Độc quyềnKEVIN WARSH VÀ THẾ CỜ TIỀN TỆ KHÔNG LỐI THOÁT

Sổ Cái Vô Hình
312 người theo dõi
390 Lượt xem video·14 thg 9, 2026
1:14 I. KEVIN WARSH ĐÃ THỪA KẾ MỘT CUỘC CHIẾN TIỀN TỆ KHÔNG THỂ THẮNG NHƯ THẾ NÀO
5:28 II. SỰ THẬT TIN ĐỒN "NƯỚC MỸ SẮP CẠN KIỆT DẦU MỎ SAU 14 NGÀY"
10:12 III. CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI NGUYÊN TRỌNG YẾU
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chào mừng quý vị quay trở lại với Sổ Cái Vô Hình.
Thưa quý vị, bản tin của chúng tôi ngày hôm nay sẽ tập trung vào điểm vẫy đồng thời
của hệ thống tài chính toàn cầu, sự phân kỳ sâu sắc giữa thị trường tài sản danh nhĩa
và giới hạn vật lý của chuỗi cung ứng thực tế.
Đầu tiên, là chính sách tiền tệ phi truyền thống tích lũy suốt gần 2 thập kỷ
đã đẩy bảng cân đối kế toán của Cục Sự Trữ Liên bang Mỹ
duy trì ở mức trên 6,7 nghìn tỷ đô, tài trợ cho cối nợ công Liên bang Quỳnh Toa
lên tới 40,1 nghìn tỷ đô và tước bỏ cơ chế định giá gửi do thị trường.
Thứ hai, căng thẳng địa chính trị tại Albion Hormuz đã thử thách giới hạn vật lý
của kho dự trữ dồn mòn chiến lược Hoa Kỳ, khi mức tôn kho thực tế đã giảm sâu
về mức 286,6 triệu đồng, mốc thấp nhất kể từ tháng 11 năm 1982.
Và cuối cùng, sự tác nghẽm của chuỗi cung ứng Asics Sulfuric Toàn cầu
đang khơi bày lỗ hồng thiếu hụt cơ cấu trong ngành nhiệm liệu hạt nhân,
nơi mà công suất khai thác 155 triệu vào mỗi năm hoàn toàn bất lực
trước nhu cầu đốt 185 triệu vào của các loại phản ứng.
Và không để quý vị phải đợi lâu, ngay sau đây sẽ là những nội dung chi tiết.
Kính mời quý vị cùng theo dõi!
Cai Bình Góc đã thừa kế một cuộc chiến tiền tệ không thể thắng như thế nào?
Bước ngoặt căn bản của cấu trúc tiền tệ hiện đại bắt đầu vào cuối năm 2008,
thời điểm mà Chủ tịch Fed khi đó là Ben Bernanke quyết định đưa chính sách tiền tệ
vượt qua danh dưới truyền thống.
Khi đối mặt với sự sụp đổ của Lehman Brothers và sự đóng băng hoàn toàn
của hệ thống thành khoản liên ngân hàng, Fed đã hạ lãi suất điều hành xuống mức sàn
từ 0 đến 0,25%.
Khi biên đội điều chỉnh lãi suất ngắn hạn cạn kiệt,
thì Ngân hàng Trung ương đã kích hoạt chương trình nới lỏng lĩnh lược,
một biện pháp cam thiệp trực tiếp quy mô lớn chưa từng có tiền lệ.
Cơ chế này vận hành bằng việc tạo lập dự trữ ngân hàng mới để mua vào lượng lớn
trái phiếu kho bạc dài hạn và chứng khoán, đảm bảo bằng thế chấp, bằng tính độc hại.
Để hình dung quy mô cam thiệp, hãy quan sát bản cân đối kế toán của Fed qua các thời kỷ.
Trước cuộc khủng hoảng vào năm 2008,
tổng tài sản của Fed chỉ ở mức khiêm tốn khoảng 800 tỷ đô,
con số tích nữ y quan gần một thế kỷ vận hành của Ngân hàng Trung ương.
Ngay trong đợt cam thiệp khẩn cấp đầu tiên, bản cân đối kế toán đã tăng hơn gấp đôi,
nhanh chóng quyệt 2,1 nghìn tỷ đô.
Sau hơn một thập kỷ lặp lại các chương trình mua trái phiếu và cam thiệp quy mô lớn trong đại dịch,
quy mô bản cân đối kế toán đã mở rộng lên mức đỉnh lịch sử gần 9.000 tỷ đô.
Dù đã thực hiện các đợt thu hẹp, con số này hiện vẫn duy trì ở mức trên 6,7 nghìn tỷ đô.
Tiến trùng trong vòng chưa đầy 20 năm, tổng quy mô tài sản của Cục Sự trữ Liên bang Mỹ đã mở rộng hơn 700%.
Sự banh chướng bản cân đối kế toán Ngân hàng Trung ương đã chiệt tiêu hoàn toàn cơ chế tự cân bằng
của thị trường tài khóa.
Vào cuối năm 2008, nợ công của Mỹ đứng ở mức 10.000 tỷ đô.
Trong điều kiện thị trường tự do, việc chính phủ phát hành lượng trái phiếu khổng lồ sẽ khiến cho lợi xuất
trái phiếu tăng vọt để bù đắc tùy do tiến dụng và áp lực lãng phát, buộc kỷ luật tài khóa phải được kích hoạt.
Tuy nhiên, việc phát đóng vai trò là người mua nợ đảm bảo cuối cùng đã kiêm giữ lợi xuất trái phiếu
ở mức thấp giả tạo, cước bỏ áp lực chi phí vai vốn đối với Quốc hội Mỹ.
Thể quả là khối nợ quốc gia của Mỹ đã phình to từ mốc 10.000 tỷ đô lên mức kỷ lục 40,1 nghìn tỷ đô như hiện nay.
Thể luyện trực tiếp của sự kết hợp giữa bản cân đối 6,7 nghìn tỷ và khối nợ 40,1 nghìn tỷ đô
là sự bóp méo hoàn toàn tín hiệu giá cả.
Dòng thanh khoản vượt mức không lập tức phản ánh vào trí số giá tiêu dùng mà tích tụ bên trong hệ thống
ngân hàng và thị trường vốn sơ cấp.
Lợi xuất phí rủi ro bị đe nén về sắc mức không đã ép các tịnh chế tài chính dẫn sâu vào đường cong rủi ro.
Vốn rè tràn ngập vào thị trường cổ phiếu, bất động sản thương mại, nhà ở dân cư,
vốn cổ phần tư nhân và các tài sản đầu cơ như bitcoin.
Lãi xuất giánh nghĩa thấp duy trì sự tồn tại của các doanh nghiệp sắc sống,
ngăn chặn quá trình thanh lọc phá sản tự nhiên
và dẫn đến sự phân bổ sai lệch nguồn lực vốn trên toàn bộ nền kinh tế.
Tân Chủ tịch Pháp là Kevin Goss hiện đang tiếp quản một vị thế tiền tệ mang tính tiến thoái lưỡng nàn.
Một mặt, Kevin Goss nhận thức rất rõ sự rủi ro của việc duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức
và duy trì lập trường khẳng cự việc cắt giảm lãi xuất khi áp lược lạm phát giá tiêu dùng vẫn duy trì mức cao.
Nhưng mặt khác, hệ thống tài chính đã bị đòn bày hóa ở mức độ cực đoan.
Nếu nhiều khách hoàn toàn rút khỏi thị trường trái phiếu và để lợi xuất vận hành theo quy luật thị trường tự do,
thì chi phí nghĩa phụ nợ của chính phủ liên bang sẽ lập tức ngút trưởng ngành sách quốc gia,
kích hoạt lằn sóng vỡ nợ doanh nghiệp và tạo ra cú sốc giảm phát trên thị trường tài sản.
Trong ngắn hạn, Bộ trưởng Tài chính Scott Pesson buộc phải sử dụng các biện pháp cam thiệt kỹ thuật giám tiếp,
cụ thể là kế hoạch tăng gấp đôi hoặc gấp 3 quy mô mua lại trái phiếu chính phủ dài hạn nhằm kiểm soát áp lực thanh khoản.
Tuy nhiên, có hỏi cốt lõi đặt ra là liệu Fed có thể duy trì lập trường thắt chặt tiền tệ nếu như thị trường chứng khoán giảm 30% hay không?
Thực tế, cấu trúc cho thấy, để duy trì khả năng thanh toán của khoản nợ công 40,1 nghìn tỷ đô la
và bảo toàn tính thanh khoản của hệ thống gần hàng,
thì Cục Sự trữ Liên bang Mỹ bắt buộc phải sẵn sàng hành xử như một người mua cuối cùng.
Cái giá phải trả dài hạn cho cơ chế này chính là sự xói hoan lũy kế sức mua của đồng đô la,
khi mỗi đồng tiền mới được bơm ra đều lằng loãng giá trị thực của dòng tiền tệ đang liêu hành.
Sự thật tin đồn nước Mỹ sắp cạn kiệt dồ mò sau 14 ngày
Các cuộc tranh luận về tính an toàn năng lượng của Hoa Kỳ gần đây xuất hiện thông tin cho rằng,
nền kinh tế này chỉ còn khoảng 14 ngày tiêu thụ dồng mò.
Các tính này dựa trên việc lấy sung lượng 286,6 triệu thùng hiện có trong kho dự trữ dồng mò chiến lược,
chia cho mức tiêu thụ nội địa khoảng 20,7 triệu thùng mỗi ngày.
Tuy nhiên, mô hình tính toán cờ học này hoàn toàn sai lệch về mặt cấu trúc vận hành của mạng lưới năng lượng.
Con số 20,7 triệu thùng đại diện cho tổng sản phẩm dòng mò hoàn chỉnh được cung ứng bao gồm xăng,
dầu DSN và nhiên liệu phản lượng, trong khi SBR hoàn toàn là dầu thô trượt qua tình chế.
Quan trọng hơn, SBR chỉ đóng vai trò lớp bảo hiểm sủi so biên,
không phải là nguồn cấp năng lượng duy nhất của toàn bộ hệ thống.
Báo cáo chẳng thấy dầu mò hàng tuần mới nhất đã cung cấp các tối liệu thực tế
về khả năng tự chủ của ngành năng lượng Mỹ.
Hiện tại, sản lượng khai thác dầu thô nội địa của Mỹ đã sắp xỉ 13,9 triệu thùng mỗi ngày.
Lượng tồn kho dầu thô thương mại không tính SBR đang ở mức khoảng 424,5 triệu thùng.
Đồng thời, hệ thống nhà máy lọc dầu đang xử lý khoảng 17,5 triệu thùng dầu thô mỗi ngày.
Ngoài nguồn cung nội địa, Mỹ duy trì lượng nhập khẩu khoảng 6,7 triệu thùng dầu thô mỗi ngày,
bên cạnh việc xuất khẩu hàng triệu thùng dầu thô và sản phẩm lọc dầu ra thị trường quốc tế.
Lịch sử hình thành của SBR bắt nguồn từ cuộc cấm vận dầu mò Ả Rập giai đoạn năm 1973-1974,
được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1975 nhằm giảm thiểu tác động từ các cú sốc giãn đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Kho dầu trữ này được lưu trữ trong các hàng muối ngầm dọc theo bờ biển Vịnh-Mexico,
với sức chứa thiết kế đạt 714 triệu thùng.
Tính đến thời điểm cuối năm 2020, kho SBR từng lưu trữ tới 638 triệu thùng dầu thô.
Tuy nhiên, tính đến ngày 28 tháng 8 năm nay, chữ lượng SBR đã xuất giảm xuống mức 286,6 triệu thùng,
mức thấp nhất được ghi nhận kể từ tháng 11 năm 1982.
Sự xuất giảm liên tục này xuất phát từ 2 chiến dịch xả kho quy mô lớn.
Thứ nhất là đợt giải phóng kho năm 2022, sau khi xung đột giữa Nga và Ukraine,
đầy giá dầu Thorpe Grand và WTI vượt ngưỡng 100 đô la Mỹ một thùng.
Chính quyền cựu Tổng thống Joe Biden khi đó đã xả 180 triệu thùng với tốc độ khoảng 1 triệu thùng mỗi ngày trong vòng 6 tháng.
Cơ quan thông tin năng lượng EIA xác nhận biện pháp này đã gia tăng cung toàn cầu trong nửa cuối năm 2022,
trong khi Bộ Tài chính Mỹ ước tính đợt mở kho cối hợp này giúp hạ giá sang bản lề từ 17-42 cent mỗi cá lần.
Quá trình mua bù sau đó mới chỉ đưa lượng tổng kho hồi phục với mức khoảng 413 triệu thùng vào cuối năm 2025.
Thứ hai là đợt can thiệp trong năm nay khi chiến tranh bùng phát tại khu vực Trung Đông,
làm gián đoạn nghiêm trọng dòng chảy dầu mỏ vài ò biển Hormuz.
Vào tháng 3, 32 quốc gia thành viên của Cơ quan Năng lượng Quốc tế EIA đã phê duyệt gói can thiệp khẩn cấp 400 triệu thùng,
đợt xuất kho khối hợp lớn nhất vị trí của tổ chức này, trong đó Mỹ can kết cung ứng 172 triệu thùng từ ESPIA.
Dữ liệu từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế ghi nhận, lượng dự trữ ESPIA đã lao dốc từ 413,3 triệu thùng
vào ngày 3 tháng 4 xuống còn 286,6 triệu thùng vào ngày 28 tháng 8,
tương đương với mức xuất dòng gần 127 triệu thùng trong vòng chưa đầy 5 tháng.
Điểm khác biệt quan trọng của chương trình can thiệp hiện tại nằm ở cấu trúc pháp lý.
Đây không phải là nghiệp vụ bán đứt mà là hợp đồng trao đổi.
Các tập đoàn dầu khí tiếp nhận dầu thô từ ESPIA ở thời điểm hiện tại và chịu nghĩa vụ
hàn trả lượng dầu thô có chất lượng tương đương trong tương lai, cộng thêm một khoản vĩ bảo hiểm bằng hiện vật.
Bản cân đổi thanh khoản năng lượng 4 tuần gần nhất đã cho thấy tôn kho thương mại của Mỹ
tăng bình quân khoảng 624.000 thùng mỗi ngày, trong khi ESPIA giảm khoảng 650.000 thùng mỗi ngày.
Hai thông số này gần như chia tiêu lẫn nhau giữ tổng lượng tôn kho nội địa ở trạng thái ổn định.
Các động kinh tế của mức xả 650.000 thùng mỗi ngày tương đương cho đầy 4% công suất đầu vào
của các nhà máy lọc dầu nội địa.
Tuy nhiên, dữ do cấu trúc sẽ phát sinh khi chương trình can thiệp chấm dứt.
Khi dòng cung bổ sung này cạn kiệt, thị trường vật chất sẽ phải tự tái cân bằng
thông qua việc tăng sản lượng nội địa, mở rộng nhập khẩu, cắt giảm xuất khẩu,
giúp tôn kho thương mại hoặc hạ công suất lọc dầu.
Hơn nữa, nghĩa vụ trả nợ dầu từ khu vực thương mại về lại kho sự chữ nhà nước trong tương lai
sẽ tạo ra một lực cầu mua bổ sung mang tính cững bức.
Nếu thị trường năng lượng toàn cầu tiếp tục duy trì trạng thái thắt chặt,
thì quá trình tái tích thủy SVR sẽ trở thành lực đẩy gia tăng áp lực giá dầu trong dài hạn.
Cuộc khủng hoảng tài nguyên trọng yếu
Một minh chứng rõ nét cho tình trạng cạn kiệt nguồn lực thực tế của nền kinh tế toàn cầu
là sự cố gián đoàn nguồn cung tại mỏ Seagulls thuộc tỉnh Saskatchewan, Canada,
do tập đoàn Cameco vận hành vào tháng 7 vừa qua.
Việc Seagulls mỏ khai thác uranium lớn nhất hành tinh phải ngừng hoạt động trong 2 tuần,
không bắt quân từ địa chất thân quạng mà phát sinh từ sự cố hư hỏng cơ học
tại nhà máy sản xuất axis sulfuric nội bộ,
loại hóa chất trung gian mang tính sống còn để chiếp tách và chế biến quạng uranium.
Trong điều kiện chối cùng ứng thông thường,
Cameco có thể dễ dàng giải quyết vấn đề bằng cách mua axis sulfuric thay thế từ thị trường mở.
Tuy nhiên, địa tính thanh khoản của thị trường hóa chất này hiện đang bị đóng băng
bởi các biến số địa chính trị.
Khoảng 50% lượng lưu hình vận chuyển bằng đường biển của thế giới đi qua eo Việt Hormuz,
và kể từ khi xung đột nổ ra, các chuyến tàu hàng qua đây gần như đã bị tên miệt hoàn toàn.
Cùng lúc đó, Trung Quốc, quốc gia xuất khẩu axis sulfuric lớn nhất thế giới,
đã xích chặt việc cấp phép xuất khẩu từ tháng 5 để đảm bảo an ninh nguồn cung hóa chất nội địa.
Sự gián toạn kép này đã đẩy một nhà máy khai thác khoáng sản chiến lược hàng đầu
vào tình trạng thiếu nguyên liệu cục bộ.
Khoảng dường 2 tuần tại Sigalex đã phản ánh sự bất cân sứng nghiêm trọng của thị trường nhiên liệu hạt nhân.
Cánh cần cung cầu cơ bản hiện tại thể hiện rõ sự thâm hồn.
Tổng sản lượng khai thác của các mỏ quặng uranium trên toàn cầu chỉ đạt khoảng 155 triệu pound mỗi năm,
trong khi tổng nhu cầu tiêu thụ của các lò phản ứng hạt nhân thương mại lên tới 185 triệu pound mỗi năm.
Mức thiếu hụt cơ học 30 triệu pound hàng năm này trong suốt nhiều năm qua đã được vô đắp
bằng các khói dự trữ chiến lược đích lũy từ nhiều thập kỷ trước.
Tuy nhiên, nguồn dự trữ tồn kho nệm này hiện đã bị khai thác cạn kiệt,
của các nhà máy điện hạt nhân phải phụ thuộc hoàn toàn vào sản lượng khai thác thực tế hàng năm.
Các công ty điện lực hạt nhân thương quản lý rủi ro nhân liệu thông qua các hợp đồng kỳ hạng dài hạn.
Một nhà máy điện hạt nhân công suất 2 GW có thể xác định chính xác định mức uranium cần nạp
theo chủ kỳ vận hành.
Dựa trên các hợp đồng hiện hành, các nhà máy điện hạt nhân của Mỹ có thể tạm thời đáp ứng đủ nhu cầu
nhân liệu trong năm nay.
Tuy nhiên, khoảng trống thiếu hụt sẽ mở rộng theo cấp số nhân trong các chủ kỳ tới.
Dữ liệu dự báo chỉ ra rằng, đến năm 2030, các công ty điện hạt nhân của Mỹ sẽ thiếu hụt 40% lượng uranium cần thiết.
Và cho đến năm 2033, mức thiếu hụt nhân liệu theo kế hoạch sẽ lên tới 91%,
đồng nghĩa với việc gần như toàn bộ nhu cầu vận hành không có nguồn cung bảo đảm.
Về phía cung, phản ứng thị trường không vận hành theo lý thuyết kinh tế học cổ điển.
Kazatomprom, tập đoàn khai thác quặng uranium lớn nhất thế giới có trụ sở tại Kazakhstan,
đã chủ động đưa ra quyết định cắt giảm sản lượng khai thác thay vì mở rộng công suất.
Bà lãnh đạo của tập đoàn này đánh giá, mức giá thị trường rong ngay hiện tại
chưa phản ánh đúng giá trị thành hiếm của tài nguyên trong tương lai.
Do đó, việc kiềm giữ loại tài nguyên này dưới lòng đất mang lại lợi ích tài chính lớn hơn
việc bán ra ở mặt bằng giá chưa được tối ưu hóa.
Thái thức sẽ càng trở nên phức tạp do độ trễ đầu tư vốn kéo dài của ngành khai khoáng.
Dự án RockOne của công ty Nation Energy tại Saskatchewan là một ví dụ điển hình.
Mỏ khoảng được phát hiện từ năm 2014, nhưng tới tháng 3 năm nay mới hoàn tất giấy phép xây dựng
và bắt đầu phải công vào tháng 8.
Với thời điểm dự kiến khai thác mẻ khoảng thương mại đầu tiên là vào năm 2030,
tổng thời gian kéo dài 16 năm từ lúc phát hiện mỏ cho đến khi đưa vào vận hành
là thước đo tiêu chuẩn của ngành khai thác tài nguyên thực.
Các quy trình khảo sát địa chất, cấp phép môi trường và huy động vốn rủi ro không thể rút ngắn trong ngắn hạn.
Và sự định trệ của nguồn cung diễn ra trong bối cảnh nhu cầu phụ tải điện toàn cầu đang bùng nổ,
thúc đẩy bởi sự mở rộng ồ ạt của mạng lưới Trung tâm Dữ liệu Chí tuệ Nhân tạo và Tiến trình Điện Khí hóa.
Thì nhu cầu công suất nền tăng vọt trong khi nguồn cung nhiên liệu sở cấp không khí thích ứng,
áp lực lạm phát chi phí sẽ đẩy giá thành năng lượng lên cao trên toàn chuỗi giá trị,
từ giá khí đốt tự nhiên, than đá cho đến nhiệt liệu hạt nhân.
Đáng chú ý, ngay cả nhiệt điện than, nguồn năng lượng từng bị cắt giảm đầu tư mạnh mẽ
do các cam kết khí hậu, hiện cũng được cơ quan năng lượng quốc tế dự báo sẽ tăng trưởng sản lượng phát điện
trong năm nay nhằm bù đắp cho sự mất cân đối của hệ thống điện.
Chủ kỳ tiễu hụt đầu tư kéo dài vào các tài sản hạ tầng thực tế từ công suất mỏ,
máy đóng tàu và đội tàu trở hàng rời đang tạo ra sự tái định giá sâu sắc
đối với các doanh nghiệp kiểm soát tài nguyên chiến lược.
Khi các chủ kỳ định giá danh nghĩa chạm chần giấy hạn tiền tệ,
sông vốn thị trường tất yếu sẽ phải định hướng lại vào các phân phúc sở hữu tài sản hữu hình,
có rào cản gia nhập cao và năng lực định giá vượt trội trong nền kinh tế thực.
Quý vị vừa theo dõi bản tin Sổ Cái Vô Hình, nơi dữ liệu được soi chiếu biến thành trí thức
và trí thức trở thành lợi thế dẫn lối cho những ai biết nhìn xa hơn những con số.
Hãy chia sẻ trong phần bình luận chủ đề hoặc là câu chuyện mà bạn muốn chúng tôi khám phá
trong các số tới, vì chính góc nhìn của bạn sẽ tạo nên giá trị của kênh.
Nếu bản tin ngày hôm nay mang đến cho bạn một góc nhìn mới về thế giới tài chính,
thì đừng quên nhấn like, share và subscribe để không bỏ lỡ những điều
đang triển động bên dưới những con số cường trường lạc im.
Sổ Cái Vô Hình, nơi những con số biết nói và chúng tôi khiến chúng phải nói về sự thật.
