Mỹ Cứu Thế Giới Hay Chính Là Nguồn Cơn Hỗn Loạn? | Thế Giới Cổ Đại
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại, tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay. Trong suy nghĩ của rất nhiều người, nước Mỹ là “cảnh sát của thế giới”, là hiện thân của chính nghĩa. Ở đâu có xâm lược, khủng bố, tên lửa, hay chỉ cần hòa bình thế giới có chút “gió thổi cỏ lay”, Mỹ sẽ lập tức mang đến một “suất giao hàng dân chủ”. Như Afghanistan năm 2001, Iraq năm 2003, hay Libya năm 2011. Còn với những đối tượng không tiện trực tiếp ra tay như Nga, Iran hay Triều Tiên, Mỹ sẽ dùng đến các biện pháp trừng phạt kinh tế. Mỹ giống như siêu anh hùng của Trái Đất: dùng nắm đấm trừng trị thế lực xấu, dùng kinh tế buộc các nhà độc tài phải khuất phục. Nhưng thực tế, nước Mỹ không hề hoàn hảo như chúng ta tưởng. Mỹ cũng đã làm rất nhiều điều tồi tệ, thậm chí còn bị gọi là “đầu gấu thế giới”, “đế quốc chủ nghĩa”, hay “cỗ máy tạo ra chiến tranh”. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng điểm lại những việc tốt và việc xấu mà Mỹ từng làm — rốt cuộc Mỹ là cảnh sát thế giới hay lưu manh thế giới?
Cảm ơn mọi người! Chúc mọi người có những giây phút vui vẻ. Mời các bạn theo dõi video trên kênh Thế Giới Cổ Đại. ✔️ Thế Giới Cổ Đại sẽ đồng hành cùng các bạn trong hành trình giải mã những sự kiện kỳ bí xuyên suốt dòng lịch sử của loài người... ✔️ Chúc các bạn có những phút giây thư giãn và bổ ích! #thếgiớicổđại#bíẩn#nướcMỹ
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại.
Tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Trong suy nghĩ của rất nhiều người, nước Mỹ là cảnh sát của thế giới, là hiện thân của chính nghĩa.
Ở đâu có xâm lược, khủng bố, tên lửa, hay chỉ cần hòa bình thế giới, có chút gió thổi cỏ lay,
Mỹ sẽ lập tức mang đến suất giao hàng dân chủ như Afghanistan năm 2001, Iraq năm 2003,
hay Libya năm 2011.
Còn với những đối tượng không trực tiếp ra tay như Nga, Iran hay Triều Tiên,
Mỹ sẽ dùng đến các biện pháp trừng phạt kinh tế.
Mỹ giống như siêu anh hùng của trái đất, dùng 5 đấm trừng trị thế lực xấu,
dùng kinh tế buộc các nhà độc tài phải khuất phục.
Nhưng thực tế, nước Mỹ không hề hoàn hảo như chúng ta tưởng.
Mỹ cũng đã làm rất nhiều điều tồi tệ, thậm chí còn bị gọi là đầu gấu thế giới,
đế quốc chủ nghĩa hay cỗ máy tạo ra chiến tranh.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng điểm lại những việc tốt và việc xấu mà Mỹ từng làm.
Rốt cuộc, Mỹ là cảnh sát thế giới hay lưu manh thế giới?
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng điểm lại những việc tốt và việc xấu mà Mỹ từng làm.
Để xem, rốt cuộc Mỹ là cảnh sát thế giới hay lưu manh thế giới?
Khi ấy, thế giới bị chia thành 2 phe lớn.
Đầu tiên là phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ dẫn đầu.
Và phe thứ 2 là xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu.
Cả 2 đều mạnh đến mức phi lý, nhưng mạnh theo những cách khác nhau.
Một bên thì giống như cậu ấm nhà giàu, tiêu tiền không cần nghĩ.
Bên kia như một lực sĩ cầm búa, sức mạnh thuần cửa bắt.
Mỹ có sức mạnh kinh tế bùng nổ, chiếm tới một nửa GDP toàn cầu.
Đi đến đâu là tiền đổ đến đó.
Mỹ sở hữu bom nguyên tử, các cuộng tàu sân bay tấn công,
lại còn kiểm soát hệ thống tài chính toàn cầu.
Mỹ dâng cao ngọn cờ tư bản, dân chủ, tự do, tuyên bố rằng
đi theo bố Mỹ thì sẽ được ăn ngon mặc đẹp.
Liên Xô thì bị tổn thất nặng nề trong Thế chiến thứ 2, khoảng 25 triệu người thiệt mạng.
Nhưng sau chiến tranh, họ như được tăng cờ.
Nhờ khả năng huy động toàn trị, Liên Xô phục hồi rất nhanh.
Công nghiệp tăng tốc chóng mặt, quân sự cực mạnh, đặc biệt là lục quần.
Bà Lan, Hungary tiếp khắc và hàng loạt nước Đông Âu trở thành quốc gia vệ tình.
Liên Xô dâng cao khẩu hiệu chống thực dân, chống đế quốc
và hứa hẹn khi đi theo anh cả thì có lương thực, có xe tăng.
Điều này khiến hàng loạt nước thế giới thứ 3 nhảy hố.
Cặp đôi chiến tranh lạnh này về cơ bản đã dẫn dắt cục diện chính trị toàn cầu
suốt nhiều thập kỷ sau chiến tranh.
Các quốc gia lần lượt chọn phe, muốn tự do và giàu thì dựa vào Mỹ,
muốn bình đẳng và xã hội chủ nghĩa thì theo phe Liên Xô.
Mỹ tự đóng gói mình thành người lãnh đạo tự do của thế giới,
ngọn hải đăng của dân chủ và nhân quyền.
Ngược lại, Liên Xô và chủ nghĩa Cộng sản bị gắn mắc là đế quốc tả ác,
thứ phải bị ngăn chặn không cho thâm nhập.
Khi đó, ở Mỹ dất thịnh hành một học thuyết gọi là hiệu ứng domino.
Nếu một quốc gia chuyển sang Cộng sản,
thì các nước lãng giềng sẽ lần lượt đổ theo như quân cờ domino.
Mỹ tự tưởng tượng ra một kịch bản tận thế.
Việt Nam đỏ hóa, Đông Nam Á đỏ hóa, Thái Bình Dương đỏ hóa,
rồi bờ tây nước Mỹ bị xâm lược.
Người dân California phải bắt đầu gặm vỏ cây để sống.
Nghe thì rất lố, nhưng họ tin thật.
Còn viết hẳn vào sách trắng, thề phải tiêu diệt chủ nghĩa Cộng sản.
Vì thế, Mỹ dâng cao bài vị chống công.
Cộng sản lan tới đâu, Mỹ xuất hiện tới đó.
Trên danh nghĩa là góp tiền, góp người, góp quân, viện trợ Mỹ,
kế hoạch ma so, chiến tranh Triều Tiên, v.v.
Do đó, lô dịch Mỹ là cảnh sát thế giới
chỉ có thể đứng vững nếu ta chấp nhận một tiền đề mang tính áp đặt.
Đó chính là Cộng sản đồng nghĩa với tạ ác.
Nhưng với những người Việt Nam yêu nước, từng đi qua chiến tranh,
từng chứng kiến lịch sử dân tộc bị triệt cắt,
bị can thiệp và bị áp đặt từ bên ngoài,
chúng ta không thể và không bao giờ chấp nhận luận điệu đó của Mỹ.
Bởi vì đây không phải là một kết luận khách quan,
mà là một khung diễn giải chính trị do Mỹ và phương Tây xây dựng trong bối cảnh chiến tranh lạnh,
nhằm phục vụ cho lợi ích chiến lược và kinh tế của họ,
chứ không phải để tìm kiếm sự thật hay công bằng lịch sử.
Trong câu chuyện mà Mỹ kể ra,
chủ nghĩa Cộng sản bị mô tả như một học thiết hủy diệt.
Đó chính là xóa bỏ sở hữu tư nhân, thủ tiêu tự do cá nhân, thiết lập chuyên chính vô sản.
Với một quốc gia tư bản như Mỹ,
nơi quyền sở hữu tài sản và tích lũy tư bản là nền móng của toàn bộ hệ thống xã hội,
thì chủ nghĩa Cộng sản đương nhiên bị coi là mối đe dọa tận gốc,
không chỉ về tư tưởng mà còn về lợi ích giải cấp.
Nói trắng ra là, Mỹ không sợ Cộng sản vì Cộng sản ác,
Mỹ sợ Cộng sản vì Cộng sản thách thức trật tự kinh tế, chính trị mà Mỹ đang hưởng lợi.
Đúng là trong lịch sử, Liên Xô dưới thời Stalin đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng như là đại thanh trường,
chạy lao cải, hệ thống cảnh sát mật, đàn áp người bất đồng chính kiến, gây ra cái chết của hàng triệu người.
Xã hội bị đặt trong trạng thái sợ hãi, nơi một lời nói sai có thể dẫn đến tù đầy hoặc biệt mất.
Những điều này là sự thật lịch sử và những người Cộng sản chân chính không né tránh, không phủ nhận.
Nhưng vấn đề mâu chốt nằm ở đây,
đó là sai lầm của một giai đoạn, một mô hình, một con người cụ thể không thể được dùng để kết tội cả một lý tưởng giải phóng nhân loại.
Chủ nghĩa Cộng sản ra đời không phải để giết người, mà để giải phóng con người khỏi bóc lột.
Lý thuyết về chủ nghĩa Cộng sản nguyên bản của Mark thực chất nhằm phản kháng sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản thế kỷ 19.
Ông đề cao bình đẳng, phản đối việc vắt kiệt máu người lao động, nói trang gia lạ, để mọi người có cơm ăn, có phẩm giá mà sống.
Trong các quốc gia bị thực dân áp bức, khoảng cách giàu nghèo lớn,
chủ nghĩa Cộng sản quả thực rất hấp dẫn như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, tấm gương của Liên Xô đã chứng minh điều đó.
Ban đầu, Liên Xô đạt được công nghiệp hóa nhanh, phổ cẩm giáo dục, đảm bảo y tế, những điều mà chủ nghĩa tư bản khi đó chưa làm được.
Xét về kết quả lịch sử, không thể phủ nhận rằng, trong quá trình tồn tại và vận hành,
một số chế độ tự nhận là Cộng sản đã phạm phải những sai lầm cực kỳ nghiêm trọng.
Để duy trì quyền lực trong điều kiện bị bao vây, chiến tranh, nghèo đói và xung đột ý thức hệ không liệt,
nhiều nhà nước đã trượt sang toàn trị, tiến hành đạt áp tàn bạo đối với những người bị coi là đối lập,
địa chủ, trí thức, hay thậm chí những người từng ủng hộ cách mạng.
Như Đại Thanh Trưng ở Liên Xô, cách mạng văn hóa và nạn đói lớn ở Trung Quốc, hành quân gian khổ ở Triều Tiên,
hay thảm kích diệt chủng của Khớ Mè Đỏ, tất cả đều là những viết thương thật trong lịch sử nhân loại,
khiến hàng triệu, thậm chí là hàng chục triệu con người thiệt mạng.
Vì thế, một lô dịch rất đơn giản được Mỹ theo diệt rằng,
chủ nghĩa Công sản đã mang lại những bì kịch lớn cho nhân loại, và việc Mỹ ra tay đồng nghĩa với chính nghĩa.
Quả thật, Mỹ đang ngăn chặn không ít kinh bản tồi tệ hơn.
Nếu không có đồng đô la, châu Âu sau chiến tranh có thể đã bị các thế lực phản động dành chính quyền,
Ý và Pháp từng suýt nữa rời vào tình cảnh đó.
Nếu không có chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc ngày nay có thể đã giống Triều Tiên.
Sẽ không có Samsung, không có Hyundai, cũng không có làn sóng văn hóa Hà Liêu, BTS hay các tác phẩm điện ảnh bùng nổ toàn cầu.
Nếu không có sự ủng hộ dành cho Đài Loan, họn đảo này có thể đã bị bên kia tiếp quản từ thập niên 1950.
Khi đó, sẽ không có kỳ tích kinh tế, không có dân chủ hóa, và TSMC cũng không tồn tại.
Từ góc nhìn này, Mỹ quả thực đã cứu nhiều khu vực, giúp họ tiến tới dân chủ và phồn bình.
Gọi Mỹ là đại ca, là cảnh sát thế giới cũng không phải không có lý.
Cuối cùng, liên xô cũng tàn dã.
Nhưng rất nhiều lần, Mỹ ra tay không phải vì lý tượng, mà vì lợi ích kinh tế và vị thế chiến lược.
Khi nhà bạn có kẻ xấu, và điều đó phù hợp với lợi ích của Mỹ, họ sẽ giúp bạn đuổi kẻ xấu đi.
Nhưng khi nhà bạn không có kẻ xấu, họ cũng có thể giúp bạn tạo ra một kẻ xấu, rồi kéo bạn cùng đánh.
Cụ thể hơn, khi một quốc gia có dấu hiệu ngả về phía liên xô, hoặc động chạm đến miếng bánh của Mỹ,
CIA sẽ thâm nhập địa phương, dùng tiền, tin giả để tạo dư luận chính phủ vô năng, bị cộng sản xâm nhập.
Sau đó mua trục quân đội, nuôi dưỡng thế lực ủy nhiệm, gây hỗn loạn trong nước, kích động đình công,
tạo khủng hoảng tài chính, thối bung bất mãn xã hội. Cuối cùng lật đổ chính quyền thần công,
lập tức công nhận chính quyền mới và cung cấp hỗ trợ kinh tế, quân sự, rồi tuyên bố rằng
quốc đảo chính này không phải do chúng tôi làm, mà là do người dân tự phát.
Như các trường hợp Iran năm 1953, Guatemala năm 1954, Congo năm 1961, Chile năm 1973,
tất cả đều là những cuộc đảo chính do CIA thao túng và đều thành công.
Nhưng nói cho chính xác, các chính quyền này không hẳn là cộng sản, thậm chí phần lớn còn là chính phủ do dân bầu.
Họ chỉ đơn giản là thiện cảm với liên xô theo chủ nghĩa dân tộc, hoặc động trạm đến lợi ích kinh tế của Mỹ.
Ở Iran, Thủ tướng dân cử Mohammad Mossadegh chủ trương quốc hữu hóa rồng mỏ để người dân Iran tự chia lợi nhuận.
Điều này trực tiếp đe dọa tới lợi ích của các công ty rồng mỏ Anh-Mỹ. Anh và Mỹ coi đó là bị cướp tiền,
liền sai CIA phát động đảo chính, lật đổ Mossadegh, rồi dựng lên chính quyền thần Mỹ của Saad Pahlavi.
Ở Guatemala, Tổng thống dân cử Jacobo Aben thúc đầy cải cách dụng đất, chia đất cho nông dân.
Nhưng phần lớn đất đó lại thuộc về United Fruit Company, một tập đoàn chuối khổng lồ của Mỹ tại Trung Mỹ.
Aben vừa ra chiều, Mỹ lập tức rán nhãn, không thể để chuối chuyển sang màu đỏ.
Kết quả là CIA lại giả tay, lật đổ Aben và thay bằng một tướng lĩnh thần Mỹ.
Còn ở Congo, anh hùng độc lập Pachis Lumbumba trở thành thủ tướng,
muốn thoát khỏi sự kiểm soát của bị và đi theo con đường dân tộc chủ nghĩa.
Phương Tây không ủng hộ, ông quay sang cầu viện Liên Xô và thế là lọt vào tâm ngắm của Mỹ.
Congo lại giàu đồng, co bát và các khoáng sản chiến lược.
Mỹ lo ngại những tài nguyên này rơi vào tay Liên Xô.
Kết cục là CIA phối hợp với tỉnh Báo Bỉ, giao Lumbumba cho đối thủ chính trị Mobutu.
Lumbumba bị tra tấn rồi bị phân xác, còn Mobutu được dựng lên làm Tổng thống.
Ở Chile, Tổng thống dân cử Salvador Allende, sau khi lên nắm quyền,
đã tiến hành quốc hiệu hóa và theo đường lối thân Cuba.
Nhưng các mỏ đồng, nguồn tài nguyên chiến lược cho vũ khí và công nghiệp,
phần lớn nằm trong tay các công ty Mỹ.
CIA, Liên cung cấp tiền bạc, vũ khí và tình báo cho quân đội Chile.
Một gói qua đảo chính hoàn chỉnh.
Không lâu sau, tướng Pinochet phát động đảo chính quân sự.
Allende cố thù trong dinh Tổng thống, từ chối đầu hàng và tự sát bằng súng.
Bạn tưởng rằng những quốc gia được bị cứu này, sau đó sẽ sống hạnh phúc mãi mãi?
Vậy thì bạn nghĩ nhiều rồi.
Sau khi lên nắm quyền, Shah Pahlavi ở Iran nhận được hàng đuối đô la.
Đất nước từng bước hiện đại hóa, nhưng cảnh sát mật ở khắp nơi,
người bất đồng chính kiến bị bắt, bị tra tấn, biến mất.
Khoảng cách giàu nghèo thì ngày càng lớn.
Cuối cùng, năm 1979, cách mạng Hồi giá bùng đổ, Shah bị lật đổ,
Iran quay ngắt trở thành kẻ thù chống Mỹ hàng đầu.
Sau đảo chính ở Guatemala, chính quyền quân sự và lực lượng du kích la vào nội chiến
kéo dài hơn 30 năm, khiến hơn 200.000 người chết, phần lớn là dân thường.
Mỹ giữ được lợi ích cho đế chế chuối, nhưng Guatemala thì tới nay vẫn đầy xẹo.
Ở Congo, Mobutu, người được CIA dựng lên, công quyền được 32 năm,
trở thành một trong những tổng thống thàm nhũng khét tiếng nhất châu Phi.
Ông ta dựa vào viện trợ và khoáng sản để vờ vép tài sản, hút cạn tài nguyên quốc gia,
đẩy đất nước vào vòng xoáy đói nghèo, rụp đổ và lạc hậu.
Sau khi chiến tranh lệnh kết thúc, Mobutu bị lật đổ, Congo rơi vào nội chiến triển miền.
Cuối cùng, bùng phát cuộc chiến Congo lần thứ hai,
cuộc chiến đậm máu nhất lịch sử châu Phi với hơn 5 triệu người chết.
Tình hình Chile thì khá hơn một chút.
Pinochet có nhiều điểm giống với chính quyền họ tưởng ở Đài Loan.
Đều được Mỹ ủng hộ vì chống cộng, đều độc tài lâu dài, đều giả vờ dân chủ
và đều hưởng lợi từ dòng vốn đô la để kinh tế gất cánh.
Ngày nay, mức sống người dân không tệ, mô hình hiện đại hóa kiểu độc tài rồi chuyển sang dân chủ này
là một trong số ít trường hợp tương đối thành công trên thế giới.
Nhưng cả hai cũng đều trải qua thời kỳ khủng bố chính trị.
Ở Đài Loan, khủng bố trắng kéo dài suốt 40 năm, người dân sống trong nỗi sợ, nói sai là biến mất.
Hơn 20.000 người bị hại, hơn 2.000 người bị sự bắn.
Ở Chile, dưới thời Pinochet, 28.000 người bị giam, hơn 3.000 người bị giết.
Không chỉ có những ví dụ đó, còn có gia đình Duvalier ở Haiti, Marcos ở Philippines
và Suharto ở Indonesia.
Họ đều là những chế độ độc tài lâu dài, tham nhũng, cai trị bằng khủng bố.
Nhưng chỉ cần dương cao lá bải chống công, Mỹ sẽ rót tiền, cung cấp vũ khí, nuôi sống các chính quyền này.
Khi những đàn em ấy không còn giá trị sử dụng, họ sẽ bị bỏ rơi không thường tiếc.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ không muốn tiếp tục bằng nuôi Haiti nghèo đói.
Jean-Claude Duvalier bị ép xuống đài, đất nước rơi vào hỗn loạn kéo dài.
Marcos thì bị người dân Philippines lật đổ năm 1986.
Suharto năm 1965, thẳng tay thanh trừng chế độ cộng sản.
Mỹ vui mừng khôn siết, coi ông ta là hình mẫu chống công.
Nhưng đến khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, kinh tế Indonesia sụp đổ, Mỹ quay lưng, Suharto lặng lẽ tử trức.
Logic của chiến tranh lạnh rất đơn giản.
Mỹ không quan tâm bạn có dân chủ hay không, chỉ cần bạn không theo cộng sản, bạn sẽ được viện trở.
Mỹ can thiệp vào các quốc gia không phải vì yêu dân chủ hay yêu tự do,
mà vì sợ cộng sản ăn mất lợi ích của mình.
Chỉ cần treo biển chống công, cho dù bạn là độc tài khát máu, gia tộc tham nhũng,
thậm chí là tiến hành thanh lọc sắc tộc, Mỹ vẫn sẽ ủng hộ.
Chính vì thế, rất nhiều quốc gia không những không thịnh vượng, mà còn rơi thẳng xuống vực sâu.
Sau khi liên xô tan rã, thế giới bước vào một khoảng trống quyền lực rất đặc biệt.
Không còn đối trọng đủ mạnh để kiềm chế Mỹ, và Mỹ gần như mặc định trở thành trung tâm của trật tự quốc tế.
Từ đây, khái niệm Mỹ là cảnh sát thế giới không chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền,
mà dần biến thành một cơ chế vận hành thật.
Mỹ dẫn dắt liên minh, dùng sức mạnh quân sự, tài chính, truyền thông, cấm vận
để định nghĩa ai là kẻ xấu, ai là nạn nhân, ai xứng đáng được cứu, và ai đáng bị trừng phạt.
Đó luôn là một gói trộn giữa chính nghĩa và ích kỳ.
Và nếu nhìn sâu hơn, thì cái gói trộn này không phải là lỗi kỹ thuật nhất thời,
mà là bản chất của bá quyền.
Có lúc chung với lợi ích chung nên trông rất chính nghĩa,
có lúc lợi ích riêng lấn át,
thì cảnh sát lập tức biến thành người vừa cầm coi vừa cầm gây.
Luật là luật của mình.
Về mặt chính nghĩa, khi lợi ích của Mỹ chung với nhu cầu bảo vệ dân thường và trật tự,
thì ở châu Âu những năm 1990, các cuộc chiến sau khi Nam Tư tan rã đã tạo ra thảm họa nhân đạo thật sự.
NATO đã tiến hành các chiến dịch can thiệp mà Mỹ đóng vai trò thèn chốt.
Ở Bosnia, các chiến dịch không kích NATO nhầm vào gây sức ép chấm dứt các cuộc tấn công
và tạo điều kiện cho tiến trình hòa bình.
Ở Kosovo, NATO mở chiến dịch với mục tiêu tuyên bố là ngăn thảm họa nhân đạo đang diễn ra.
Điểm quan trọng ở đây là khi có nguy cơ thảm sát, thanh lọc sát tộc,
sự can thiệp từ bên ngoài đôi khi làm giảm mức độ tàn sát và ép các bên quay lại bàn đàm phán.
Chính vì vậy, có những trường hợp người ta thấy vai trò cảnh sát như một thứ cần thiết.
Tương tự, khi Iraq xâm lược Kuwait mùng 2 tháng 8 năm 1990, phản ứng quốc tế diễn ra rất nhanh.
Hội đồng bảo an thông qua nghị quyết cho phép dùng mọi biện pháp cần thiết nếu Iraq không rút quân trước hạn.
Mở đường cho liên minh do Mỹ dẫn đầu tiến hành chiến dịch quân sự đầu năm 1991.
Trong làng kính trật tự quốc tế, đây được trình bày như một hành động ngăn tiền lệ xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực.
Rồi đến giai đoạn hậu chiến tranh lại, Mỹ cũng tham gia cùng EU và các định chế quốc tế
trong việc hỗ trợ chuyển đổi kinh tế, chính trị ở Đông Âu, Ban Tích
thông qua những khung viện trợ như SwiftX nhằm thúc đẩy chuyển đổi theo mô hình dân chủ thị trường.
Dù ta có thể tranh luận về màu sắc ý thức hệ của các gói viện trợ này,
vẫn phải thừa nhận rằng nhiều quốc gia Đông Âu đã chuyển đổi nhanh,
hội nhập vào kinh tế phương Tây để sống vật chất khải thiện rõ rền.
Tức là mặt chính nghĩa tồn tại và tồn tại thật,
nhưng nó thường xuất hiện rõ nhất khi lợi ích của Mỹ không mâu thuẫn với lợi ích nhân đạo
hoặc khi trật tự ấy giúp cung cố vị thế lãnh đạo của Mỹ.
Về mặt ích kỳ, khi lợi ích chiến lược lấn át, cảnh sát sẵn sàng bẻ cong lý lẽ.
Điểm bè gãy lớn nhất của huyền thoại cảnh sát thế giới thời hậu chiến tranh lạnh
chính là Iraq năm 2003.
Năm 2003, Mỹ và Liên minh xâm lược Iraq với lý do nổi bật là Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt,
viết tắt là WMD.
Nhưng sau chiến tranh, các kết luật điều tra quan trọng,
trong đó có các báo cáo của nhóm khảo sát vũ khí cho thấy rằng
không tìm thấy kho WMD như những cáo buộc trung tâm trước đó.
Và khi lý do cốt lõi sụp đổ, phần còn lại đã lộ ra.
Bài toán địa chính trị Trung Đông, ảnh hưởng khu vực, năng lược, vị thế chiến lược.
Kết quả thì đã rõ, sát đam thì bị lật đổ, nhưng cái giá là một xã hội đổ vỡ cầu trúc,
xung đột bè phái, khủng bố lan rộng, và IS trỗi dậy như một hệ quả dây chuyển.
Còn với Afghanistan thì cuộc chiến bắt đầu sau 11 tháng 9 năm 2001
và kéo dài tới 2021, dài nhất trong lịch sử quân sự Mỹ hiện đại.
Taliban bị đánh bật khỏi các trung tâm lớn, nhưng rồi lại tái tổ chức thành nổi dây
và cuối cùng quay lại nắm quyền vào tháng 8 năm 2021 khi Mỹ rút quân.
Các đánh giá gần đây cũng nhằm nhấn mạnh việc Taliban tái áp đặt nhiều quy định hạ khắc,
kéo lui nhiều thành quả xã hội, đặc biệt liên quan đến quyền con người.
20 năm, hàng nghìn tỷ đô, vô số sinh mạng và một quốc gia bị mai mòn,
cuối cùng lại trở về điểm xuất phát quyền lực.
Từ Iraq và Afghanistan, ta rút ra một lớp logic sâu hơn.
Đó là cảnh sát không chỉ thực thi luật, cảnh sát còn quyết định lúc nào gọi đó là luật,
lúc nào gọi đó là ngoại lệ.
Khi ngoại lệ trở thành thói quen, thì cảnh sát thế giới chuyển hóa thành lực áp đặt.
Mỹ rất hay dùng ngôn ngữ dân chủ, nhân quyền, nhưng cách áp đặt lại mang tính chọn lọc.
Chỉ cần là đồng minh thân cận của Mỹ,
thì nhiều vấn đề nhạy cảm có thể được nói nhẹ đi hoặc tạm gác lại.
Saudi Arabia là ví dụ điển hình.
Đây làm quốc gia quân chủ tuyệt đối, không có lãnh đạo cấp quốc gia do dân bầu,
quyền chính trị và dân sự bị kiểm soát chặt chẽ, điều đã được Freedom House nhiều lần chỉ ra.
Tuy nhiên, Saudi Arabia lại nắm vị trí then chốt về dầu mỏ và an ninh Trung Đông,
đồng thời là khách hàng mua vũ khí lớn và đối tác chiến lược của Mỹ.
Vì vậy, quan hệ Mỹ-Saudi chủ yếu vận hành theo logic đặt lợi ích lên trên các tiêu chuẩn dân chủ.
Trường hợp Rwanda cũng tương tự.
Tổng thống Paul Kagame nắm quyền từ năm 2000 và kéo dài nhiệm kỳ suốt nhiều thập kỳ.
Dù vậy, các báo cáo quốc tế gần đây liên tục cáo buộc Rwanda hậu thuẫn lực lượng M23
ở miền đông Cộng hòa Dân chủ Congo liên quan đến dòng khoáng sản từ vùng xung đột.
Hãng AP dẫn báo cáo của Liên Hợp Quốc cho thấy rằng mức độ hỗ trợ này gây ra hệ quả nhân đạm nghiêm trọng.
Nhưng khi một nhà lãnh đạo vừa giữ được ổn định trong nước, vừa hợp tác về an ninh,
thì giọng điệu phê phán thường sẽ mềm đi tùy theo lợi ích.
Colombia cũng vậy. Quốc hội Mỹ viết tắt là CIS,
từng chỉ ra lịch sử hiện đại của Colombia gắn với bạo lực chính trị và vi phạm nhân quyền.
Không chỉ từ các nhóm vũ trang mà có lúc là cả lực lượng an ninh.
Tuy nhiên, trong nhiều giai đoạn, Colombia lại là pháo đài trong chiến lược chống ma túy
và chống cánh tả của Mỹ, nên viện trợ và hợp tác an ninh vẫn được duy trì theo ưu tiên địa chính trị.
Ngược lại, nếu bạn chống Mỹ, câu chuyện đảo triệu thì đó là cấm vận, trừng phạt, cô lập
trở thành công cụ thường trực. Ngay chính trang tổng hợp chương trình trừng phạt của OFAC cho thấy
Mỹ có nhiều hột sơ trừng phạt theo quốc gia và chủ đề,
phản ánh quy mô công cụ cấm vận trong chính sách đối ngoại Mỹ.
Với Venezuela, các báo cáo cập nhật của CIS cũng tổng hợp lịch sử Mỹ áp đặt trừng phạt
từ năm 2005 và mở rộng theo thời gian. Với Cuba, câu chuyện cấm vận thì kéo dài nhiều thập kỷ
và được siết nhà theo chu kỳ chính trị nội bộ Mỹ. Từ đó, tiêu chuẩn kép hiện ra như một phương trình thực dụng.
Độc tài nhưng thân Mỹ có thể bỏ qua, khuyên nhẹ, hoặc hợp tác vẫn là ưu tiên.
Dân cử nhưng chống Mỹ có thể bị gán nhãn, bị cấm vận, bị cô lập, thậm chí là bị lật đổ bằng nhiều hình thức.
Vậy quay lại chủ đề chính, thì Mỹ đúng là đã làm những việc mà người khác không dám làm
và những việc đó khiến họ trông giống như siêu anh hùng. Nơi nào hỗn loạn là Mỹ xuất hiện ở đó.
Nhưng đồng thời, Mỹ cũng là kẻ lưu manh khoác áo chính nghĩa, sẵn sàng làm bừa vì lợi ích.
Vậy rốt cuộc Mỹ là cảnh sát thế giới hay lưu manh thế giới? Câu trả lời là cả hai.
Mỹ duy trì trật tự nhưng trật tự đó phải phù hợp với lợi ích của Mỹ.
Mỹ trừng phạt kẻ xấu nhưng chỉ trừng phạt những kẻ xấu không nghe lời.
Thế giới không được loạn, nếu có loạn thì để Mỹ loạn.
Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó, nếu chỉ kết luận Mỹ vừa là cảnh sát vừa là lưu manh thì còn hơi dễ dãi.
Bởi vấn đề quan trọng hơn nằm ở chỗ là tại sao thế giới lại chấp nhận một cảnh sát như vậy suốt nhiều thập kỷ
Và vì sao cho đến hôm nay, dù bị chỉ trích khắp nơi, Mỹ vẫn chưa bị thay thế?
Câu trả lời nằm ở một thực tế rất lạnh lùng.
Chưa có ai đủ manh, đủ ổn định và đủ hấp dẫn để thay thế Mỹ.
Sau khi liên xô tan giá, thế giới từng có một khoảnh khắc tưởng rằng lịch sử đã kết thúc.
Dân chủ tự do và kinh tế thị trường được coi là đích đến cuối cùng của nhân loại.
Mỹ với sức mạnh quân sự áp đảo, đồng đô la thống trì, Hollywood, Internet, công nghệ cao lan tỏa khắp hành tinh
dường như đã trở thành chất tự tự nhiên của thế giới mới.
Nhưng chính trong giai đoạn ấy, những mâu thuẫn bắt đầu tịch tụ.
Toàn cầu hóa do Mỹ dẫn dắt giúp hàng trăm triệu người thoát nghèo nhưng cũng tạo ra khoảng cách giàu nghèo khổng lồ.
Các tập đoàn xuyên quốc gia hưởng lợi còn tầng lớp lao động ở nhiều nước kể cả ở Mỹ bị bỏ lại phía sau.
Các cuộc chiến xuất khẩu dân chủ làm sụp đổ chế độ này nhưng không xây được chất tự bền vững thay thế.
Trung Đông chìm trong hỗn loạn kéo dài, Châu Phi vẫn bất ổn còn Mỹ Latin liên tục giao động giữa cải cách và khủng hoảng.
Tức là cảnh sát có mặt ở khắp nơi nhưng khu phố vẫn ngày càng lộn xôn.
Điều này dẫn đến một sự thay đổi lớn trong nhận thức toàn cầu.
Ngày càng nhiều quốc gia không còn tin rằng đi theo Mỹ là con đường duy nhất.
Họ không nhất thiết muốn chống Mỹ nhưng cũng không muốn bị Mỹ dẫn dắt hoàn toàn.
Còn về Nga, sau giai đoạn sư yếu thậm niên năm 1990, quay lại với tư thế cưng rắn hơn,
coi việc Mỹ mở rộng NATO là đe dọa sinh tồn.
Trung Quốc trỗi dậy bằng con đường khác, không xuất khẩu cách mạng, không xâm lược quân sự trực tiếp,
mà dùng thương mại, đầu tư và hạ tầng để mở rộng ảnh hưởng.
Iran chọn đối đầu dài rằng nhiều quốc gia ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ Latin thì chọn cách đứng giữa.
Kết quả là thế giới dần bước vào một trạng thái mới, đa cực nhưng chưa có cực nào đủ mạnh để áp đặt trật tự lên tất cả.
Trong bối cảnh đó, vai trò cảnh sát thế giới của Mỹ trở nên vừa cần thiết, vừa gây khó chịu.
Khi xảy ra khủng hoảng lớn như chiến tranh, khủng bố, cướp biển, tấn công tiến hàng hải,
người ta vẫn trông chờ Mỹ hành động.
Nhưng khi Mỹ hành động quá tay, hoặc hành động vì lợi ích riêng, làn sóng phản đối lại bùng lên dữ dội.
Nhưng có một nghịch lý rất rõ ở đây là, thế giới thì phan nàn về Mỹ, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào Mỹ.
Và Mỹ cũng hiểu điều đó.
Chính vì hiểu mình đang ở vị trí không thể thiếu, Mỹ càng ngày càng thoải mái hơn trong việc áp dụng tiêu chuẩn kép.
Không phải vì Mỹ trở nên xấu xa hơn, mà vì cán cân quyền lực cho phép họ làm vậy.
Khi bạn là người giữ chìa khóa hệ thống tài chính, khi đồng tiền dự trữ toàn cầu,
mạng lưới quân sự trải dài khắp Nam Châu, thì luật chơi tự nhiên sẽ xoay quanh bạn.
Nhưng vấn đề là, sự thoải mái đó đang tạo ra phản lực gược.
Cấm vận ngày càng nhiều, khiến các quốc gia tìm cách thoát phụ thuộc vào đồng đô la.
Trừng phạt tài chính thúc đẩy các hệ thống thanh toán thay thế,
can thiệp quân sự liên tục làm xói mòn niềm tin và thiện trí.
Ngay cả đồng minh của Mỹ cũng bắt đầu tính toán khoảng cách an toàn,
tránh đặt toàn bộ vận bệnh vào một siêu cường duy nhất.
Tức là, cảnh sát dùng gậy nhiều, người ta càng học cách né gậy.
Điều này đặt ra câu hỏi lớn cho tương lai.
Nếu Mỹ không còn đủ uy tín để làm cảnh sát,
nhưng thế giới cũng chưa có ai thay thế, thì điều gì sẽ xảy ra?
Câu trả lời có thể không dễ chịu.
Đó là thế giới sẽ hỗn loạn hơn, chứ không công bằng hơn.
Lịch sử cho thấy rằng, không có chất tự toàn cầu nào mà tồn tại không có một trung tâm quyền lực.
Khi trung tâm đó suy yếu nhưng chưa bị thay thế,
khi các xung đột khu vực sẽ tăng lên, luật pháp quốc tế sẽ bị còi nhẹ
và các quốc gia mạnh sẽ tự xử theo cách của mình.
Nói cách khác, không có cảnh sát đôi khi còn tệ hơn cảnh sát xấu.
Vì thế, nhiều quốc gia, kể cả những nước từng là nạn nhân của can thiệp Mỹ,
vẫn chọn cách sống chung với một cảnh sát không hoàn hảo,
thay vì đánh cực vào một thế giới vô chuột tự.
Từ góc nhìn này, vấn đề không phải là yêu hay ghét Mỹ,
mà là nhận diện đúng đán bản chất.
Mỹ không phải là thiên thần, cũng không phải là ác quỳ.
Mỹ là một cường quốc theo đuổi lợi ích,
hoặc đền minh lấp vỏ giá trị để hợp thức hóa quyền lực.
Khi lợi ích chung với đạo đức, Mỹ trông rất chính nghĩa.
Khi lợi ích xung đột với đạo đức, thì đạo đức sẽ bị điều chỉnh.
Và điều quan trọng nhất, Mỹ không làm điều đó một mình.
Hệ thống quốc tế hiện nay, từ truyền thông, tài chính đến các định chế,
đều vận hành trong logic quyền lực, nơi kẻ mạnh có tiếng nói lớn hơn.
Mỹ chỉ là người chơi mạnh nhất trong hệ thống đó,
chứ không phải là người duy nhất chơi xấu.
Vậy nên, câu hỏi Mỹ là cảnh sát hay lừa manh, thực chất là câu hỏi phụ.
Câu hỏi chính xác hơn phải là,
chúng ta muốn một thế giới do ai làm cảnh sát, và cái giá của việc không có cảnh sát là gì?
Chừng nào chưa có câu trả lời thuyết phục cho hai câu hỏi đó,
thì nước Mỹ, với tất cả mâu thuẫn, ích kỳ và đôi khi tàn nhẫn của mình,
vẫn sẽ tiếp tục vừa cầm coi, vừa cầm gậy, vừa bị chửi, vừa không thể bị thay thế.
Và quan điểm của các bạn là như thế nào? Hãy để lại bên dưới nhé!
Còn bây giờ thì xin chào và hẹn gặp lại!