu năm.
Này chứng kiến sự bế tắc song song, sự diệt vong cận kề của một nguồn gen sinh học độc bản
và sự kiệt quệ của một nền kinh tế không thể tìm thấy lối thoát khỏi cái bẫy địa hình của chính mình.
Trái tim của Madagascar và cuộc chiến sinh tồn trên cao nguyên
Để hiểu được lý do vì sao một quốc gia sở hữu vô vàn tài nguyên thiên nhiên kỳ vĩ như Madagascar
lại rơi vào cái bẫy nghèo đói dài rằng, chúng ta phải thâm nhập vào trái tim của hòn đảo.
Vùng cao nguyên trung tâm House Plateau
Trái ngược với những giải rừng mưa rậm rạp ở phía đông hay các vùng đồng bằng khô hạn ở phía tây,
House Plateau là một pháo đài tự nhiên nằm ở độ cao từ 1.000 đến 1.500 mét so với mực nước biển.
Đây không chỉ là trung tâm điện lý mà còn là tâm điểm chính trị, văn hóa và kinh tế của Madagascar
nơi đặt thủ đô Antananarivo và là quê hương của tộc người Merina sắc tộc chiếm ưu thế trong lịch sử hòn đảo.
Tuy nhiên, địa hình cao nguyên hiểm trở này lại đặt ra một bài toán sinh tồn vô cùng hóc húa cho con người.
Với những dãy núi đồi lượn sóng bị xói mòn mạnh mẽ và các thùng lũng hẹp bị chia cắt,
House Plateau không sở hữu những đồng bằng phù sa, rộng lớn như đồng bằng sông Hồng hay sông Cửu Long.
Để sinh tồn, cư dân Austronesian khi xưa vào tộc người Merina sau này đã phải thực hiện một kỳ tích về cải tạo địa hình,
xẻ núi, biến những sườn đồi dốc đứng thành hàng ngàn ruộng bậc thang phức tạp để canh tác lúa nước.
Lúa gạo ở Madagascar không đơn thuần là một loại cây lương thực, mà là trọng tâm của toàn bộ đời sống xã hội.
Với mức tiêu thụ bình quân lên tới hơn 100kg một người một năm,
người Malagasy nằm trong nhóm những cộng đồng ăn nhiều lúa gạo nhất thế giới.
Nhưng canh tác lúa nước trên vùng đất Laterit đỏ nghèo dinh dưỡng của cao nguyên đòi hỏi một lượng lao động
khổng lồ và sự hợp tác cộng đồng chặt chẽ. Từ đó, thể chế xã hội Merina đã ra đời dựa trên nền tảng
quản trị tập quyền khắt khe để điều tiết nguồn nước và đất đai. Như nhà lịch sử học kinh tế Fernand Braudel từng lập luận,
chính văn hóa lúa nước và địa hình bị cô lập của House Plater đã thúc đẩy sự ra đời của Vương quốc Merina
vào cuối thế kỷ XVIII nhà nước Trung ương, tập quyền đầu tiên và duy nhất từng thống nhất được phần lớn hòn đảo.
Dù vậy, trái tim của Madagascar không chỉ đập theo nhịp điệu của cây lúa mà còn gắn liền với một biểu tượng văn hóa,
kinh tế sâu sắc khác, con bò Zebu. Đối với người dân Malagasy, đặc biệt là các bộ tộc ở vùng cao nguyên và phía nam
như Parra hay Antandroid, bào Zebu không chỉ là gia súc kéo cày hay nguồn cung cấp thực phẩm.
Bò Zebu là thức đo của sự giàu có, vị thế xã hội và là cầu nối tâm linh giữa người sống với tổ tiên.
Trong các nghi lễ tăng lễ quan trọng như lễ Phamadihana tục bốc mộ và nhảy múa cùng hai cốt người thân của người Merina hàng chục,
thậm chí hàng trăm con bò Zebu sẽ bị hiến tế để thể hiện lòng hiếu thảo và đảm bảo sự thịnh vượng cho gia tộc.
Sự tôn dung bò Zebu và mô hình nông nghiệp truyền thống tại House Plateau khi va chạm với thực tế bùng nổ dân số
và biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21 đã tạo ra một cuộc chiến sinh tồn đầy bi kịch.
Để tạo ra đồng cỏ chăn nuôi hàng triệu con bò Zebu và mở rộng diện tích trồng lúa,
người dân trên cao nguyên đã liên tục đốt rừng khiến lớp phủ thực vật tự nhiên bị chết hạ gần như hoàn toàn.
Theo dữ liệu từ Viện Tài nguyên Thế giới WRI, vùng House Plateau hiện là một trong những vùng bị xói mòn đất nghiêm trọng nhất trên toàn cầu.
Các trận mưa lớn mùa hè không còn được rừng hấp thụ mà đổ rôn xuống các thùng lũng tạo thành những vết nứt xói mòn khổng lồ gọi là lavaka,
tiếng Malagasy nghĩa là cái hố.
Hàng ngàn lavaka quét qua các sườn đồi cao nguyên mỗi năm, nuốt chửng những ruộng lúa bậc thang,
vùi lấp hạ tầng giao thông và cuốn trôi lớp đất mùn quý giá xuống biển.
Sự kiệt quệ của vùng cao nguyên trung tâm không chỉ đe dọa an ninh lương thực quốc gia mà còn thúc đẩy những làn sóng di cư nội địa đầy bế tắc.
Hàng ngàn nông dân mất đất từ House Plateau đã phải bỏ lại những thửa ruộng bậc thang của Tổ tiên để tràn xuống các đô thị hoặc tiến về dải bờ biển phía đông và phía bắc,
vô tình mang theo tập quán đốt rừng sang những hệ sinh thái còn xót lại.
Trái tim của Madagascar, nơi từng là cái nôi của văn minh lúa nước và quyền lực chính trị hòn đảo,
nay đang oàn mình chịu đựng những vết sẹo địa lý tàn khốc, một minh chứng cay đắng cho thấy khi con người vượt qua giới hạn chịu đựng của tự nhiên,
chính cái nôi nôi sống họ sẽ biến thành điểm tựa của sự suy tàn.
Tiếng gọi của đại dương và mạng lưới đảo núi lửa
Để hiểu trọn vẹn sự độc bản cũng như những bi kịch chiến lược của Madagascar,
chúng ta không thể chỉ dừng lại ở vùng cao nguyên trung tâm hay những hẻm núi đá vôi nội địa.
Chúng ta phải phóng tầm mắt ra, dài bờ biển, dài hơn 4.800 km và vùng biển bao quanh nơi cất lên tiếng gọi mãnh liệt của đại dương
và là nơi tọa lạc của một mạng lưới đảo núi lửa chiến lược.
Nếu nhìn vào bản đồ hàng hải quốc tế, Madagascar hiện lên như một con tàu sân bay bằng đá khổng lồ,
án ngữ kênh đào Mozambique, dài nước hẹp dài khoảng 1.600 km, ngăn cách hòn đảo với dài bờ biển Đông Phi.
Kênh đào này không chỉ là một rào cản sinh thái mà còn là một trong những hành lang hàng hải quan trọng và bận rộn nhất trên hành tinh.
Theo dữ liệu từ cơ quan thông tin năng lượng Mỹ EIA, kênh đào Mozambique là tuyến đường trung chuyển chiến lược
cho khoảng 30% lượng dầu mỏ vận chuyển bằng đường biển toàn cầu, kết nối các mỏ dầu lớn ở Vịnh Ba Tư
với các thị trường tiêu thụ ở châu Âu và châu Mỹ thông qua tuyến hải trình vòng qua Mũi Hảo Vọng.
Thêm vào đó, việc phát hiện ra các mỏ khí đốt tự nhiên hóa lỏng, chữ lượng khổng lồ với ước tính hơn 100.000 tỷ phút
khối tại bồn địa Rovuma thuộc vùng biển Mozambique và Bắc Madagascar
đã biến không gian đại dương này thành một tâm bão địa chính trị mới trong thế kỷ 21.
Tuy nhiên, mối liên kết giữa Madagascar và đại dương không chỉ là câu chuyện của năng lượng và tàu trở dầu trong kỷ nguyên hiện đại.
Nó được định hình bởi một mạng lưới các đảo và quần đảo núi lửa bao quanh
vốn đóng vai trò là những trạm trung chuyển thương mại và tiền đồn quân sự qua nhiều thế kỷ.
Phía Bắc Madagascar là quần đảo Comoros và đảo Mayotte thuộc Pháp,
phía Tây Bắc là đảo Nozibé, phía Đông là quần đảo Mascarene bao gồm Réunion thuộc Pháp và Mauritius,
cùng với chỗ 5 đảo Đá Vôi và núi lửa nhỏ dài rác trên kênh đảo Mozambique được gọi là quần đảo dài rác.
Mạng lưới đảo núi lửa này được hình thành từ các hoạt động vun trào địa chất thuộc điểm nóng
Đất đai phong hóa từ đá núi lửa giàu khoáng chất kết hợp với khí hậu nhiệt đới hải dương
đã biến các hòn đảo như Nozibé hay Mayotte thành những thiên đường hương liệu,
nơi trồng đinh hương, Ylang-Ylang và Vani nổi tiếng thế giới.
Nhưng quan trọng hơn, vị trí của chúng đã biến toàn bộ vùng biển này thành một mạng lưới giao thương sầm út
nhưng cũng đầy biến động trong lịch sử.
Nhà sử học Adam Tousey từng lập luận khi phân tích về sự đan xen giữa địa lý và các dòng chảy vốn toàn cầu,
các không gian biển hẹp như kênh đảo Mozambique luôn mang tính chất hai mặt.
Chúng vừa là chất dúc tác cho thương mại, vừa là cái bẫy thu hút sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài.
Trong thế kỷ 17 và 18, khi các thuyền buồn của các công ty đồng ấn Hà Lan, Anh và Pháp di chuyển qua lại giữa châu Âu và châu Á,
mạng lưới đảo ven biển Madagascar đã trở thành sao huyệt vô chính phủ cho các toán cướp biển quốc tế.
Những ngòn đảo nhỏ sở hữu các vịnh nước sâu kín gió như Nosy Boraha, đảo Sainte-Marie ở phía đông bắc Madagascar
đã trở thành căn cứ lý tưởng để hải tạc phục kích các tàu chở châu báu và gia vị.
Tiếng gọi của đại dương và sự hấp dẫn của mạng lưới đảo núi lửa bao quanh không mang lại sự thịnh vượng bền vững
cho cư dân bản địa Madagascar mà ngược lại đã châm ngòi cho một cuộc biến dạng về kinh tế và thể chế.
Khi người châu Âu nhận ra giá trị nông nghiệp của các đảo núi lửa, họ đã biến các vùng bờ biển Madagascar
và các đảo phụ cận thành những đồn điền độc canh khổng lồ.
Để cung cấp nhân công cho các đồn điền mía trên đảo Rio Neon hay Mauritius, người Pháp và người Anh
đã kích hoạt mạng lưới buôn bán nô lệ tàn khốc kéo dài hàng thập kỷ qua kênh đảo Mozambique,
các bộ tộc ven biển Madagascar như người Sakalava đã sử dụng hỏa khí do thương nhân phương Tây cung cấp
để mở các cuộc săn người vào sâu trong nội địa, bắt giữ hàng chục ngàn người Merina và Bessileo đem bán.
Sự can thiệp từ đại dương đã khắc sâu thêm sự chia rẽ vốn có giữa cư dân vùng biển và cư dân vùng cao nguyên
một vết thương tộc người chưa bao giờ lành lặn.
Mặc dù sở hữu vùng đặc quyền kinh tế EEZ rộng hơn 1,2 triệu km vuông đầy tiềm năng hải sản và khoáng sản đáy biển,
Madagascar lại thiếu hoàn toàn một lực lượng hải quân hoặc cảnh sát biển đủ mạnh để bảo vệ vùng biển của mình.
Theo một báo cáo gần đây của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc FAO,
mỗi năm Madagascar bị thất thoát hàng trăm triệu đô sau các tàu đánh bắt hải sản trái phép
từ nước ngoài tự do nạo vết tại nguyên tôm, cá ngừ và hải sâm tại vùng biển ven bờ.
Thêm vào đó, việc thiếu hụt hạ tầng càng biển hiện đại, ngoại trừ càng Tomasina đang trong tình trạng quá tải
đã khiến Madagascar không thể chuyển hóa vị trí chiến lược trên kênh đảo Mozambique thành lợi ích logistic,
đánh chấp nhận đứng nhìn các dòng chảy thương mại toàn cầu đi qua ngay trước mắt mà không thể thu hút nguồn lực.
Trai đáng địa chính trị còn kéo dài đến tận ngày nay qua tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo giải rác.
Dù Madagascar đã giành được độc lập từ năm 1960, Pháp vẫn tuyên bố và duy trì kiểm soát thực tế đối với các đảo giải rác này,
biến chúng thành các khu bảo tồn thiên nhiên và căn cứ quân sự tiền tiêu để kiểm soát kênh đảo Mozambique.
Việc mất đi chủ quyền đối với các hòn đảo Núi Lửa và San Ho bao quanh không chỉ tức đi của Madagascar,
quyền khai thác tài nguyên dầu khí và hải sản ở các vùng biển trông lấn,
mà còn tiếp tục biến hòn đảo này thành một thực thể bị bao vây và phụ thuộc vào sự chi phối của các lực lượng bên ngoài ngay trên không gian đại dương của chính mình.
Vết sẹo thực dân, bẫy địa chính trị và bài toán tương lai
nằm ở giao điểm giữa vết sẹo lịch sử thuộc địa, sự bất ổn địa chính trị trên Ấn Độ Dương và cấu trúc địa hình biệt lập,
Madagascar hôm nay đang bước vào một cuộc khủng hoảng sinh tồn toàn diện.
Không giống như bất kỳ quốc gia nào khác trên bản đồ thế giới,
cuộc khủng hoảng tại hòn đảo này không chỉ đơn thuần là vấn đề suy thoái kinh tế hay biến động chính trị ngắn hạn,
mà là sự sụp đổ đồng thời của cả ba trụ cột, hệ sinh thái tự nhiên, an ninh lương thực và năng lực thể chế quốc gia.
Bài toán đặt ra cho Madagascar không còn là làm thế nào để phát triển bứt phá,
mà là làm thế nào để sống sót trước những tác động khốc liệt của biến đổi khí hậu và cái bẫy nghèo đói mang tính hệ thống.
Một sự kiện lịch sử cốt lõi phản ánh rõ nết nhất bản chất của cuộc khủng hoảng này là đợt hạn hán kỷ lục
kéo dài từ năm 2020 đến 2022 tại vùng Grand Souk miền Nam khô hạn của Madagascar.
Đây được Liên Hợp Quốc đánh giá là đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong vòng 40 năm qua tại khu vực này,
nhưng điểm bất ngờ và tàn nhẫn nhất nằm ở chỗ.
Biến đổi khí hậu do các quốc gia công nghiệp phát triển gây ra lại đang đổ toàn bộ hậu quả nặng nề nhất
lên đầu những người dân nghèo nhất tại một hòn đảo có lượng phát thải khí nhà kính gần như bằng 0 trên bản đồ toàn cầu.
Dữ liệu thống kê từ Chương trình Lương thực Thế giới WFP tiết lộ một thực tế tàn khốc.
Hơn 1,3 triệu người dân ở miền Nam Madagascar đã rơi vào tình trạng nạn đói cấp tính, đặt ngưỡng IPC Phase 3 và Phase 4.
Hàng ngàn gia đình buộc phải ăn lá cây hoang dại, củ xương xương rồng và cắt bụi để duy trì sự sống qua ngày.
Hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra nạn đói, climate change induced famine tại Madagascar chính là minh chứng lịch sử cho sự bất bình đẳng khí hậu toàn cầu,
nơi những cộng đồng ít đóng góp nhất vào sự ấm lên của hành tinh, lại là những nạn nhân đầu tiên phải đối mặt với thảm họa sinh tồn.
Một báo cáo phân tích của Ngân hàng Thế giới, World Bank, tốc độ đô thị hóa tự phát tại thủ đô Antananarivo đã vượt qua 4,5% mỗi năm,
trong khi hệ thống hạ tầng xử lý chất thải, điện nước và nhà ở hoàn toàn dậm chân tại chỗ từ thời thuộc địa.
Kết quả là các khu ổ chuột, túp lều mọc lên như nấm, biến Antananarivo thành một đô thị quá tải nghiêm trọng
và tạo ra một lực lượng lao động phi chính thức khổng lồ, không có bảo hiểm xã hội, giáo dục hay thu nhập ổn định.
Bài toán đánh đổi tương lai của Madagascar trở nên bế tắc tốt cùng khi chính phủ phải lựa chọn giữa bảo tồn đa dạng sinh học phô giá,
và giải quyết cơn khát sinh tồn trước mắt của một dân số đang bùng nổ.
Madagascar hiện có tốc độ tăng trưởng dân số khoảng 2,6% mỗi năm,
đồng nghĩa với việc quy mô dân số sẽ tăng gấp đôi lên mức gần 60 triệu người vào năm 2050.
Để nuôi sống lượng miệng ăn khổng lồ này, trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp bị sói mòn,
chính quyền địa phương và người dân không còn con đường nào khác ngoài việc tiếp tục xâm hại các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia
bằng tập quán phá rừng Tavi.
Chẳng hạn, tại khu bảo tồn quốc gia Masoala hay Ranomafana,
các hoạt động khai thác gỗ thạch anh và vàng trái phép vẫn diễn ra công khai dưới sự bảo kê của các nhóm tội phạm có tổ chức và cán bộ tham nhũng.
Nhà kinh tế học Paul Collier từng lập luận trong tác phẩm The Bottom Billion tầng lớp đáy một tỷ người,
các quốc gia sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng có thể chỉ yếu kém rất dễ rơi vào lời nguyền tài nguyên và bẫy xung đột.
Tại Madagascar, việc chặt hạ và bán chui một cây gỗ thạch anh cổ thụ có thể mang lại lợi nhuận bằng cả năm làm nông nghiệp của một hộ gia đình.
Trong bối cảnh bần cung hóa, các mệnh lệnh bảo tồn sinh thái mang tính lý thuyết của quốc tế hoàn toàn bất lực trước áp lực kiếm ăn hàng ngày của người dân địa phương.
Sự bế tắc này càng trở nên trầm trọng khi nhìn vào nguồn lực tài chính của nhà nước.
Madagascar rơi vào một vòng xoáy luẩn quẩn, ngân sách thu thuế cực thấp chỉ chiếm khoảng 10% GDP thuộc hàng thấp nhất thế giới khiến chính phủ không thể đầu tư cho giáo dục, y tế hay năng lượng tái tạo.
Thiếu hụt năng lượng là một rào cản trí mạng khác, chỉ có khoảng 15% dân số Madagascar được tiếp cận với lưới điện quốc gia, và con số này ở khu vực nông thôn xuống dưới 5%.
Việc phụ thuộc 80% vào chất đốt từ gỗ và than củi để nấu nướng tiếp tục đẩy tốc độ tàn phá rừng nguyên sinh lên đỉnh điểm.
Để thoát khỏi chiếc bẫy sinh tồn này, Madagascar đang cố gắng thử nghiệm các cơ chế tài chính xanh quốc tế,
điển hình là chương trình đổi nợ lấy thiên nhiên và bán tín chỉ carbon từ việc bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, hiệu quả của các dự án này vẫn bị nghi ngờ do năng lực quản trị minh bạch của bộ máy nhà nước còn quá thấp.
Bài toán đánh đổi tương lai của lục địa thứ 8 vẫn chưa có lời giải thỏa đáng.
Làm thế nào để gìn giữ một di sản thiên nhiên độc bản của nhân loại
khi chính những con người sống trên mảnh đất đó đang phải vật lộn từng ngày để không bị chết đói?
Nhìn lại toàn bộ hành trình lịch sử và địa lý của Madagascar, chúng ta thấy một bức tranh vừa kỳ vĩ vừa bi kịch.
Hòn đảo kỳ lạ nhất thế giới, nơi từng là một thiên đường tiến hóa khép kín với 90% sinh vật độc bản này
lại trở thành tấm gương phản chiếu rõ nét nhất những đứt gãy của thế giới hiện đại.
Sự cô lập địa chất hàng chục triệu năm tạo ra sự phong phú về sinh học
nhưng lại gieo mầm cho sự phân mảnh về địa hình và nhân khẩu.
Vị trí địa lý bên lề các luồng thương mại cổ đại đã tức đi cơ hội tích lũy vốn
trước khi hòn đảo bị đẩy vào mô hình khai thác kiệt quệ của chủ nghĩa thực dân
và chiếc bẫy địa chính trị, nợ nần thời hậu thuộc địa.
Vậy thì sao? Câu chuyện của Madagascar không chỉ là câu chuyện riêng của một đảo quốc xa xôi ngoài đại dương,
đó là lời cảnh báo sớm cho toàn bộ hành tinh chúng ta về giới hạn sinh thái
và sự mong manh của sự sống khi sự cân bằng tự nhiên bị tàn phá.
Madagascar chính là một mô hình trái đất thu nhỏ, một hòn đảo cô độc giữa vũ trụ,
nơi tài nguyên là hữu hạn nhưng lòng tham và áp lực dân số lại tăng trưởng không ngừng.
Khi những cánh rừng cuối cùng của Madagascar ngã xuống và các loài sinh vật vô giá vĩnh viễn biến mất,
nhân loại không chỉ mất đi một thư viện di truyền kỳ diệu,
mà còn mất đi một lá chắn sinh thái quan trọng trong hệ thống khí hậu toàn cầu.
Madagascar sẽ tiếp tục trôi giạt như một nạn nhân bị thụ động tri phối bởi các cuộc khủng hoảng toàn cầu
hay sẽ tìm được con đường tự chủ để biến di sản thiên nhiên vô giá thành động lực phát triển bền vững.
Lời giải không chỉ nằm ở bản lĩnh của người dân Malagasy mà còn nằm ở trách nhiệm của toàn thế giới đối với mảnh đất độc bản này.
Cảm ơn các bạn đã theo dõi.
