DĨ PHÁP VI SƯ - Phần 3 | Tu luyện Chính Pháp | Khám Phá Sinh Mệnh

Khám Phá Sinh Mệnh Radio
2.2K người theo dõi
6.3K Lượt xem video·15 thg 9, 2026
Nguồn bài: https://vi.minghui.org/news/131893-di-phap-vi-su-3.html
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIBài viết phân tích sự khác biệt giữa tôn chỉ \"dĩ pháp vi sư\" (lấy Pháp làm thầy) trong Pháp Luân Đại Pháp và \"dĩ giới vi sư\" (lấy Giới làm thầy) trong Phật giáo. Nội dung nhấn mạnh việc tu luyện dựa trên nhận thức và nguyên lý giúp hành giả thăng tiến tự nhiên, buông bỏ chấp trước ngay trong đời sống thường nhật mà không cần rời bỏ thế gian hay tuân thủ các giới luật cứng nhắc.
Tu luyện chính pháp, dĩ pháp vi sư, phần 3, bài viết của Thiên Đức, trích từ nguồn minh Huệ Nết.
Tiếp theo phần 1, phần 2.
Để chia sẻ rõ hơn nhận thức của tôi về tôn chỉ dĩ pháp vi sư,
tôi xin phép dùng cách so sánh với tôn chỉ của một môn tu luyện khác,
thông qua đó nêu bật ra được những gì cần biểu đạt.
Dĩ pháp vi sư so với dĩ giới vi sư
Tu luyện trong Phật giáo là khác rất nhiều nếu so với tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.
Trong đó chỗ khác biệt rất nổi bật là ở phương diện tôn chỉ nền tảng này.
Thứ nhất, năm đó khi Phật Thích Ca Môn Ni sắp sửa nhập Niết Bàn,
các đồ đề hỏi Ngài rằng, sau này khi thế tôn không còn tài thế thì thế nào?
Đức Phật trả lời, hãy lấy giới làm thầy, dĩ giới vi sư.
Tu luyện giới định Huệ chính là như vậy,
ai mà đổi đi thì không còn là Pháp Tu mà Phật Thích Ca chuyển ra những năm đó.
Tất nhiên, trong Phật giáo cũng yêu cầu phải hiểu pháp lý,
nhưng mà tôn chỉ nền tảng của họ là dĩ giới vi sư.
Có giới thì mới có định, có giới có định thì mới có Huệ.
Tức là, chỉ Huệ là đạt được thông qua phương thức này,
lộ tuyến nhận thức là khác với Pháp Luân Đại Pháp.
Nói cách khác, các trạng thái tham ngụ của họ là khác.
Thứ hai, đã vậy thì pháp lý của họ cũng là khác.
Nói nôm na là, khi soạn giáo trình đào tạo 20 năm, 30 năm,
từ bé chưa biết chữ cho đến thành tiến sĩ,
nếu bộ giáo dục quyết định tôn chỉ học tập sẽ là dĩ giới vi sư,
thế thì toàn bộ giáo trình ấy sẽ được soạn theo cách khác.
Các bước để cao nhận thức, cảnh giới tư tưởng cũng khác,
phân chia các chủ đề cho năm học, và để thi các năm cũng khác.
Bộ giáo trình cho phương thức đào tạo kiểu dĩ giới vi sư,
hiện nhiên là khác với bộ giáo trình cho phương thức đào tạo kiểu dĩ pháp vi sư.
Đương nhiên, pháp được giảng trong pháp luân đại pháp là pháp của vũ trụ,
cho nên bản thân việc so sánh đã là không thích đáng, vốn dĩ không so sánh được.
Hơn nữa, khi một bậc giác giả giảng pháp ra,
thì có vô lường vô số nhân tố mà kẻ tầm thường như tôi không biết.
Do đó tại đây, tôi chỉ làm miêu tả theo góc độ tôn chỉ tu luyện mà thôi,
và cũng chỉ là để làm sáng tỏ cái ý của bài viết này mà thôi.
Thứ ba, một khác biệt rõ nhất có thể thấy được giữa hai bộ giáo trình này
chính là Phật Thích Ca cố ý không giảng ra một số chủ đề
liên quan đến nguồn gốc xuất xứ hay những gì mà ngài cho là quá xa xôi.
Kinh điển Phật giáo kể rằng,
có người hỏi Đức Phật những thứ kiểu như nguồn gốc nhân loại là gì,
ý tứ là phải hiểu được những cái đó,
thì người đó mới quan tâm tu luyện theo Phật Thích Ca.
Người đó tuy hướng mộ Phật Thích Ca,
nhưng vì chưa rõ những thứ này cho nên còn vướng mắt trong tâm và chưa quyết định theo.
Phật Thích Ca trả lời rằng,
vì như có người kia bị trúng tên tẩm thuốc độc,
thay thuốc đến chuẩn bị nhổ mũi tên ra và chứa trị,
thì người kia bèn nói,
khoan đã nào, hãy cho tôi biết mũi tên này do ai bắn,
bắn là mục đích gì, độc chất là gì,
rồi sau đó hẵng rút.
Thay thuốc bèn bảo rằng,
giờ cứ nhổ mũi tên ra thôi,
chứ tìm hiểu xong những thứ đó,
thì đã muộn mất rồi.
Phật giáo chính là không giảng ra những chủ đề này,
nhưng mà phương cách tu luyện của Pháp Luân Đại Pháp là khác.
Không chỉ nguồn gốc nhân loại,
mà cả nguồn gốc của tam giới
và nhiều điều lớn hơn cũng được giảng ra.
Không chỉ nhân loại và tam giới của vũ trụ cũ,
mà nguồn gốc xuất xứ và ý nghĩa tồn tại
của nhân loại và tam giới trong vũ trụ mới.
Quan hệ của nhân loại và tam giới
với các tầng thứ cao hơn
thì cũng đã được giảng ra rồi.
Sư phụ còn giảng rằng,
đến thời Pháp chính nhân gian
thì còn giảng chi tiết hơn nữa.
Nhìn thoáng thì thấy Phật giáo
nói rất nhiều về tam giới và luân hồi,
kinh sách giáo điển rất nhiều.
Nhưng nếu so với giáo lý của Đại Pháp,
thì điều Phật giáo giảng chỉ là bức tranh rất nhỏ hẹp.
Ở đó chủ yếu chỉ là miêu tả trạng thái,
thời điểm lúc bấy giờ mà thôi.
Trong khi Đại Pháp chính là giảng ra nguồn gốc,
quá trình biến hóa cũng như nguyên lý của sự biến hóa
và cả sau này rồi sẽ thế nào.
Có thể thấy là hoàn toàn khác biệt.
Phật thích ca giảng giới, định, huệ,
tôn trị ở giới.
Có giới rồi có định,
có giới có định rồi sau đó mới có huệ.
Người tu sẽ biết được những gì đáng được biết
thông qua quá trình này.
Toàn bộ hệ thống pháp lý
cũng là xoay quanh các bước tham ngộ như thế.
Giảng ra quá nhiều những thứ xa xôi
thì không cần thiết.
Thậm chí còn bị coi là sẽ khiến người tu mất phương hướng.
Cũng có thể còn lý do ẩn dấu
là vì thiên cơ chưa được phép tiết lộ vào lúc này.
Nhưng dù thế nào đi nữa,
tu luyện Đại Pháp hoàn toàn không như vậy.
Tu luyện Đại Pháp chúng ta,
người tu cần biết đạt con đường tu luyện của mình
trong bức tranh rộng lớn hơn.
Người tu cần nhìn ra con đường tu luyện của mình
và đi thành con đường tu luyện của mình
trên cơ sở hiểu biết về vũ trụ, xã hội và nhân loại.
Toàn bộ quá trình nhận thức là theo một lộ tuyến khác,
ngay từ những bước đi đầu tiên đã là khác.
Nếu học viên nào lầm tưởng rằng
những phần giảng pháp về nguồn gốc, cấu tạo và biến hóa của vũ trụ,
xã hội và con người,
cũng như thiên tưởng biến hóa trên hình thế rộng lớn
là những thứ xa vời và không liên quan nhiều đến tu luyện của mình,
thế thì đó là sai lầm và thiếu sót rất lớn.
Nếu nghĩ rằng ta tu là tu tâm, bỏ các tâm chấp trước là được rồi,
những cái đó xa vời quá và không liên quan đến ta lắm,
thế thì đó là chưa hiểu cách tu của Đại Pháp.
Bên Phật giáo, họ có thể coi những thứ đó là xa vời viện vong
và chủ trương của họ là vậy,
còn chúng ta không như vậy.
Nếu mang chủ trương đó sang pháp luân Đại Pháp
thì sẽ là can nhiễu rất lớn.
Chúng ta là tu theo tôn chỉ, dĩ pháp vi sư,
không phải là dĩ giới vi sư.
Thứ tư, không chỉ khác nhau ở phương diện cao hơn là trạng thái tham ngụ,
mà ngay từ phương diện buông bỏ các tâm chấp trước của người thường
cũng đã khác rồi.
Giới, ấy là dùng phương thức từ bỏ vật chất,
từ bỏ hành động để đạt mục đích buông bỏ cái tâm,
còn chúng ta đi theo lộ tuyến khác.
Lấy một tình huống rất đơn giản để minh họa.
Một học viên Pháp Luân Công nhặt được một cái ví có chứa nhiều tiền
và những thứ giá trị cao.
Học viên đó căn cứ theo nhận thức của mình từ Pháp
về đức và nghiệp, mất và được
và học viên đó bỏ đi cái tâm tham tiền tài,
tìm ra người chủ sở hữu tài sản đó
và trả lại cho người ta.
Mà câu chuyện cũng chưa dừng ở đây.
Sau này khi về nhà, học viên đó trượt nghĩ ra rằng
lúc mình trả lại cho người ta,
mình đã xuất ra cái tâm rằng
hẳn là người ta phải cảm ơn mình.
Người ta không cần nói ra miệng cũng được,
nhưng nên chăng là trong tâm phải biết ơn mình.
Mình đã xuất ra cái tâm háo danh rồi,
thế là không tốt.
Lần sau chú ý không nên xuất ra cái tâm háo danh này.
Như vậy trong toàn bộ quá trình đó
hoàn toàn không phải giới gì cả,
không phải kiêng khem,
không phải bỏ nhà bỏ cửa
để rồi chỉ sở hữu mối y và bát
mà vẫn bỏ được cái tâm tham tiền tài.
Không cần phải từ bỏ trước vụ
mà vẫn bỏ được cái tâm về danh.
Tất nhiên một lần thì chưa bỏ được hết,
nhưng nếu cứ kiên trì tu như thế
thì dần dần nhất định sẽ bỏ được.
Không cần giới luật,
ta là dựa vào nhận thức tử pháp mà tu,
dĩ pháp vi sư.
Còn như quan hệ nam nữ,
an bài khảo nghiệm quan hệ nam nữ ở ngoài đời
thì có thể xáo trộn cuộc sống.
Vậy thì khảo nghiệm trong mơ,
người tu luyện vẫn kết hôn
và suy chỉ cuộc sống gia đình hài hòa,
con cháu đầy nhà
mà vẫn hoàn toàn có thể
có được sự thăng tiến về tâm linh,
về phương diện này.
Hiển nhiên, dĩ giới vi sư
là không theo lộ tuyến này.
Đây là lộ tuyến của tôn trị
dĩ pháp vi sư của môn phái chúng ta
bằng vào nhận thức về pháp mà tu.
Đương nhiên, chỉ có ly thuyết thì không đủ đâu
mà trong Đại Pháp có một bộ các thứ an bài
hoàn toàn khác với Phật giáo
để cho phương cách tu luyện thế này
có thể thành công.
Ví dụ, vợ hoặc chồng của đề thự Đại Pháp
là cũng được tịnh hóa đến mức nào đó
mà không can nhiễu sang.
Những mâu thuẫn mà người tu gặp phải trong đời,
thậm chí là người tu đi ngang qua
và nghe thấy người khác có vấn đề gì
thì rất có thể đều là an bài
để người tu có thể đề cao tâm tĩnh.
Đây là một bộ an bài trong tu luyện Đại Pháp
mà Sư Phụ Giảng đã rất rõ ràng rồi.
Tương tự, Phật giáo cũng có một bộ an bài của họ
nhưng bộ an bài này là khác hoàn toàn.
Phật giáo an bài là lánh đời, xuất da.
Nếu ai không xuất da mà làm cư sĩ
thì thực ra cũng phải lánh đời
theo phương cách tương tự.
Tuy thân xác là tại da
nhưng cái tâm thực ra thì vẫn là lánh đời thôi.
Vì toàn bộ phương thức bỏ chất trước
của bên Phật giáo là như vậy.
Toàn bộ hệ thống pháp lý
cũng được giảng ra như vậy.
Họ ca người rằng xa rời cói đời trần tục này
thì tốt biết bao.
Khiến cho người ta cảm thấy cái tâm của mình
càng xa rời trần tục thì càng tốt.
Đó là do phương pháp tu của họ là vậy.
Thoát đi các duyên thế gian.
Chúng ta không thế.
Chúng ta là tu luyện trong xã hội người thường.
Không phá vỡ các quan hệ xã hội.
Càng tu tốt thì nói chung
quan hệ xã hội sẽ càng tốt.
Đến cơ quan,
đồng nghiệp nói xấu mình với lãnh đạo
thì mình có phong thái cao,
hàm dưỡng, không so đo với người ta.
Lấy chân thiền nhẫn mà thiền dài.
Về nhà, vợ khó chịu
thì mình bao dung nhường nhịn,
cười nhẹ bỏ qua.
Thế thì quan hệ xã hội
chính là càng tu càng tốt
đúng không?
Người tu Phật giáo nói rằng
chém sạch trần duyên,
vượt qua chứng ngại cuộc đời
mà đến với đạo.
Người tu Pháp Luân Công nói rằng
nhân loại là một tầng trong Pháp
chân thiền nhẫn của vũ trụ.
Đời và đạo đối với tôi
đã hòa làm một rồi.
Sư phụ Giàng Pháp
tại Pháp hội quốc tế New York
năm 2004
rằng
vào thời Thích Ca Môni
chuyển Pháp
các đề tử của ông từng hỏi ông
Bạch Sư Tôn
có thể không thoát ly các duyên thế gian
mà tu thành như lai hay không?
Thích Ca Môni nghĩ
một lát rồi nói
vậy phải đợi đến lúc
chuyển Luân thành vương hạ thế thì mới được.
Thứ năm
dĩ giới phi sư
là nhắm vào một mục tiêu cụ thể
một tầng thứ nhất định.
Bộ giới luật cũng là một bộ
các điều khoản cố định.
Bộ giới luật của người xuất ra theo Phật giáo
là cho phép hành giả
đạt đến tiêu chuẩn người tu luyện
và nhắm vào cái đích
là quả vị la hắn.
Cũng yêu cầu người ta
thực hiện tròn vẹn cả bộ giới luật
dù đã hiểu được chưa
hay là hiểu sâu đến đâu.
Bức tranh tu luyện của Pháp Luân Đại Pháp
rất rộng.
Phản bồn quy chân ấy
là không nhắm vào một tầng thứ cụ thể như vậy.
Người tu luyện
chính là vừa thông qua nhận thức về Pháp
vừa bỏ dần các tâm chấp trước.
Quá trình bỏ các tâm
nếu dựa theo tôn chỉ dĩ Pháp phi sư
như ví dụ trả lại
vĩ tiện ở trên
thì đúng là sẽ diễn ra từng bước như vậy.
Hiểu đến đâu, thực hành đến đó.
Giai đoạn đầu
các tâm chấp trước cần buông bỏ
là các thứ rục vọng
là cái tình của người thường.
Giai đoạn ấy
những cái tâm thô thiện
thì dễ phát hiện ra và được bỏ đi trước
còn những cái tâm vi tế khó phát hiện
thì thông thường được bỏ đi sau.
Cho đến khi
người tu luyện hiểu được dần dần
các nội hàm của Pháp
thì khái niệm buông bỏ ấy
thực ra là khái niệm rộng hơn.
Buông bỏ những nhận thức
ở tầng thấp
buông bỏ những hiểu chưa đúng đắn về Pháp
mà từ đó hiểu và thực hành theo Pháp
ở các tầng cao hơn
chuẩn xác hơn.
Đây là sự chuyển tiếp giai đoạn
nhận thức từ phảm vi hẹp
là bỏ các tâm người thường
sang giai đoạn phảm vi rộng
là bỏ những gì không hợp với thiêu chuẩn
chân thiền nhẫn
ở tầng thứ mà ta đang tu luyện.
Sự chuyển biến này
rất tự nhiên, không cần phải
đặc biệt lưu ý
vì dù sao thì cũng là cùng một phương thức.
Học Pháp
và hiểu được cái nào cần tu sửa
thì tu sửa cái đó.
Nói chung nếu kiên trì tôn trị
dĩ Pháp vi sư
thì sự chuyển tiếp này
sẽ tự nhiên xảy ra.
Phảm vi hẹp là có phần
tương đồng với mục đích
với phương pháp giữ giới của Phật giáo
cùng là mục đích buông bỏ
các tâm người thường
nhưng phảm vi rộng thì đã vượt khỏi rồi.
Đây là điều cho phép
người tu luyện Pháp Luân Công
tu vượt qua tầng thứ La Hán
tu lên các tầng thứ cao hơn.
Đại thừa Phật giáo
khi triển khai phương thức tu luyện
vượt qua tầng thứ La Hán
thì họ cần phải triển khai
phương thức tu luyện khác với Phật giáo
Nguyên Thủy.
Khi đó họ cần một số bổ sung khác nữa
ngoài giới luật thuần túy như của
Phật giáo Nguyên Thủy.
Pháp Luân Đại Pháp chúng ta
không cần chia các bước như vậy.
Chỉ cần một tôn trị
dĩ Pháp Vi Sư
là tu một mạch từ đầu đến cuối.
Thứ Sáu
Ngoài ra
ép buộc giữ giới sẽ có một tỷ lệ
xác xuất dẫn đến sự cố thế này.
Kinh Phật giáo kể rằng
năm đó ông Nanda
được Phật Thích Ca Môn Ni
dẫn ra khỏi đám cưới của mình.
Chú rể rời khỏi đám cưới
và trở thành hòa thường.
Ông Nanda tu luyện
mà vẫn vương vấn gai tâm về người vợ
chưa cưới được và
mong muốn tu luyện để có thể kết hôn
với các tiên nữ.
Ông nhập ma mà không tự biết
sau đó ông được Phật Thích Ca
điểm hóa cho biết tương lai
sẽ bị đòa địa ngục
nếu vẫn tiếp tục như vậy.
Thế rồi ông mới hiểu ra
và tu thành La Hán.
Tu luyện Pháp Luân Công
là không hề cổ suý cách làm ép buộc
thế này. Do đó cũng không
giải ra tình huống là vì
bị ép mà thành ra sự cố
kiểu như ông Nanda tu luyện
mà suýt nữa thì đòa địa ngục.
Kỳ thực trường hợp ông Nanda
là tương đối đặc thù
chứ bình thường thì Phật Giáo
cũng không ép người ta tu đâu.
Cái tôi muốn nói ở đây
là tính chất tự nhiên của giới luật
ấy là yêu cầu thực hành
chọn bộ giới luật mà không phải
là làm từng bước thuần theo
tiến bộ dần dần của người tu.
Tất nhiên
nếu học viên Pháp Luân Công nào
mà đem lối ép người vào
Pháp Luân Công thì sự cố
kiểu ấy vẫn có thể xảy ra.
Đó là do lẫn các thứ khác
vào Pháp Luân Đại Pháp.
Tôi từng đọc một bài
viết thế này. Kể rằng
có người hỏi làm thế nào
bảo người kia buông tay khỏi cái chén.
Trả lời rằng
hãy đổ nước nóng vào
người đó sẽ buông.
Muốn người ta bỏ
tâm chấp trước thì cho họ
khó nạn tương ứng là được.
Bài này được khá nhiều
đọc giả khen hay. Tôi cho rằng
đây không phải là phong cách
môn phái của chúng ta.
Và lại phong cách thân lửa ưa nặng
ấy cũng không thật sự tốt
như một số người tưởng đâu.
Nó có thể có tác dụng
ở các tầng thứ tu luyện
rất rất thấp mà thôi.
Nhưng nó còn kèm phản ứng
phủ nếu như đối phương
chưa có nhận thức đến đó
hoặc là chưa nguyện ý làm như vậy
như trường hợp ông Nanda là
một ví dụ.
Chẳng hạn bố nông dân
mẹ nông dân dùng roi dày rỗ
con trai và quất ra
thành một anh nông dân.
Cái đó công nhận là có tính khả thi.
Nhưng bố nhạc sĩ
mẹ nhạc sĩ có
quất roi thành một anh nhạc sĩ được không?
E rằng tính khả thi
không cao.
Tu luyện là tự nguyện.
Công nhận rằng quất roi vào mông
là có tác dụng.
Nhưng tác dụng hạn chế thôi.
Lên cao tầng thì nhất định
phải dựa vào học hiệu Pháp mà tu lên.
Mà đó mới là cái chính.
Chúng ta tu luyện
là dựa vào Pháp.
Pháp vô cùng cao siêu.
Pháp của vũ trụ.
Dĩ Pháp vi sư.
Chúng ta có phong cách làm việc khác.
Bức tranh mà chúng ta nhìn đến
là rộng lớn hơn rất nhiều.
Thứ bảy.
Còn có khác biệt
còn căn bản hơn nữa.
Dĩ giới vi sư là mang tính
máy móc cứng nhắc hơn.
Dĩ Pháp vi sư là mang tính
uyển chuyển hơn.
Do ngôn ngữ hấu hạn nên nói thế này
không rõ ý. Tạm lấy ví dụ
sau đây để minh họa.
Một vị Phật có thế giới
mà Ngài chủ trì.
Thế giới đó có vô vàn
chúng sinh ở vô lượng tầng thứ
khác nhau. Vị Phật quản
thế giới đó thì có thể theo cách
là đến bảo từng chúng sinh rằng
hãy máy móc làm các bước
một, hai, ba, nào đó không.
Không.
Vị Phật quản thế giới của Ngài
là dựa vào Pháp.
Tựa như Tổng thống dùng vật pháp
để quản lý quốc gia.
Nhà vua dùng phương pháp để quản lý
phương quốc. Tất nhiên
so sánh là tương đối mà thôi.
Pháp của thế giới thiên quốc
là biểu hiện của từ
bi vô hẳn của Phật.
Hoàn toàn không phải là tầng thứ thắt kém.
Kiểu như luật pháp
hay vương pháp ở xã hội này.
Đây là nói ví dụ
chỉ để làm rõ ý cần biểu đạt mà thôi.
Chẳng hạn
vị Phật ấy tới thế gian nhân loại
và Ngài truyền ra Pháp
của mình, phổ độ chúng sinh.
Câu hỏi là
Đề tử thế nào
thì nên được chọn là xứng
được độ thử thế gian nhân loại
lên thế giới thiên quốc?
Đề tử nhóm 1
người mà học theo cách
là cho một bộ các bước cần làm theo
kiểu như cho một bộ giới luật
rồi bảo làm đi
và sau đó có kết quả công việc.
Hay là đề tử nhóm 2
người mà cho họ một bộ
các nguyên lý hoạt động
và họ tự biết cách áp dụng pháp đó
và hoàn thành công việc.
Đương nhiên câu trả lời
là đề tử nhóm thứ 2.
Đây không chỉ thuần túy
là nhóm thứ 2 thông minh hơn
chỉ cần biết nguyên lý
là có thể làm được rồi
mà còn chính là vì
ở trên thiên quốc kia
thì mọi thứ vốn dĩ là vận hành như vậy
nào có ai đến bảo
làm từng việc cụ thể 1, 2, 3 đâu?
Mà cũng chỉ
đề tử nhóm thứ 2
mới thật sự hiểu pháp.
Nếu bảo người ta làm một cách máy móc
như thực hành giới luật
từng bước 1, 2, 3
thì chắc gì làm xong thì đã hiểu
mà dù có hiểu
thì chắc gì đã hiểu sâu.
Còn nếu đúng theo tôn trị
dĩ pháp vi sư
của Pháp Luân Công
thì mỗi khi gặp vấn đề
bên lấy pháp ra đo lượng
và lên kế hoạch giải quyết.
Giải vấn đề xong
thì pháp ấy tự nhiên hiểu được rõ hơn
mà cũng không chỉ vậy
nửa năm sau
một năm sau
người ấy nghĩ
lần đó mình làm vẫn chưa hoàn hảo
lẽ ra có thể làm thế này
thì còn tốt hơn nữa
như thế chẳng phải
lại còn hiểu pháp sâu hơn nữa
đúng không?
Quá trình ấy
chính là quá trình tốt nhất
đảm bảo được rằng
người tu luyện trải qua khó nạn
mà hiểu pháp
mà đồng hóa với pháp
Người tu theo đại pháp
là được khuyến khích chia sẻ nhận thức với nhau
nhưng tuyệt đối không khuyến khích
tu luyện bắt trước theo người khác
chính là ý này đó
mình tự có nhận thức của mình
từ pháp
và đi thành con đường của mình
đó mới chân chính đồng hóa với pháp
và cũng là cách tốt nhất
chứ bắt trước người khác
người ta bước ra làm gì
thì mình cũng bước ra làm
người ta đi về và không làm nữa
thì mình cũng về thôi
thì đó không phải là phong cách tu luyện
theo dĩ pháp vi sư
của pháp luân đại pháp
phong cách của chúng ta là
biết căn cứ theo pháp mà làm
cho phép phạm sai lầm
sai rồi sửa
khuyến khích chia sẻ nhận thức
nhưng không được bắt trước người khác
Khi học viên đặt câu hỏi quá cụ thể
thì sư phụ không trả lời
còn nói rõ
nếu trả lời thì là tước đoạt
mất cơ hội tu luyện của học viên
vì bản thân quá trình
dùng pháp đo lường và đối đái
với các việc đã là một phần không thể thiếu
trong quá trình đồng hóa
với pháp
ví dụ trên ý là nói
dĩ giới vi sư là kiểu
để tự nhóm thứ nhất
mà dĩ pháp vi sư
là kiểu để tự nhóm thứ hai
mà nhóm thứ hai thì nhiều
ưu điểm hơn rất nhiều
năm xưa thời tôi tu luyện
theo Phật giáo
có một người tu chia sẻ với tôi thế này
ông ấy nói
ông ấy quyết định tu theo tiểu thừa
quyết định bỏ đại thừa
mà theo tiểu thừa
lý do là vì tu theo tiểu thừa
mới rõ ràng minh bạch
vì như đi từ nhà ông đến hổ gươm
thì đi ra phố nào
đến chỗ nào thì rẽ trái
rẽ phải thế nào
và theo đúng như thế sẽ đến hổ gươm
ông quyết định theo tiểu thừa
là vì vậy cho rằng tu từng
bước rõ ràng thế mới tốt
hồi đó tu chỉ biết nghe
mà biết vậy thôi
sau này tu mới hiểu
kỳ thực nhận thức của ông này là bị lùi
không tiến mà lùi
lúc bây giờ tu không nhận ra điều này
kỳ thực
trong Phật giáo cũng yêu cầu học
hiểu pháp
nhưng tôn chỉ dù sao
vẫn là dĩ giới vi sư
nếu không còn tôn chỉ này
thì không còn là môn pháp
mà Thích Cà Môn Ni chuyển ra
những năm đó nữa
một hòa thượng dù nói hay đến mấy
mà không giữ giới cho tốt
thì người ta không coi
đó là hòa thượng được đâu
một hòa thượng khác mà nói không hay
thậm chí chủ yếu ngồi đó
không nói gì, không làm gì
nhưng giữ giới tốt
thì đảm bảo vẫn được coi
là hòa thượng hợp cách
cả một hệ thống giáo lý của Phật giáo
nhìn chung cũng là xoay quanh
tôn chỉ dĩ giới vi sư này
cho nên người học Phật giáo
là thường có ấn tượng như vậy
không phải ngẫu nhiên
mà ông kia hình dung con đường tu luyện
nên phải giống như con đường
từ nhà ông đến hổ gươm
tu luyện một cách máy móc
theo từng bước
người học pháp Luân Công
không thể nào có lối nghĩ thế này
cách trình bày
diễn đạt pháp lý
cách thực hành
cả một bộ là khác hoàn toàn
đều là dĩ pháp vi sư
yêu cầu người tu qua học hiểu pháp
mà đi thành con đường tu của mình
như vậy
ai mà mang lối nghĩ tu luyện một cách máy móc
sang pháp Luân Công
thì được coi là chưa biết cách tu luyện
một chi tiết nhỏ ngoài lê
theo tôi biết
hiện nay Phật giáo có một xu hướng
coi giáo điều của Phật giáo
như một môn học thuật
họ có các nhà Phật học
có cả chứng chỉ văn bằng
những người tu luyện chúng ta không thế
nổi hàm của pháp
là nhờ tu rồi mới hiểu được
một cách chân chính
cảnh giới và chứng ngộ từ pháp
cũng phải thông qua tu luyện
rồi mới đạt được
bài còn tiết
