Vì Sao Chỉ Dám Khai Quật 2%? TAM TINH ĐÔI Đang Giấu Cái Gì? | Thế Giới Cổ Đại
Ba nghìn năm trước, một nền văn minh lặng lẽ biến mất khỏi mặt đất, không để lại chữ viết, chỉ để lại những ánh mắt bằng đồng nhìn thẳng vào tương lai. Rồi vào một buổi chiều năm 1929, lưỡi cuốc của hai cha con nông dân vô tình mở toang cánh cửa bị phong ấn – và Tam Tinh Đôi trỗi dậy từ lòng đất. Những khuôn mặt đồng mắt lồi, tượng người khổng lồ, cây thần cao năm mét, quyền trượng vàng ròng… tất cả như đến từ một thế giới khác. Kỹ thuật đúc đồng chứa phốt pho – vượt xa hiểu biết thời đại – khiến giới khảo cổ choáng váng. Ai đã dạy họ làm điều đó? Người Thục cổ có thật chỉ là cư dân bản địa, hay là hậu duệ của một nền văn minh đến từ phương xa – thậm chí ngoài Trái Đất? Giữa hàng vạn hiện vật, không một ký tự nào được tìm thấy. Chỉ còn những ánh mắt bằng đồng – lạnh lùng, kiêu hãnh, như đang đợi ai đó đọc lại câu chuyện bị lãng quên. Tam Tinh Đôi không chỉ là một di chỉ khảo cổ. Nó là bản tuyên ngôn còn sót lại của một thế giới từng thách thức cả lịch sử nhân loại. Cảm ơn mọi người! Chúc mọi người có những giây phút vui vẻ. Mời các bạn theo dõi video trên kênh Thế Giới Cổ Đại. ✔️ Thế Giới Cổ Đại sẽ đồng hành cùng các bạn trong hành trình giải mã những sự kiện kỳ bí xuyên suốt dòng lịch sử của loài người... ✔️ Chúc các bạn có những phút giây thư giãn và bổ ích! #thếgiớicổđại#bíẩn#tamtinhđôi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
The video explores the enigmatic Sanxingdui archaeological site in Sichuan, China, where thousands of 3,000-year-old bronze and jade artifacts have been unearthed. These discoveries, ranging from protruding-eye masks to divine trees, challenge traditional historical narratives and suggest profound links between archaeology, ancient mythology, and potential global cultural exchanges.
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại.
Tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Trên mạng từng lan truyền một câu đố địa ngục khiến không ít người cầm nín.
Bạn có thể tìm ra điểm chung giữa bốn cụm từ
Lý Bạch, Tam Tình Đôi, Con Đường Tơ Lụa Phương Nam, Thịt Cà Mầu Ni không?
Nghe thì có vẻ rời rạc như bốn hành tình xa nhau.
Nhưng nghiên cứu kỹ thì nó lại có mối liên hệ cực kỳ mật thiết.
Và câu trả lời nó sẽ khiến cho toàn bộ lịch sử nhân loại phải viết lại.
Sẽ có người nhận ra Lý Bạch và Tam Tình Đôi có mối liên hệ với nhau.
Bởi Tam Tình Đôi là di chỉ của nền văn minh thục cổ, mà Lý Bạch từng viết bài thục đạo nàn.
Còn Con Đường Tơ Lụa Phương Nam, dù không dành lịch sử,
người ta vẫn đoán được nó liên hệ với Vùng Tứ Xuyên, Vân Nam, nơi văn minh thục từng rực rỡ.
Nhưng Phật Thích Cam Môn Ni thì sao?
Phật Tổ thì liên quan gì đến mặt nạ đồng, tượng khổng lồ hay trượng vàng ở đất thục xa xôi?
Nghe thật vô lý.
Nhưng khi xem hết video này, bạn sẽ thấy sợi dây kết nối ấy không chỉ có thật mà còn kinh hoàng hơn bạn tưởng.
Bởi Tam Tình Đôi không đơn thuần là một di chỉ khảo cổ.
Giới trúc Trung Quốc từng mô tả Tam Tình Đôi như sau.
Và đúng như vậy, từ mặt nạ lồi dị dạng, tượng người khổng lồ đứng uy nghi,
thân thụ băng đông cao gần 5 mét, đến quyền trượng băng vàng nguyên khối, tất cả đều quá kỳ lạ.
Có người thẳng thường nói Tam Tình Đôi không phải của người trái đất.
Vậy rốt cuộc, Tam Tình Đôi đến từ đâu?
Vì sao nó biến mất?
Và tại sao không ai dám đào tiếp di chỉ này?
Hôm nay, hãy cùng kênh Thế Giới Cổ Đại mở cánh cổng đã bị phong ấn suốt 3.000 năm
và chuẩn bị tinh thần vì thứ bạn sắp thấy có thể sẽ khiến bạn nghi ngờ toàn bộ lịch sử nhân loại.
Khu di chỉ Tam Tình Đôi nằm ở bờ nam sông Áp Tử Hà, phía tây bắc thành phố Quảng Hán, tỉnh Tứ Xuyên.
Tại đó có ba gỏ đất hơi nhô cao xếp theo một đường thẳng, tựa như ba vị sao lấp lánh trên bầu trời đêm, gọi là Tam Tình Đôi.
Ở phía đông bắc Tam Tình Đôi còn có một đoạn tường thành đổ nát công như Vàng Trăng, đối mặt với ba gỏ đất, được người địa phương gọi là Vành Trăng.
Tam Tình Đôi cộng với Vành Trăng còn được ví von là ba sao nửa vầng.
Mùa xuân năm 1929, độc băng Thanh Đô bước vào vụ gieo trồng bận rộn nhất trong năm.
Hai cha con họ Yên ở thôn Trân Vũ, chấn Nam Hưng, Quảng Hán đang đào mưa ngay cạnh nhà.
Họ vừa bổ một cuốc, đã nghe tiếng phụt một tiếng, cánh cửa dẫn đến một nền vật mình đã ngủ yên nghìn năm vỗng được hai cha con nhà Yên mở toang.
Họ đào lên hơn ba trăm món ngọc khí quý giá, ở thời ấy đây đúng là một khoản trời trò.
Yên đạo thành vừa mừng vừa lo, cẩn thận giấu kỹ tất cả trong nhà, rồi dần dần mang ra thị trường đô cổ bán bớt.
Tuy hai cha con giữ kín chuyện, nhưng những hiện vật kỳ lạ này vẫn khiến người ta chú ý.
Vành Trăng nhanh chóng nổi danh nhờ lô ngọc khí ấy, dần làng thi nhau đào bới quanh nhà để tìm báu vật.
Năm 1934, nhà chuyên giáo kiêm khảo của người Mỹ Graham cùng với Cộng sư với nhà họ Yên tổ chức một cuộc khai cuộc không chính thức.
Nhưng đào được gần 10 ngày thì phải kết thúc vội vì thổ phỉ quá lộng hành.
Dù vậy, lần đó đã phát hiện hơn 600 hiện vật bằng ngọc, đá, gốm, còn nhiều hơn đợt đầu của nhà họ Yên.
Năm 1963, Viện trường Bảo tàng Tây Nam Phùng Hán Ký và Cộng sư tiến hành một cuộc khảo sát khảo cổ kéo dài vài tháng ở khu vành trăng của Tạm Tình Đồi.
Tiếc rằng không lâu sau khi kết thúc, ông Phùng lầm bệnh, sức khỏe suy kém và kết quả cũng không kịp biên soạn công bố.
Tạm Tình Đồi thực sự tình giấc trước thế giới vào năm 1986 khi hố số 1 và số 2 được phát hiện.
Hố số 1 lần lượt cho ra trượng vàng, mặt nạ vàng, đầu người băng đông, ngọc khí, đồng khí, kim khí, hơn 400 món.
Hố số 2 phát hiện tượng đầu người khổng lồ, thân thụ băng đông, đàn tế băng đông, nhiều đầu người băng đông dán lá vàng cùng những vỏ sò tiền tệ lúc bấy giờ.
Đến năm 2019, có 8 hố được khai quật, tổng cộng gần 13.000 hiện vật đã được đánh số xuất lộ, trong đó có 3.155 món tương đối nguyên vẹn.
Tại hố tế tự số 7 và số 8 xuất hiện một lượng lớn hiện vật chưa từng thấy về hình thái như khí cụ dặn lưới lưng rùa, tượng người thân rắn đội tôn, tượng người quý tục đầu xoài lệnh.
Trong quá trình khai quật, các chuyên gia lấy gần 200 mẫu từ 6 hố để định niên đại bằng CB4.
Qua đó xác định thời điểm chôn vùi của một số hố rơi vào khoảng 3.200 đến 3.000 năm trước, tức tương đương thời kỳ thương muộn ở Trung Nguyên.
Trong nhiều thập kỷ qua, giới học thuật chưa từng dừng nghiên cứu về tam tinh đôi, bản thân di trị này cũng đã đủ huyền bí để người ta trầm trồ.
Bất cứ ai biết chút ít về tam tinh đôi hẳn đều ấn tượng mạnh với mặt nạ đồng xanh mắt lồi.
Hiện vật này phát hiện năm 1986 tại hố số 2, bề ngang 138cm, cao 64.5cm.
Đôi mắt hình trụ lồi thẳng ra ngoài, hai tay khắc văn án mở rộng sang hai phía tạo hình kỳ dị là chiếc mặt nạ đồng niên đại sớm nhất và kích thước lớn nhất từng biết trên thế giới.
Đây chẳng phải là hình tượng thiên lý nhãn và thuận phòng nhĩ trong thần thoại được cụ thể hóa hay sao.
Trong cuốn thục trí có chép rằng thủ lĩnh của nước thục cổ tên là Tàm Trung.
Vì ông có đôi mắt mọc dọc lồi ra phía trước rất khác thường nên được người dân tôn làm vua.
Tàm Trung cho xây dựng cửa quan và cửa quả, hai loại cổng nghỉ lễ, dân chúng tin phục và làm theo.
Từ đó, người thục xưa gọi những ai có đôi mắt đặc biệt như vậy là giống người mắt dọc.
Tàm Trung được coi là tổ tiên và người bảo hộ của nước thục.
Đặc trưng ngoại hình là mắt lồi ra phía trước như càng cua, rất giống với các mặt nạ đồng ở Tam Tinh Đôi.
Ngoài ra, trong Sơn Hải Kinh, Đại Hoang Bắc Kinh cũng có nhắc đến một vị thần tên là Tung Mục.
Tung Mục sống ở phía bắc Sích Thủy, trên núi Trương Vĩ, ngoài biển Tây Bắc.
Ông là một thiên thần mật người, thân rắn, mắt thẳng và dài.
Truyền thuyết kể rằng, mỗi khi ông nhắm mắt thì trời tối, mở mắt thì trời sáng,
một biểu tượng rất rõ ràng của quyền nặng ánh sáng và thời gian.
Đôi mắt ấy chính là Tung Mục, tức mắt dọc, tương ứng với hình ảnh người mắt lồi trong truyền thuyết thục cổ.
Kỳ lạ hơn, chữ Thục trong văn tự giáp cốt cổ xưa cũng có hình dáng rất giống một sinh vật có thân rắn, mặt người.
Giống với hình tượng của thần Trúc Long trong Sơn Hải Kinh.
Một hiện vật nổi bật ở bảo tàng Tam Tinh Đôi là thân trụ bằng đồng, cây thần.
Cũng có ghi chép tương ứng trong Sơn Hải Kinh.
Từ năm 1986 đến nay, tại 8 hộ tế tự khai quật ở di trị Tam Tinh Đôi,
các nhà khảo cổ đã phát hiện tổng cộng 8 cây thần bằng đồng.
Trong đó phục dựng được 3 cây, gọi là thân trụ số 1, số 2 và số 3.
Thân trụ số 1 là cây lớn nhất, được phát hiện ở hồ số 2, cao 3,96m, gần đỉnh đã bị thiếu mất.
Nên các chuyên gia ước tính khi còn nguyên vẹn, cây phải cao khoảng 5m.
Cây được phục dựng từ hơn 200 mảnh đồng vỡ vụn,
và hiện là hiện vật bằng đồng lớn nhất từng được tìm thấy trong khảo cổ Trung Quốc.
Cấu trúc của thân trụ rất đặc biệt, gồm 3 tầng.
Mỗi tầng có 3 cành lớn, tổng cộng 9 cành.
Các cành mềm mại rùn xuống, giữa mỗi cành lại có một nhánh nhỏ, trên đó có chim thần đậu.
Một bên thân cây còn có một con rồng bằng đồng,
dáng vẻ nghiêm trang, chân minh nhẹ nhàng xuống dưới,
thể hiện rõ nét sự kết hợp giữa biểu tượng thần linh, thiên nhiên và quyền lực trong văn hóa cổ thục.
Ngày nay, để chế tác một tác phẩm kim loại phức tạp như vậy cũng không dễ dàng.
Mà đồ đồng cách đây mấy nghìn năm thường là hình học khá quy tắc để tiện đục.
Vì thế, đồ đồng tam tinh đôi không nghi ngờ gì là kỹ tiện bậc nhất cùng thời.
Còn thân trụ bằng đồng chính là đỉnh cao.
Về ý nghĩa của thân trụ, cây thần, tìm thấy tại tam tinh đôi,
hiện có ba giả thuyết nổi bật được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Thứ nhất, thân trụ là cây phủ tàng trong sơn Hải Kinh.
Theo Hải ngoại Đông Kinh, một phần của sơn Hải Kinh,
ở phía bắc nước Hắc Sỉ có một nơi gọi là Thang Cốc.
Giữa biển Thang Cốc có một cây rất lớn tên là phủ tàng,
nơi 10 mặt trời thay phiên nhau tắm rửa.
9 mặt trời đậu trên những cành thấp để nghỉ ngơi,
còn một mặt trời nằm trên cành cao nhất.
Nếu chúng ta xem những con chim trên thân trụ bằng đồng là Thái Dương Thần Điều,
tức là chim mặt trời,
thì theo mô tả này, đỉnh của thân trụ lẽ ra phải có thêm một cành trên cùng,
và trên đó có một con chim mặt trời.
Nếu sau này các cuộc khai quật tìm thấy phần đỉnh bị thiếu ấy,
thì rất có thể thân thoại sẽ chính thức bước ra hiện thực.
Giả thuyết thứ hai, thân trụ là kiến mộc,
nghĩa là thang trời, nối giữa con người và thần linh.
Cũng theo Sơn Hải Kinh, kiến mộc là cây thần nối liền trời đất,
được người xưa xem là cầu nối giữa con người và thế giới thần linh.
Trong quan niệm cổ đại, người hành lễ, vu sư,
có thể leo lên cây thần hoặc dùng cây làm điểm liên kết,
để tiếp xúc với cõi siêu nhiên.
Do đó, thân trụ trong tam tinh đôi cũng có thể chính là cây thang trời,
biểu tượng của nghi lễ và quyền năng giao tiếp với thần giới.
Còn giả thuyết thứ ba, thân trụ là nhược mộc,
cây mặt trời trong Hoài Nam Tử.
Trong sách Hoài Nam Tử Địa Hình Huấn có viết rằng,
nhược mộc nằm ở phía tây của kiến mộc,
tại nơi gọi là Mạc Hiễu,
nơi có 10 mặt trời tỏa sáng bằng hoa của cây thần.
Khác với phù tăng ở phương Đông,
nhược mộc đại diện cho ánh sáng phương Tây,
cũng là một biểu tượng mặt trời và vũ trụ cổ đại.
Dù là phù tăng, kiến mộc hay nhược mộc,
thần thụ bang Đông đều đang kể cùng một điều,
thần thoại thượng cổ có lẽ không phải chỉ là thần thoại.
Một trong những hiện vật ấn tượng nhất tại hồ số 2 tam tinh đôi
là tượng Đại Lập Nhân, cao 2,62m,
được xem là bảo vật chấn giữ cả bảo tàng
và luôn gợi ra vô vàn suy đoán.
Tượng mô tả một người đứng thẳng trang nghiêm,
đội mũ cao, trên mũ chạm hoa văn hình chữ thọ
và các họa tiết hình chữ hồi.
Gương mặt nổi bật với mắt lồi, mũi cao,
rất khác với nét mặt Á Đông truyền thống.
Hai tay ông vòng trước ngực,
giống như đang cầm một vật gì đó,
dài khoảng 4 thước, gần 1,3m.
Nhưng ông cầm cái gì?
Đến nay vẫn chưa có lời giải thống nhất.
Có người đoán là Ngọc Tòng,
ông Ngọc Nghì Lễ,
có người bảo đó là ngà vội,
có người lại cho là quyền trưởng.
Thậm chí có học giả cho rằng
ông chẳng cầm gì cả,
đó chỉ là tư thế tượng trưng trong Nghì Lễ Tế Thần.
Riêng trong Sơn Hải Kinh
lại có một cách lý giải kỳ lạ hơn.
Tượng này có thể đang cầm 8 con rắn,
tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng của thần linh.
Dỡ vào trang phục,
đồ trang sức và phong cách trạm trổ,
nhiều học giả cho rằng
đây là hình ảnh của một Đại Tư Tế,
người đứng đầu Nghì Lễ Tế Tự của nước Thục Cổ.
Văn hóa thục rất tôn sùng rồng và rắn.
Tại Tàn Tinh Đôi từng tìm thấy nhiều rắn bằng đồng,
nên việc Đại Tư Tế dùng bát xà
8 con rắn trong Nghì Lễ cũng hoàn toàn hợp lý.
Trong các đợt khai quật gần đây,
tại các hố từ số 3 đến số 8,
các nhà học cổ lại tìm thấy nhiều món đồ đồng
có tạo hình kỳ quạc đến mức,
hài hước,
được cư dân mạng gọi vui là những kẻ kỳ quái.
Chẳng hạn như bức tượng nhỏ tiểu lập nhân bằng đồng
tìm thấy năm 2021.
Tay nghề thì cực kỳ tinh xảo,
nhưng nhìn thế nào cũng giống huyệt
Ultraman xuyên không từ tương lai về quá khứ.
Và Ultraman là siêu nhân điện quang đấy các bạn.
Lại có một số bức tượng được đặt tên là
đồng nhân lập pháp,
tượng người làm luật.
Ở hố số 3,
dáng vẻ nghiêm trang như một quan tòa thời tam quốc,
khiến nhiều người liên tưởng đến ra cắt lượng
phiên bản cosplay.
Còn một món nhỏ xíu nhưng đáng yêu vượt cùng,
đó là viên gốm tròn xoe,
nhìn như hệt ống heo đất
từng được dùng để bỏ ly xì thời thờ ấu.
Rồi người ta bắt đầu hỏi đùa,
Một câu hỏi vui,
nhưng biết đâu lại chạm trúng một sự thật
chưa ai từng nghĩ đến.
Việc tam tinh đôi phát hiện nhiều đồ đồng đến thế,
khiến người ta phải tự hỏi,
quanh tam tinh đôi không có mỏ đồng,
vậy nguyên liệu đúc của người thục cổ lấy từ đâu ra?
Rồi số lượng ngà voi lớn như vậy,
lẽ nào mấy nghìn năm trước,
tứ xuyên voi đi từng đàn?
Lại thêm hàng nghìn vỏ so tiên tê,
dí trì nằm sâu trong nội địa,
thì vỏ so từ đâu mà có?
Về nguồn đồng của đồ đồng tam tinh đôi,
hiện khảo cổ học vẫn chưa có kết luận rực khoát.
Năm 2012,
các chuyên gia phát hiện trong hộp kim của đồ đồng tam tinh đôi
có một thành phần khác thường,
một đồng vị trì mang tính phóng xạ,
họ gọi là trì dị thường.
Trung hợp là trong đồ đồng khai quật ở Ngô Thành, Giang Tây,
cũng có thành phần trì dị thường này.
Mà cạnh Ngô Thành, Giang Tây,
có một di trì mỏ đồng quy mô lớn.
Nhưng vấn đề là từ Tam Tinh Đôi đến Ngô Thành, Giang Tây
xa hơn 1.300 km.
Khai thác đồng ở đó,
rồi vận chuyển đến Tam Tinh Đôi,
nghe quả thật hơi hoang đường.
Về sau lại có học giả nêu rằng,
quạng cho đồ đồng Tam Tinh Đôi
có thể đến từ mỏ đồng Đông Xuyên
ở vùng giáp danh Vân Quý Xuyên.
Dù các chuyên gia phân tích khá bài bản về tuyến vận chuyển,
cho rằng theo Trung Lưu Trường Giang,
có thể dùng đường thủy chở đồng đến Tam Tinh Đôi.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại,
từ mỏ đồng Đông Xuyên đến Tam Tinh Đôi
vẫn hơn 800 km.
Mô hình khai khoáng như vậy hiệu xuất quá thấp.
Gần đây, giáo sư điện chất Lưu Hưng Sư của Trung Quốc
lại đưa ra giả thuyết khác.
Đồng của Tam Tinh Đôi
có thể bắt nguồn từ dãy Long Môn Sơn
ở Bàng Châu, Tứ Xuyên.
Long Môn Sơn cách Tam Tinh Đôi chỉ vài chục km
so với Ngô Thành, Giang Tây
hay mỏ đồng Đông Xuyên
thì đúng là gần ngay trước mắt.
Từ hàng nghìn năm trước,
Hoa Dương Quốc Trí khi chép về dãy Long Môn
đã nói rằng
kỳ bảo tắc hiệu bích ngọc,
kim ngân châu đồng.
Trùng hợp thay,
trong vô số hiện vật phát hiện ở Tam Tinh Đôi
cũng có ngọc, vàng, đồng.
Tất nhiên, đến nay mọi luận thuyết
về nguồn đồng của Tam Tinh Đôi
vẫn chỉ dừng ở mức giả thuyết.
Thế còn ngà voi thì sao?
Nói thật,
mấy nhìn năm trước ở Tứ Xuyên, Trung Quốc
có lẽ đúng là từng có quân thể voi rất lớn.
Trong Hoa Giang tử Nhân Giang Huấn
có chép rằng
đầu đời thanh, vùng lĩnh nam
voi rừng, tê giác rừng rất nhiều.
Sương tê, ngà voi
một thời còn thành đặc sản địa phương.
Về vò sò,
nhiều người cho rằng
chúng đi theo thục thâm độc đảo
tức tiến tây của con đường tư lụa phương Nam
từ Ấn Độ vào đất thục.
Thâm độc, thiên trúc
đều là cách người xưa gọi Ấn Độ
và chính con đường thục thâm độc này
lại có liên hệ lớn
với Thích Cà Mông Ni mà ta nhắc
ở đầu bài.
Có học giả Ấn Độ, dựa vào nhiều ghi chép khảo cổ
đều quan điểm rằng
Thích Cà Mông Ni đến từ
Hoa Hạ quân Luân.
Một giáo sư Harvard
tên Kriegesky
còn chỉ ra rằng
Phật giáo vốn do nhân dân văn minh
tam tình đồi sáng tạo.
Sau theo đường thục thâm độc
truyền vào Ấn Độ,
còn Phật Thích Cà Mông Ni
là hậu ruệ của văn minh tam tình đồi.
Cá nhân tôi cho rằng
những luật điểm ấy
hơi bị buồn cười.
Nếu các bạn nghe cho vui thì có thể là được.
Năm 2022,
các nhà khảo cổ
ở hố số 7 tam tình đồi
phát hiện một hiện vật đồng
hình lưới mai rùa,
chưa từng được thấy trước đó.
Dài 61cm,
rộng 57cm.
Giữa hai tầng lưới đồng lổi lên
còn kẹp một khối ngọc,
tổng thể giống hiện mai rùa.
Dùng ít quang quét,
các nhà nghiên cứu phát hiện viết hàn.
Thực ra không chỉ khí cụ lưới mai rùa,
rất nhiều đồ đồng tam tình đôi
có tạo hình phức tạp,
khó có thể đúc liền khối,
khả năng lớn đều cần kỹ thuật hàn.
Mà hàn đồng
là kỹ nghệ cực khó,
đồng nguội và hòa cứng rất nhanh,
đúc lần hai dễ nứt.
Phân tích thành phần hợp kim,
các chuyên gia lại phát hiện
điều gây sốc.
Trong đồ đồng tam tình đôi,
đều có chứng nguyên tố phốt phò
và tỷ lệ rất chuẩn khoảng 8-10%.
Nguyên tố này
giúp kéo dài thời gian đông đặc,
đồng thời tăng độ chảy loãn của hợp kim,
để kim loại lùa được vào
các chi tiết nhỏ như
móng vuốt chim, bàn tay, bàn chân tượng.
Thế nhưng,
phốt phò chỉ được Henning Brand,
người Đức, chính thức phát hiện
vào thế kỷ 17.
Vậy hơn 3.000 năm trước,
người thuộc cổ biết dùng phốt phò bằng cách nào?
Về khí cụ lưới mai rùa,
công dụng chính xác của nó
các chuyên gia còn chưa xác định được.
Nhưng phỏng đoán
có thể liên quan đến thế giới tinh thần
của người thuộc cổ.
Rất có thể là một khí cụ trong hệ tế tự.
Trùng hợp là
nó trông cực kỳ giống huy hiệu vương tộc
của đế quốc Hittite ở Tiểu Á
khoảng 1.800 chức công nguyên.
Huy hiệu ấy
tượng trưng cho mặt trời.
Người Hittite là dân tộc thiện chiến.
Khoảng thế kỷ 19 chức công nguyên
di cư lên cao nguyên Anatolia
miên bắc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.
Họ có tin ngưỡng thờ mặt trời.
Trong thần thoại Hittite
còn có nhiều mặt trời
rất giống mô típ
Thập Nhật Tề Xuất
mười mặt trời cùng xuất hiện trong Sơn Hải Kinh.
Không chỉ khí cụ lưới mai rùa
rất nhiều hiện vật
ở Tam Tinh Đôi còn ứng vọng kỳ lạ
với các nền văn minh cổ trên khắp thế giới.
Đây là đầu người
Bằng Đông Mạ Vàng
khai quật ở Hố Số Hai
năm 1986.
Còn đây là những mặt nạ rác vàng hoàn trình
tìm thấy ở Hố Số Ba và Số Tám
vào năm 2021.
Dạng mặt nạ vàng như thế
chưa từng xuất hiện
ở các di trị Trung Hoa cùng thời.
Nhưng trong văn minh Ai Cập cổ
và Mycene
thì lại có truyền thống dùng mặt nạ vàng.
Đây là mặt nạ vàng Tutankhamun
trương bày tại Bảo tàng Ai Cập
ở Cairo.
Còn đây là mặt nạ vàng
lưu giữ tại Bảo tàng Khảo Cổ Quốc gia Hy Lạp.
Có thể nói
sự trung hợp này không hề ngẫu nhiên.
Năm 1986
tại Hố Số Một
của di trị Tám Tình Đồi
các nhà khảo cổ phát hiện một cổ vật
khiến cả thế giới sửng sốt.
Đó chính là quyền trượng vàng
của Ngư Phụ Vương.
Một báu vật dài 1,43 mét
được bọc bằng 700 gram vàng rộng.
Trên thân trường
ta thấy một tổ tem huyền bí
hai con chim trụm đầu
lưng hai con cá quay vào nhau
một thanh kiếm xuyên thẳng sống lưng chim và cá
và ở chót gậy
là hai cái đầu người.
Trong các văn thư cổ
và khảo cổ Trung Hoa
biểu tượng quyền lực là Ngọc Tông
Đình Nguyệt Tích
chứ rất hiếm khi là quyền trượng.
Ngược lại
ở Ai Cập và Tây Á Cổ Đại
quyền trượng là thứ thiên liêng
tượng trưng cho thần quyền và vương quyền.
Quyền trượng Wasp
của Ai Cập có đầu thú
đuôi trẻ đôi
tượng trưng cho mối liên hệ giữa Pharaon
và các vị thần.
Gậy Hekka giống cây gậy của người chăn cừu
biểu thị quyền chăn rắt dân chúng.
Cột đá bộ luật
Hammurabi
ở bảo tàng Lorre
cũng khác hình quyền trượng như biểu tượng tối cao
của nhà vua.
Bây giờ thử nhìn lại thần thụ số một
của tam tinh đôi
và so sánh với phù điêu cây thần của người Shammur
ta thấy sự tương đồng đến kỳ lạ.
Cũng có chim thần
cũng là tin ngưỡng mặt trời.
Shammur có thần mặt trời ủ tù
Ai Cập có thần Ra
vị thần sáng tạo
đầu đội đĩa mặt trời.
Nếu chim trên thần thụ là Thái Dương
thần điểu thì phải chăng
tất cả đều cùng nhìn về một khởi nguồn
thiên liêng.
Còn ở hốt số hai
các nhà khảo cổ phát hiện
6 vật thể bằng đồng hình bánh xe
mỗi cái cột rộng khoảng 85cm
ban đầu họ tưởng
đây là bánh xe cổ
nhưng tuyệt nhiên không có dấu vết xe cổ nào
sau đó giả thuyết
được đưa ra là
đây là biểu tượng mặt trời
với 5 tia đồng ở trung tâm như thể tỏa sáng
điều thú vị là
mô típ ấy rất giống với
các hình ảnh mặt trời trong nghệ thuật Shammur
Ngoài thơ mặt trời
rất rõ là người thục cổ
còn thờ đôi mắt
mọi mặt nạ ở tam tinh đôi
hoặc là tung mục mắt lồi
hoặc là các mắt hạnh nhân khổng lồ
chiếm nửa gương mặt
trùng hợp nữa là
đôi mắt tượng thần lama của Shammur
lại rất giống với mắt trên mặt nạ đồng tam tinh đôi
hình mắt hạnh nhân ấy
cũng xuất hiện trong phù điều Shammur
còn có ý kiến cho rằng
chữ thục
trong giáp quốc văn
trông rất giống con mắt Horus
trong thần thoại Ải Cập cổ
mà Horus là thần hộ mệnh
của Pharaon
biểu trưng cho vương quyền
khi thấy những liên kết mộng mị
giữa tam tinh đôi và Ải Cập, Shammur
hay địa trung hải cổ đại
người ta khó tránh khỏi suy nghĩ rằng
phải chăng đây không phải là
nền văn minh bản địa
trong tầm nghìn năm
giới khảo cổ học và sự học
chia thành hai phe tranh cãi không ngừng
một bên tin rằng
tam tinh đôi là kết quả
của nền văn hóa bản địa
phát triển động lập từ vùng đất thục cổ
bên kia thì cho rằng
nó là sản phẩm du nhập
là hoa trái của các dòng người từ phương xà đẹp tới
phe ngoại lai
có lý lẽ rất hấp dẫn
họ chỉ vào mặt nạn ông
tượng người đông của tam tinh đôi và nói rằng
hãy nhìn kỹ mà xem
mũi cao, miệng rộng, tay đèo khuyên
mắt sâu
họ lập luận vào thời kỳ đô đông
vùng đất này nằm trên
vành đài bán nguyệt
nơi giao thoa của các nền văn hóa Tây Nam Trung Quốc
nên rất dễ chịu ảnh hưởng
từ bên ngoài
hơn nữa, niên đại của tam tinh đôi
lại trùng hợp với thời kỳ Úc Ba
ở Lưỡng Hà
Tân Vương quốc Ai Cập
và văn minh Mycene ở Hy Lạp Cổ
Vậy thì tại sao không thể
là một nhánh người xăm mơ
Ai Cập hoặc Hy Lạp Cổ
đã vượt biển, vượt núi đến đất Thục
lập nên nền văn minh rực rỡ này
thậm chí còn có giả thuyết
gây sốc hơn
đó là tam tinh đôi chính là di tích
của triều đại nhà Hạ
khi bị thường đánh bại đã giặt về
phía Tây Nam và định cư tại đây
nhưng lập luận đó
bị phe bản thổ bác bỏ kịch liệt
lý do là bởi vì
suốt hàng trăm năm qua
thì lịch sử trinh thống của Trung Hoa
luôn khẳng định rằng
Hoàng Hà mới là cái nơi duy nhất của nền văn minh
Hạ, Thương, Chu
đều khởi sinh từ lưu vực Hoàng Hà
nên người Hoa gọi đó
là mẹ của Trung Hoa
theo thiết này
mọi nền văn minh khác kể cả tam tinh đôi
chỉ là nhánh phụ hoặc biến thể
của dòng chính Hoàng Hà
Tuy vậy, phải công bằng rằng
những vật gần gũi với đồ đồng
thời thương ở nơi khác
không chiếm vị thế chủ đạo
trong văn hóa đồ đồng tam tinh đôi
Mực độ tinh xảo của đồ đồng tam tinh đôi
có thể áp đảo
các di chỉ thương cùng thời
Vì thế, theo ý kiến cá nhân của tôi
có lẽ nền văn minh thuộc cổ
không phải bản địa thuần túy
cũng không phải du nhập hoàn toàn
mà là sản phẩm giao thoá
giữa nhiều nền văn hóa khác nhau
Người thuộc có thể đã học kỹ thuật đúc đồng
chế tạo lễ khí
dùng ngọc từ vùng Hoàng Hà
nơi được xem là trung tâm văn minh Trung Hoa cổ
Nhưng đồng thời
họ cũng chịu ảnh hưởng từ những nền văn minh khác
có thể từ phương Tây
hoặc Tây Nam
với kỹ thuật điều khắc, luyện vàng
đeo vàng, trang trí hoa văn tinh xảo
Tất cả và tràm
rung hợp ngay tại Bồn Địa Tứ Xuyên
một vùng đất kín gió
nhưng không hề biệt lập
Và cũng chính từ đó
người thuộc cổ tạo ra thứ văn hóa
vừa độc đáo, vừa phà trộn
vừa có hương vị ngoại lai
vừa thâm đẫm tinh thần bản địa
một bản sắc không giống
bất kỳ nền văn minh Trung Nguyên nào
Hãy nhớ rằng
Tứ Xuyên chính là điểm khởi đầu
của con đường tờ lụa phương Nam
Nhánh đông từ Tứ Xuyên
đi qua Quý Châu, Quảng Tây
tới vương biển Nam Hải
Nhánh giữa chạy thẳng qua Vân Nam
xuống Việt Nam
Nhánh Tây kéo dài từ Miến Điện, Ấn Độ
rồi tiếp tục nối với Tây Á, Địa Trung Hải
Tức là từ hơn 3.000 năm trước
vùng đất Thục
đã kết nối 4 phương
là trung tâm trung truyền của nhiều dòng chảy văn minh
Ngày nay
chúng ta thường đánh giá thấp
khả năng đi xa và kết nối quốc tế
của người xưa
Nhưng các bằng chứng khao cổ ngày càng chỉ ra rằng
người Thục cổ rất có thể
đã giao lưu với các nền văn minh xa xôi
thậm chí cả Tây Á, Ai Cập
hoặc khu vực Địa Trung Hải
Nếu xem toàn bản đồ
A-Âu sẽ thấy rõ rằng
từ 2.000 đến 1.000 năm trước công nguyên
các nền văn minh đồ đồng lớn
đều phát triển dọc theo
những tuyến đường thông thường chính
tạo thành một mạng lưới mạch máu
lan tỏa khắp lục địa
Và Tam Tinh Đôi
nó không nằm ngoài mạng lưới ấy
thậm chí còn gần vị trí trung tâm
nơi 4 phương gặp gỡ
Nhưng lại nảy ra một câu hỏi mới
đã hấp thụ kỹ nghệ và tập tục
của các nền văn minh khác
Sao Tam Tinh Đôi
không hấp thụ chữ viết
Nhà thương thì có giáp quốt văn
Người Sam mơ thì có chữ hình chêm
Ai cập cổ
có chữ tượng hình
Còn trong hiện vật Tam Tinh Đôi
lại chưa phát hiện văn tự nào
Thế nhưng
trình độ mà hiện vật Tam Tinh Đôi thể hiện
ở các lĩnh vực toàn học, vật lý, luyện kim, mỹ học
khó có thể truyền tải
chỉ bằng truyền khẩu, truyền tai
Giới học thuật quốc tế
thường lấy văn tự, luyện kim
và mức độ chế định thể chế hóa
làm ba tiêu chí của văn minh
Trừ văn tự
Tam Tinh Đôi dường như đã hội tụ
đủ hai tiêu chí kia
Vậy chữ viết của Tam Tinh Đôi
đi đâu mất? Chẳng lẽ
người thuộc cổ giao tiếp bằng ý thức ư?
Thuộc Vương Bản Kỳ
trong cổ tịch thường chép rằng
Người thuộc xưa bất hiểu văn tự
Vị hiểu lễ nhạc
Nghe như một bộ lạc man hoang
chưa khai hóa
Nhưng sách biên soạn vào thời Đông Tấn lại ghi
Người thuộc nhiều hoa văn rực rỡ
Xem ra
việc cổ thuộc có chữ viết hay không
không chỉ làm hậu thế bối rối
mà cả các sử gia cổ đại
cũng đau đầu
Tính đến hiện nay
trong mọi báo cáo và phỏng vấn chính thức
các nhà khảo cổ đều đồng thanh khẳng định rằng
ở dĩ chỉ Tam Tinh Đôi
chưa phát hiện bất kỳ văn tự nào
Một bộ phận học giả
cho rằng cổ thuộc có chữ
chỉ là chúng ta chưa tìm thấy
Khí hậu thuộc ấm ẩm
không thuận tiện cho việc lưu giữ cổ vật
Tình trạng bảo tồn ngà voi
ở Tam Tinh Đôi
thậm chí còn kém hơn cả ngà tượng Hoàng Hà
cách đây 3 triệu năm
Nếu người thuộc ghi chép trên vật liệu mỏng manh
như diệt phẩm, mộc bàn
thay vì khắc trên đồng
việc văn tự không còn lưu lại cũng không lạ
Giang Hồ còn đồn rằng
Tam Tinh Đôi
Năm 2022
Hồ số 7 phát hiện một cuộn lá đồng
mỏng như tờ giấy
vẫn giữ được màu gốc 3000 năm trước
Mục đích dùng để làm gì
thì giới học giả chưa rõ
trông rất giống thư quyển cổ
Từ những năm 1920
khi Tam Tinh Đôi mới được phát hiện
do xã hội dối ghen
không có biện pháp bảo hộ chính thức
nên không ít cổ vật thất tán vào dân gian
Có thuyết thì còn cho rằng
Khi Vương Triều Cổ Thục
thay ngôi đổi chủ
đã từng xảy ra một biến cố làm mất hết cổ tự
Còn ai là người chủ trì biến cố ấy
thì phải nhắc tới
mối dây dưa giữa nhà thương
người chu và nước cổ thục
Tuy nhiên
tất cả chỉ là giả thuyết
Vậy, rốt cuộc
người thuộc cổ là ai?
Họ không để lại chữ viết
không để lại lịch sử trình thống
Thứ họ để lại
là những ánh mắt bằng đồng
những khuôn mặt đeo mặt nạ
những mũi nhọn bằng vàng trĩa về trời
và một nền văn minh chưa từng thấy
trong bất kỳ sử sách nào của Trung Quốc cổ đại
Phải chăng
họ là con cháu của một dân tộc đã biến mất
hay là hậu duệ
của một đoàn người viễn phương
vượt núi băng rừng
rồi rừng chân ở vùng đất Đại Sơn Tri Trung
Hay thậm chí
họ không đến từ trái đất này
Tám tình đôi vì vậy
không chỉ là một địa danh khảo cổ
mà có thể đó là manh mối còn sót lại
của một cuộc gặp gỡ
giữa các nền văn minh từng đi qua trái đất
Và câu hỏi cuối cùng là
nếu người thuộc cổ
không viết lại lịch sử của họ
thì ai đã ghi lại giúp họ
và vì sao
lại có thể dành cho chúng ta tìm thấy
đúng vào thế kỷ 21
Quan điểm của bạn như thế nào
hãy để lại ý kiến của bạn bên dưới phần bình luận nhé
Và đừng quên ủng hộ kênh bằng một lượt đăng ký, chia sẻ
để chúng ta cùng nhau
tiếp tục giải mã những bí ẩn khác nhé