TRẦN BÌNH - CAO THỦ DÙNG ĐỘC KẾ, "BÁU VẬT" CỦA LƯU BANG CHỈ ĐỨNG SAU HÁN SƠ TAM KIỆT

Đình Sự
536 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AITrần Bình là quân sư kiệt xuất của nhà Hán, nổi tiếng với trí tuệ linh hoạt và những mưu kế thực dụng. Ông đóng vai trò then chốt trong việc giúp Lưu Bang thoát hiểm, loại bỏ đối thủ và ổn định cơ nghiệp nhà Hán thông qua khả năng thích nghi chính trị tuyệt vời và sự tinh tế trong việc vận dụng cả \"âm mưu\" lẫn \"dương mưu\".
Nói về nhà Hán, người ta thường nhắc tới Hán sơ tam kiệt, đó là Trương Lương, Tiêu Hà và Hàn Tín.
Ba người có công lớn nhất giúp khai sinh ra cơ nghiệp 400 năm nhà Hán.
Tuy nhiên, đứng sau ba người này có một con người cũng vô cùng quan trọng khác
mà những miêu kế của ông đã không ít lần cứu nguy cho Liêu Bang cũng như vận mệnh của nhà Hán.
Tên của ông là Trần Bình.
Trần Bình là người thông minh tuyệt đỉnh, trí tuệ siêu phàm.
Nói về miêu thuật của Trần Bình, có thể đúc rút lại là tinh, quái, hiểm và độc.
Nếu như Trương Lương là chiến lược gia đại tài, mồi sau màn trướng định việc ngàn dặm,
vạch ra con đường chinh phục tiên hạ cho Liêu Bang,
thì Trần Bình lại là quân sự xuất sắc, chuyên giải những nước cờ bí cho Liêu Bang và tập đoàn quân sự nhà Hán.
Nếu như Trương Lương xuất sắc về miêu, tức là việc lập kế hoạch dài hạn,
thì Trần Bình lại là bậc thầy về kế, tức là cách để giải quyết những vấn đề hiện hữu ngay tức thời.
Trần Bình từng dùng kế phản gián để ly gián hạng vũ và phạm tăng
Vậy nên người đời sau có câu ví, bày miêu ngang phạm lãi, lập mẹo tựa Trần Bình.
Chào mừng đến với The Hidden Path, nơi sẽ có những hành trình đầy có khuất.
Trần Bình, người Dương Vũ, nay thuộc Đông Nam, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.
Sử ký tư Mã Thiên và hán thư không ghi rõ gia thế và cha mẹ của Trần Bình,
chỉ cho biết ông có một người Anh là Trần Bá.
Sử ký miêu tả ông là người cao lớn đẹp trai, lại ham học hỏi.
Trong khi Trần Bá thường chăm lo bài ruộng làm ăn,
thì Trần Bình chỉ chăm chú vào việc đọc sách, không chịu làm việc.
Trần Bá chăm chỉ làm lụng cài ruộng, trồng trọt cho ông thoải mái đi học ở xa.
Vì vậy mà chị dâu ghét ông không lo làm ăn, tỏ ý coi thường ông.
Trần Bá thấy vậy thậm chí đã đuổi và bỏ vợ, hết mực tin tưởng tiền đồ của người em.
Trần Bình cao lớn đẹp trai, muốn lấy vợ nhưng các nhà giàu chẳng ai chịu gả con cho.
Còn lấy người nghèo thì ông lại tỏ ý coi thường, không xứng với mình.
Mãi về sau, một người giàu có tên là Trương Phụ,
có người cháu gái từng gả chồng tới 5 lần.
Nhưng người nào lấy cô ta cũng đều qua đời, nên sau người chồng thứ 5 thì không ai dám lấy.
Trần Bình muốn lấy cô ta, Trương Phụ là người hiểu biết,
thấy trong đám trai tráng chỉ có Trần Bình là chịu khó học hành,
đọc sách thánh hiền, có chữ nghĩa, khác hẳn với những người khác chỉ biết làm thuê quốc mướn,
nên có ý kính trọng ông, về sau đã gả người cháu gái đó cho ông.
Nhà ông nhào, Trương Phụ cho mượn tiền và lụa để làm đám cưới,
rồi không ít lần cấp tiền bạc để ông ăn học.
Theo hạng vũ, cuối thời nhà Tần, thiên hạ quần hùng khởi nghĩa,
trong đó nổi bật nhất là thế lực Trần Thắng ở đất sở.
Trần Thắng xưng trương sở vương, chống Tần, nhiều lần đánh bại quân Tần.
Các nước chư hầu thời chiến quốc cũng nhân đó nổi dậy.
Ở Nghị Quốc, Nghị Cửu được quân của Trần Thắng lập làm vương.
Trần Bình thấy thiên hạ hỗn loạn, cho rằng thời cơ thành danh đã đến,
Ben rơi khỏi nhà cùng đám thanh niên về đầu quân trong Nghị Cửu.
Nhưng Nghị Cửu không trọng dụ Trần Bình, lại có người dèm pha ông trước mặt cửu.
Bình sợ, bỏ trốn khỏi nước Nghị.
Mấy năm sau, nhân sở bá vương hạng vũ tiến quân đánh Tần,
Trần Bình lại xin theo hạng vũ, được hạng vũ thu dụng.
Sau khi diệt xong nhà Tần, hạng vũ cùng với hán vương Liêu Bang tranh chấp thiên hạ.
Từ năm 205 trước công nguyên, Liêu Bang bình định được tam tần,
thế lực bắt đầu lớn mạnh, phát quân sang phía đông.
Ấn vương tư mã ngang bỏ sở theo hán, hạng vũ sai Trần Bình mang quân đánh diệt.
Trần Bình cùng các chiến hữu đã theo mình từ hồi bỏ Nghị,
đã dẫn quân tiến vào nước Ấn, hàng phục được tư mã ngang.
Khi trở về, Trần Bình được hạng vũ phong làm tín vũ quân, chức đô úy, ban 2.000 lạng vàng.
Tuy nhiên không lâu sau, quân Hán tiếp tục đông tiến, tư mã ngang lại theo Hán.
Hạng vũ tức giận, sai cha xét những người trước kia tham gia đánh tư mã ngang
vì cho rằng họ thông đồng với ngang từ trước.
Cái giận vô cớ này của hạng vũ đã khiến Trần Bình lo sợ,
ben bỏ trốn khỏi nước sở sang Hán.
Trước khi bỏ trốn, Trần Bình sai niêm phong 2.000 lượng vàng trước đây hạng vũ tặng mình,
gửi trả lại, rồi cải trang bỏ trốn, lên một chiếc thuyền qua sông Hoàng Hà.
Người treo thuyền thấy Bình người đẹp lại đi một mình, ngỡ là một viên tướng bỏ trốn.
Chắc trong người thế nào cũng có vàng ngọc, trâu báu, nên chố mắt nhìn, muốn giết Trần Bình.
Trần Bình nhanh chí biết tình hình, ben cởi áo, lao ra treo thuyền cùng.
Người treo thuyền thấy trên người ông không có gì, ben thôi.
Đại khái đó là thân thế của Trần Bình trước khi về phò Hán.
Ông là người thông minh, linh hoạt, biết tùy tình thế mà xử trí.
Ông không tuân thủ theo một chính kiến cứng nhắc nào cả mà dựa vào thời thế mà hành xử.
Cũng không câu nệ những phép tác cũ kỹ để đạt được mục đích.
Nhân tài phẳng phất chút phản anh hùng kiểu này rất hợp để trổ tài trong hàng mũ của Lưu Bang.
Giúp Lưu Bang
Trần Bình sang Hán nhờ đại phu Nguy Vô Chi mà được vào ý kiến Hán Vương.
Hán Vương giữ Trần Bình lại, trò chuyện rất tương đắp.
Biết Trần Bình từng giữ chức Đô Ý ở sở, Lưu Bang cũng phong ông làm Đô Ý,
được ngồi cùng xe với Lưu Bang và thống lĩnh các tướng.
Nhiều tướng Hán thấy ông vừa mới sang đã được phong chức cao, không hài lòng.
Năm 204 trước công nguyên, Lưu Bang tiếp tục đông tiến
nhưng lại bị quân sở đánh bại một trận lớn ở Bánh Thành.
Quân lực suy yếu phải rút về Huỳnh Dương.
Lưu Bang lúc này hiểu ra rằng mình không có tài cầm quân,
buộc phải dựa vào các nhân tài giữa trướng.
Ông phong cho Trần Bình làm Á tướng nước Hàn,
giới quyền Hàn Vương tín, đóng quân ở Quảng Vũ.
Chu Bột và Quán Anh thừa cơ dèm pha Trần Bình với Lưu Bang, tố cáo ông tham ô.
Lưu Bang tức giận, gọi người tiến cử là Nguyễn Vô Chi đến trách cứ.
Vô Chi cho rằng nếu Lưu Bang dùng Trần Bình
thì chỉ cần xét Bình là người có miêu kế làm lợi cho quốc gia là đã đủ,
không nên coi trọng những việc nhỏ nhặt.
Lưu Bang hơi siêu lòng nhưng vẫn gọi Trần Bình đến trách ông là người bộ nghĩa.
Ông tự biện hộ rằng,
thần thờ Nguyễn Vương, Nguyễn Vương không biết miêu kế của tôi
cho nên thần bỏ đi thờ Hạng Vương.
Hạng Vương không biết tin người,
những người ông ta yêu chẳng qua chỉ là họ hạ với bên anh em vợ.
Tuy có kẻ sĩ tài năng cũng không chịu dùng nên thần bỏ sở theo Đại Vương.
Thần nghe Đại Vương biết dùng người cho nên mới cởi trần,
không quản hiểm nguy mà sang đây.
Nếu thần không lấy vàng thì không có gì dùng.
Nếu như miêu kế của thần có cái gì có thể dùng được thì xin Đại Vương dùng.
Nếu không dùng được thì số vàng vẫn còn ở đấy cả.
Thần xin gói lại nộp vào của công, xin được từ chức mà về.
Lưu Bang bị thuyết phục, Đích Thân tạ lỗi với Trần Bình,
rồi phong ông làm hộ quân trung quý.
Các tướng khác không dám nói rẻm pha thêm nữa.
Năm 204 trước Công Nguyên, quân sở vây thành Huỳnh Dương rất nặt,
thành sắp vỡ, vua tôi Lưu Bang chở chết,
thì Trần Bình bay miêu kế đánh lửa Hạng Vũ.
Ông cho kỷ tín một người có tướng mạo giống Hán Vương,
ăn mặc quần áo quân vương, ngồi trong cỗ xe huỳnh ốc của nhà vua,
ra phía cửa Đông Thành đầu hàng Hạng Vũ.
Lưu Bang, Trần Bình cùng các tướng lẻn theo lối này thoát vây quân sở.
Chí khôn tuyệt thế của Trần Bình đã có sức mạnh hơn 10 vạn binh mã,
cứu sống Lưu Bang.
Cũng trong năm 204 trước Công Nguyên,
Lưu Bang khốn đốn, phải xin cắt Huỳnh Dương để giảng hòa,
nhưng Hạng Vũ không nghe.
Trần Bình hiến kế cho Lưu Bang dùng vàng bạc ly rán vua tôi Hạng Vũ.
Lưu Bang cho là phải, không tiếp núi,
mà trao cho ông 4.000 lạng vàng sang nước sở, thỏa sức tiêu dùng,
không hỏa đến việc phân phát thế nào.
Đến sở, Trần Bình xuất tiền mua chuộc phản gián vào quân sở,
phao tin nhóm Trung Ly Muội làm tướng của Hạng Vương.
Tuy lập được nhiều công trạng nhưng không được cắt đất phong hầu,
đã muốn hợp quân với Hán mà phản sở.
Hạng Vũ không tin Trung Ly Muội, muốn điều tra,
bèn sai xứ đến Hán, dân Thái Lao.
Lưu Bang giả vờ kinh ngạc nói,
ta tưởng là xứ giả của Á Phụ, hóa ra xứ giả của Hạng Vương.
Ngụ ý rằng Lưu Bang tưởng là người của Phạm Tăng Tới,
không ngờ là người của Hạng Vũ,
ý muốn vờ rằng Phạm Tăng thông đồng với Hán.
Xứ giả về sở, thuật lại lời của Lưu Bang,
Hạng Vũ do đó nghi ngờ Phạm Tăng.
Kỳ thực, đây lại là kế hiểm của Trần Bình.
Khi Tăng muốn đánh gấp để hạ thành Huỳnh Dương,
tiêu diệt Lưu Bang thì Hạng Vương không chịu nghe theo.
Phạm Tăng tức giận, từ chức về Bành Thành thì bệnh chết.
Nước sở mất nhân tài quan trọng nhất như gãy đi một cột trụ.
Tới lúc này thì quân sở bắt đầu suy yếu
và không còn là đối thủ của quân Hán nữa.
Tập đoàn quân sự Lưu Bang cũng trừ đi được mối họa nguy hiểm nhất,
mang tên Phạm Tăng.
Lưu Bang sau đó lại nghe theo kế của Trần Bình,
cho 2.000 người con gái ra cửa đông thành Huỳnh Dương.
Quân sở thấy vậy, tập trung ở phía đông.
Lưu Bang và Trần Bình nhân đó theo cửa Tây ra khỏi Huỳnh Dương,
về phía Tây tập hợp lại lực lượng.
Lập mưu bắt Hàn Tín
Năm 203 trước Công Nguyên,
Đại tướng Hàn Tín kéo quân vào chiếm nước Tề,
tự lập làm Tề Vương, sai sứ thông báo với Lưu Bang.
Lúc này Lưu Bang lại bị hạng vũ vây khốn ở Huỳnh Dương lần thứ 2.
Khi sứ giả của Hàn Tín đến xin cầu phong tước vương,
Lưu Bang cả giận vì Hàn Tín không chịu mang quân cứu.
Trần Bình vội dẫm lên chân Lưu Bang để nhắc nhở.
Lưu Bang tỉnh ngộ,
bèn sai trương lương về phía đông,
đồng ý phong vương cho Hàn Tín.
Chính nhờ tình tiết này mà sau này trước trận đại chiến cai hạ,
Hàn Tín đã phần nào vì ân tình của Lưu Bang
đã họp quân cùng Lưu Bang, Anh Bố, Bành Việt đánh bại hạng vũ.
Năm 202 trước Công Nguyên,
Lưu Bang đánh bại quân của hạng vũ lên Ngôi Sương Đế.
Tháng 7 năm 202 trước Công Nguyên,
Trần Bình theo Lưu Bang đánh nước Yên,
dẹp được Yên Vương tạng đồ.
Năm 201 trước Công Nguyên,
có người dân thư nói Hàn Tín làm phản,
các tướng đề nghị khởi Bình đi đánh.
Lưu Bang cả giận trong lòng vốn đã muốn trừ Hàn Tín từ lâu,
định điểm tướng kéo đi đánh dẹp.
Trần Bình vội can.
Trần Bình hỏi,
quân của Bệ Hạ tinh Anh hơn quân của Hàn Tín không?
Lưu Bang nói, không sánh kịp.
Trần Bình lại hỏi,
tướng của Bệ Hạ có mạnh hơn tướng của Hàn Tín không?
Lưu Bang nói, sao sánh bằng.
Trần Bình nói, quân không tinh bằng người ta,
tướng không mạnh bằng người ta,
lại muốn cắt quân đi đánh nhau.
Như vậy là đẩy người ta vào con đường làm phản.
Sau đó mới bản kế sách bí mật bắt Hàn Tín.
Trần Bình can, không nên dùng binh.
Vì Hàn Tín giỏi quân sự,
cả nước Hán không có ai là địch thủ.
Nếu động binh, Lưu Bang không thể thắng.
Nên giả vờ đi chơi đến Đầm Vân Mộng,
họp chư hầu ở đất Trần.
Hàn Tín ở gần đó sẽ phải đến ngành tiếp,
có thể nhân đấy bắt sống.
Lưu Bang nghe theo,
quả nhiên bắt sống được Hàn Tín,
dáng làm hoài âm hầu.
Lưu Bang phong cho Trần Bình,
đời đời làm hộ rũ hầu.
Ông đề nghị Lưu Bang thưởng cho Nguy Vô Chi
là người tiến cử ông.
Lưu Bang bèn trọng thưởng cho Vô Chi.
Kế lạ thiếu vua
Năm 201 trước công nguyên,
quân hung nô kéo quân đánh nhà Hán.
Năm 200 trước công nguyên,
Hán Cao Tổ đem quân đánh hung nô.
Bị quân hung nô đánh bại một trận lớn ở Bạch Đăng
và bị vây khốn ở Bành Thành trong 7 ngày.
Quân sĩ mệt mỏi, sắp không thể chịu nổi,
thì Trần Bình hiến kế với Hán Cao Tổ,
sai xứ tặng cho Yên Chi Hoàng hậu của vua hung nô
một bức tranh vẽ người con gái đẹp nhất Hán Quốc
mà Lưu Bang định tặng vua hung nô để xin giảng hòa.
Yên Chi nổi cơn ghen, tác động thiền vu mặc đốn, lùi bình.
Quân Hán được giải vây.
Không lâu sau, Cao Đế tuần thu ở Khúc Nghịch
thấy phong tảnh đông đúc,
bèn đem phong 5.000 hộ ở đấy cho Trần Bình,
hiệu là Khúc Nghịch Hậu,
bỏ đất phong trước đây của ông là hộ rũ.
Những năm tiếp theo,
Trần Bình tiếp tục tham gia các chiến dịch dẹp loạn Trần Hy,
anh bố sáu lần bày kế cho Cao Tổ
đều thành công và được thưởng công bằng việc nâng thêm phong ấp.
Tuy nhiên các kế của ông rất bí mật,
người đời sau không ai biết.
Năm 195 trước công nguyên, Yên Vương Lưu Quán làm phản,
Hán Cao Tổ đang bị bệnh, sai phản khói đánh dẹp.
Sau có người dèm pha phản khói muốn tạo phản,
Lưu Bang sai Trần Bình và Chu Bột đánh phản khói,
dặn khi vào cứ chém đầu khói, không cần tấu trước.
Trần Bình cùng Chu Bột đến chạy phản khói, bắt được khói,
nhưng Trần Bình biết Hán Cao Tổ sắp mất rồi,
mà phản khói lại có vợ là Lã Tu, em gái Lã Hậu.
Nếu giết khói, e Lã Hậu sẽ oán mình,
nên chỉ bãi trước phản khói và một mình áp giải về Trường An,
để Chu Bột ở lại tiếp tục bình định đất yên.
Quả đó có thể thấy sự linh hoạt và thông minh của Trần Bình tới đâu.
Đang trên đường về, Bình nghe tin Cao Tổ đã chết,
Huệ Đế nối ngồi, Ben phi ngựa về kinh trước,
bỏ xe tù và phản khói phía sau.
Lã Thái Hậu ban chiếu cho Trần Bình đóng ở Huỳnh Dương.
Ông nhận chiếu, nhưng sau đó lại nhanh chóng về Trường An khóc tàng Cao Tổ.
Lã Hậu có ý thương, phong làm Lăng trung lệnh,
ra lệnh dạy rỗ Huệ Đế, còn phản khói sau đó được xá miễn và phục tước.
Năm 189 trước Công Nguyên, Thừa tướng Tào Tham qua đời,
Lã Thái Hậu phong Vương Lăng làm hữu thừa tướng ngôi thứ nhất,
Trần Bình làm tả thừa tướng ngôi thứ hai.
Sang năm 187 trước Công Nguyên, Hán Huệ Đế băng Hà,
Lã Hậu lập Thiếu Đế lên ngôi, lại muốn phong cho thân thích họ Lã làm Vương,
bèn hỏi Vương Lăng.
Lăng can rán đến cùng, Thái Hậu hỏi Trần Bình và Chu Bột,
hai ông lựa lời nói thuận theo để vừa lòng Lã Hậu.
Lã Hậu bằng lòng, Vương Lăng do đó trách cứ Trần Bình và Chu Bột.
Trần Bình nói, hôm nay bẻ Thái Hậu trước mặt,
can rán giữa triều đình thì chúng tôi không bằng ông,
nhưng việc bảo toàn xã Tắc, giữ vững cho con cháu họ Lưu thì ông sẽ không bằng chúng tôi.
Tháng 11 năm đó, Lã Hậu bãi chức Vương Lăng đổi làm Thái Phó cho Thiếu Đế,
nhưng không có thực quyền, rồi đổi Trần Bình làm hữu thừa tướng,
thẩm tự cơ làm tả thừa tướng.
Sau đó, Lã Hậu tôn cha mình là Lịch Hậu làm Lã Điệu Vũ Vương,
lập anh mình là Lịch Hậu Lã Thai làm Lã Túc Vương,
Em Thái Hậu là Lã Tù, cũng là vợ Phản Khói.
Hận việc trước đây Trần Bình bàn mưu với Cao Tổ để giết Phản Khói,
thường dem pha ông Háo sắp và thích uống rượu trước mặt Thái Hậu.
Trần Bình thấy vậy càng làm dữ hơn trước.
Thái Hậu thấy vậy, cho rằng Trần Bình là kẻ không có chi lớn,
thích tiểu sắp, không phải là địch thủ cản trở quyền lực,
nên chẳng những không giận mà còn mừng rỡ.
Năm 180 trước Công Nguyên, Lã Thái Hậu mắc bệnh nặng,
bèn sai Triệu Vương Lã Lộc làm Thượng Tướng Quân, coi cánh quân ở phía Bắp.
Lã Vương Lã Sản coi cánh quân phía Nam,
để đề phong các đại thần lật đổ họ Lã sau khi bà qua đời.
Rồi phong Lã Sản làm Thừa Tướng,
lấy con gái Lã Lộc làm Hoàng Hậu cho Hán Thiêu Đế để tăng cường vây cánh.
Cùng năm đó, Lã Thái Hậu qua đời,
các đại thần và tôn thất họ Lưu bắt đầu nổi dậy.
Điệu Hệ Vương nước Tề là Lưu Trương,
cháu nội Hán Cao Tổ muốn đánh họ Lã
để lập anh mình là Tề Vương Lưu Tương làm thiên tử.
Bèn xin Tề Vương đem binh về hướng Tây,
giết họ Lã mà làm vua.
Chư Khư Hầu và Đông Mưu Hầu cùng các quan đại thần sẽ làm nội ứng.
Trước sức mạnh của quân Tề,
Thừa Tướng Lã Sản sai Quán Anh cầm binh đánh dẹp.
Nhưng Quán Anh lại bàn với quân lính,
đóng binh ở Huỳnh Dương và sai xứ đến phía Đông liên kết với Tề Vương,
dự định khi họ Lã làm biến sẽ tiêu diệt.
Trần Bình bàn với Chu Bột,
thấy người con của Khúc Chu Hầu Lịch Thương thân với Lã Lộc.
Bèn ép Lịch Thương bảo con đến nói với Lã Lộc
nếu ở lại Kinh cầm binh sẽ bị nghi ngờ,
chi bằng trao ấn cho Thái Uý mà về nước triệu.
Nội bộ họ Lã biết việc ấy nhưng chưa dứt khoát quyết định.
Lã Tu biết được mưu đồ đó, không đồng ý.
Lã Lộc và Lã Sản quyết định phát động binh biến nhưng lại do dự.
Nhưng cùng lúc Chu Bột bảo tướng Kỷ Thông
cầm cờ tiết giả làm lệnh Hoàng đế trao cho mình cầm đầu đạo quân phía Bắc
rồi ra lệnh cho Lịch Thương và Lưu Yết tới thuyết phục Lã Lộc lần nữa.
Lã Lộc nghe theo, trả tướng ấn lại, giao cho Chu Bột cầm quân.
Chu Bột nắm được đạo quân phía Nam.
Trần Bình sai chư Khư Hầu đến giúp Chu Bột
giết được Lã Sản ở cung vị ương,
diệt tộc họ Lã, lập Đại Vương Hằng lên ngồi hán văn đế.
Trần Bình lập được công to trong sự biến này.
Ông không động binh mà diệt được thế lực họ Lã,
tránh được cảnh binh đau máu chảy đầu rơi cho triều đình nhà hán.
Thời văn đế
Văn đế lên ngôi muốn phong thưởng cho Trần Bình,
định phong ông tước vị cao nhất triều đình.
Trần Bình nhận thấy nếu nhận tước vị cao nhất,
cao hơn các tướng lĩnh khác sẽ có nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn,
thậm chí còn bị diệt trừ, bèn cáo bệnh,
rồi tâu rằng Chu Bột mới là người có công lớn nhất chỉ huy quân sĩ lật đổ họ Lã.
Ông nhường địa vị tôn quý cho Chu Bột.
Hán văn đế đồng ý phong Bột làm hữu thừa tướng,
còn Bình làm tả thừa tướng ngôi thứ hai,
lại ban cho ông 1.000 cân vàng và phong ấp thêm 3.000 hộ,
nâng tổng số thực ấp của Trần Bình lên vạn hộ.
Nhưng Chu Bột chỉ là tướng giỏi việc quân sự, không quen việc hành chính.
Khi không điều hành được triều chính bị hán văn đế trách,
Chu Bột thẹn cáo bệnh xin từ chức để một mình Trần Bình làm thừa tướng.
Tối khi này Trần Bình mới thâu tóm được hoàn toàn quyền lực.
Lời bàn
Năm 178 trước công nguyên, Trần Bình qua đời,
được đặt tên Thụy là Hiến Hầu,
con ông là Trần Mại tập tước làm Cung Hầu.
Năm 178 trước công nguyên, Trần Bình qua đời,
Thụy là Khúc Ngịch Hiến Hầu,
con là Trần Mại nối tước tức Cung Hầu,
2 năm sau thì mất,
con là Trần Khôi nối tước tức Giản Hầu,
23 năm sau thì mất,
con Trần Khôi là Trần Hà nối tước.
Năm 130 trước công nguyên,
Trần Hà phạm tội cướp vợ người khác nên bị chém ở chợ,
tước vị xóa bỏ.
Về sự việc này, có gắn với một điển tích.
Lúc sinh thời, Trần Bình từng nói
Phép đạo gia thường nhắc tới âm mưu và dương mưu.
Hiểu nôm na, dương mưu là lợi mình lợi người,
còn âm mưu là lợi mình mà hại người.
Trần Bình hiểu rõ kế của mình là kế hiểm, kế độc.
Để đạt được mục đích,
thường phải hy sinh hoặc triệt hạ đối thủ,
nên mới dự tính tới điều đó.
Về sau, chắc ông là Trần Trưởng,
sống vào thời Hán Vũ Đế.
Lúc đó họ vệ được xủng ái.
Người chắc Trần Trưởng này muốn nhờ bên họ ngoại nhà vua là họ vệ,
muốn họ Trần được phong lại tước vị,
nhưng cuối cùng cũng không được.
Sử ra từ Mã Thiên có lời nhận xét về Trần Bình như sau.
Khi Trần Thừa tướng còn nhỏ,
vốn ham học thuật của Hoàng đế, Lão Tử,
trong khi chia thịt ở trên thớt,
ông ta cũng đã có trí khí lớn,
len lõi giữa nơi sở, ngụy dối loạn,
cuối cùng về với Cao Tổ,
thường đưa kế lạ, cứu nạn dối ghen,
trừ được cái lo của nước nhà.
Đến thời Lã Hậu là lúc biến cố nhiều,
nhưng Bình rốt cục vẫn tự thoát nạn,
yên định được tôn miếu,
khi chết được danh thơm, gọi là tướng hiền,
há không phải trước sau toàn vẹn đó sao?
Nếu không phải là bậc có mưu trí,
thì làm sao lại được vậy?
Hán Cao Tổ nhận xét rằng
Trần Bình tuy trí khôn có thừa,
nhưng không thể gánh váp việc nước một mình.
Trần Bình có thể được xem là bậc đại trí
của thời Tần Mạt, Hán Sở và Hán Triều.
Ông suốt sự nghiệp bày nhiều kế lạ
và có công không nhỏ trong việc
thiết lập 400 năm cơ nghiệp nhà Hán.
Nếu như sau khi lên môi,
Lưu Bang hết lượt trừ khử
các công thần như Anh Bố, Bành Việt, Hàn Tín,
Tiêu Hà phải giả vờ Tham Âu để thoát chết,
Trương Lương phải bỏ trốn để bảo toàn tính mạng,
Phan Khoái thì bị tước binh quyền và suýt chết,
thì chỉ có một mình Trần Bình
trong nhóm công thần hàng đầu
là vẫn còn được tin dùng
và thân cận bên cạnh Lưu Bang.
Đủ để thấy cái tầm của Trần Bình tới đâu.
