Tóm Tất Cuộc Đời Tử Hoàng - Vị Tướng Treo Thưởng Nghìn Cân Vàng Lấy Thủ Cấp Bạn Cũ Quan Vũ | Phê Sử

Đình Sự
537 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis content chronicles the life and military career of Xu Huang, one of Cao Cao's most distinguished generals during the Three Kingdoms period. It traces his evolution from a minor official to a legendary commander, highlighting his strategic brilliance, strict discipline, and the internal conflict between personal friendship and national duty.
Bên dòng hãng thủy, giữa hai trận tuyến, hai viên tướng thúc ngựa tiến ra, chỉ nói chuyện cũ, không một lời về chiến sự.
Rồi một người lặn lẽ xuống ngựa, buông dây cương và truyền cho toàn quân một mệnh lệnh, khiến người bạn cũ bên kia chết lặn.
Chào mừng các bạn đã quay trở lại với Face.
Trước khi đi vào câu chuyện hôm nay thì hãy ấn đăng ký kênh để mình có thêm động lực ra những video tiếp theo nha.
Giờ thì mình bắt đầu thôi.
Mùa thu năm 195, cỗ xe của Hán Hiến Đế lén rời khỏi Trường An đang chìm trong khói lửa, lầm lũi đi về phía đông với kỵ binh truy đuổi sau lưng,
và trong đoàn hội giá thưa thớt ấy có một viên võ quan chẳng mấy ai để ý.
Giữa bao kẻ coi vị thiên tử 14 tuổi, nhiều món hàng để dành dật, người ấy chỉ lo đưa được cỗ xe vua về tới nơi.
Người đó chính là Từ Hoảng, Từ Công Minh.
Chữ Công là lẽ công bằng, chữ Minh là sáng rõ, và cả cuộc đời ông sẽ bị thử thách đúng bằng hai chữ ấy.
Xứ sách ghi lại rằng, Từ Hoảng là người huyện Dương, thuộc quận Hà Đông, một vùng đất nằm ở khuất quanh của sông Hoàng Hà, nay thuộc tỉnh Sơn Tây,
nơi mà từ bao đời nay, người dân vừa cày ruộng, vừa phải cầm giáo giữ làng, mỗi khi loạn lạc kéo qua.
Chính sự không chép năm sinh của ông cũng không nhắc gì đến cha mẹ hay dòng họ, và chính sự im lặng ấy đã nói lên nhiều điều.
Đó không phải con cháu của một thế gia vòng tộc nào, không có tổ tiên làm tam công cửu khanh để người đời nhắc đến, mà chỉ là một người bình thường bước ra từ một huyện nhỏ.
Cuộc đời làm quang của ông bắt đầu từ một chức rất thấp, quận lại, tức là một viên lại dịch làm việc giấy tờ trong phủ quận,
ngày ngày ghi chép sổ sách, chuyển công văn, chạy việc cho quang trên.
Nghe thì chẳng có gì oai, nhưng những năm cầm bút ấy lại dạy cho ông một thứ mà nhiều võ tướng xuất thanh lục lâm cả đời không có,
đó là thói quen kênh nhắc từng việc, lường trước từng bước trước khi ra tay, rồi thời thế không để một người như vậy ngồi yên sau bàn giấy.
Cuối đời Đông Hán, quyền thần Đỗng Trác ép thiên tử Giời Đô về Trường An, rồi khi Đỗng Trác bỏ mạng,
hai bộ tướng cũ của hắn là Lý Thôi và Quách Dĩ kéo quân chiếm lấy Kinh Thành, biến cả triệu đình thành món đồ chơi trong tay mình.
Vùng hạ đông quê ông lại nằm ngay trên con đường nối Trường An với Lạc Dương,
nên tiếng võ ngựa của đủ mọi đạo quân cứ thế dẫm qua ruộng đồng năm này sang năm khác, hết lượt quân này cướp bóc lại đến lượt quân khác trưng thu.
Trong cảnh ấy, từ Hoảng đi theo Dương Phụng, một viên tướng xuất thanh từ quân Bạch Ba,
tức là một nhánh nghĩa quân nổi lên ở vùng Tây Hà, về sau ngã theo Lý Thôi, rồi dần dần có binh quyền riêng.
Ông theo Dương Phụng đi đánh giặc, lập được công, được Phong làm kỳ đô úy, một chức võ quan chỉ huy kỳ binh ở Tầm Trung.
Năm 195, Lý Thôi và Quách Dĩ trở mặt với nhau, hai bên đánh nhau ngay giữa Trường An,
một kẻ bắt giữ thiên tử, một kẻ bắt giữ bá quan, khói lửa kéo dài hết tháng này sang tháng khác, người chết phơi đầy đường phố.
Chính lúc ấy, từ hoãn đến gặp Dương Phụng, và sự sách ghi lại rằng chính ông là người khuyên chủ tướng hộ tống thiên tử trở về Lạc Dương.
Kinh Thành đã thành bãi chiến trường của hai kẻ bạo nghịch.
Ở lại đây thì thiên tử chẳng khác gì con tin, tướng quân hộ giá về Đông, đó mới là việc lớn.
Dương Phụng nghe theo, và thế là bắt đầu một trong những cuộc chạy trốn thảm hại nhất mà một vị hoàng đế nhà Hán từng phải trải qua.
Cổ xe của Hán Hiến Đế, một cậu bé mới mười bốn tuổi, lăn bánh trên con đường đất về phía Đông,
còn phía sau, Lý Thôi và Quách Dĩ nhận ra mình vừa để tuột mất con bài quý giá nhất,
liền gác lại thù riêng mà quay sang liên thủ truy đuổi.
Ở vùng Hoàng Nông, quân truy kích đuổi kịp, đoàn hộ giá thua to, cung nhân, bá quan người chết,
người bị bắt không biết bao nhiêu mà kể, xe cổ, sách vỡ, đồ nghi lễ của triều đình vứt lại ngổn ngang dọc đường.
Đến bờ sông Hoàng Hà, bờ dốc cao mà thuyền thì chẳng có mấy chiếc,
người ta phải lấy lùa buộc quanh người thiêm tử rồi từ từ thả xuống,
còn quân lính thì tranh nhau bám lấy mạn thuyền,
những người đã ở trên thuyền phải gạt tay kẻ bám ra cho thuyền khỏi lật,
và tiếng kêu khóc vang dội cả một khúc sông.
Đó là lúc Từ Hoảng thấy rõ nhất thế nào là một triều đình không còn ai bảo vệ.
Đoàn người vượt được sông, dừng chân ở An ấp thuộc quận Hà Đông, ngay trên quê hương của ông.
Tại đó, giữa những căn nhà lụp sụp tạm làm hành cung, không tường cao, không cửa cổng,
đến mức triều thần phải đứng hầu bên những hàng rào gai,
thiên tử vẫn cố giữ lại chút thể diện cuối cùng của nhà Hán,
bằng cách ban tước cho những người đã hổ giá.
Từ Hoảng được phong làm đô đình hầu, một tước hầu nhỏ,
nhưng là tước do chính tay thiên tử ban xuống giữa lúc gian nan nhất.
Một viên quận lại ngày nào nay đã có tước hầu,
giữa một triều đình mà quan lại phải tự đi đào rau dài để ăn qua ngày.
Thật khó mà biết nên mừng hay nên sót cho cái vinh dự ấy.
Năm 196, sa giá cuối cùng cũng về đến Lạc Dương.
Nhưng Lạc Dương mà thiên tử trở về không còn là kinh đô tráng lệ năm xưa nữa.
Cung điện đã bị động trác đốt thành cho từ mấy năm trước,
có dại mọc trùm lên nền điền, bá quan phải tự mình ra ngoài hái rau nhạt cùi,
có người gục xuống giữa những bức tường đổ nát vì đói mà không qua khỏi.
Từ hoãn đứng giữa đóng trò tạng ấy,
và ông hiểu ra một điều mà Dương Phụng dường như chưa hiểu,
rằng đưa được thiên tử về chỉ là nửa đoạn đường,
giữ được thiên tử mới là nửa còn lại, và nửa ấy khó hơn gấp bội.
Muốn giữ được thiên tử thì phải có đất, có lương, có quân,
mà đoàn hộ giá rách dưới ấy thì chẳng có thứ gì trong tay ngoài cái danh nghĩa vừa được ban.
Câu hỏi ấy, trung thành với một con người hay trung thành với điều mà con người ấy lé ra phải dịnh giữ,
sẽ còn đi theo ông suốt cả cuộc đời.
Và chẳng bao lâu nữa, chính câu hỏi ấy sẽ buộc ông phải rời xa người chủ đầu tiên của mình.
Chỉ vài tháng sau khi xa giá về Lạc Dương, cái triều đình tàn tạ ấy đã lại chia bẻ kéo cánh.
Hàng Tim, một thủ lĩnh bạch ba khác cũng có công hộ giá, cậy công mà lấn át triều chính.
Đổng Thừa, một vị tướng có con gái được thiên tử nạp làm quý nhân,
thì ngấm ngầm chống lại.
Còn Dương Phụng đóng quân ở huyện Lương, phía đông nam Lạc Dương.
Lúc ngã bên này, lúc nghiêng bên kia.
Ngày nào cũng có người được phong tước.
Ngày nào cũng có người bị gạt ra.
Còn thiên tử thì vẫn chưa có nổi một bữa ăn cho đàng hoàng.
Từ hoảng nhìn cảnh ấy, và một lần nữa lại đến trước mặt chủ tướng.
Lần này, lời khuyên của ông táo bạo hơn nhiều.
Ông khuyên Dương Phụng đừng mãi tranh giành chút quyền hành vùng vật ở Lạc Dương nữa,
mà hãy quy thuận Tào Tháo, khi ấy đang làm Duyện Châu Mục,
tức là quan đứng đầu Châu Duyện ở vùng Trung Nguyên,
trong tay có binh mạnh, có lương đủ, và đã tỏ ý muốn đón thiên tử về.
Chúng ta có công hộ giá, nhưng không có đất, không có lương.
Giữ thiên tử bằng hai bàn tay trắng thì sớm muộn cũng mất,
chi bằng dựa vào người đủ sức giữ.
Sử sách chép rằng Dương Phụng nghe xong thì muốn làm theo.
Rồi ông ta đổi ý.
Sử chỉ ghi ngắn gọn một chữ hối,
nghĩa là hối hận, rút lại lời đã hứa,
chứ không nói rõ vì sao, nhưng cũng có thể đoán được phần nào.
Một phần vì Dương Phụng không muốn làm bệ tôi dưới trướng một người khác,
khi chính mình vừa được thiên tử phong làm sa kỵ tướng quân,
một trong những chức võ quan cao nhất triều đình.
Một phần vì những kẻ xung quanh chẳng ai muốn mất cái ghế vừa giành được của mình.
Và một phần, có lẽ, vì ông ta tin rằng cứ giữ được thiên tử trong tay,
thì thiên hạ tất phải kiên nể mình.
Chỉ ít lâu sau, Tào Tháo tự dẫn quân đến Lạc Dương,
rồi khéo léo đưa thiên tử rời về huyền hứa,
nơi ông đã chuẩn bị sẵn cung điện và lương tháo.
Dương Phụng và Hàng Tiêm từ huyện Lương kéo quân định chặn đường, nhưng không kịp.
Mùa đông năm 196, Tào Tháo quay quân đánh thẳng vào doanh trại của Dương Phụng ở huyện Lương.
Quân Bạch Ba vốn quen cướp phá hơn là giàn trận.
Gặp đạo quân kỷ luật của Tào Tháo thì tan tác như lá gặp gió.
Dương Phụng và Hàng Tiêm bỏ lại quân lính, chạy về phía nam nương nhờ viên thuật.
Từ hoãn không chạy theo, ông ở lại và quy phục Tào Tháo.
Đọc đến đây, hắn sẽ có người cho rằng đó là bỏ chủ, nhưng hãy nhìn kỹ lại thứ tự của mọi việc.
Chính ông là người đầu tiên khuyên Dương Phụng về với Tào Tháo,
khuyên một cách công khai, đàng hoàng, ngay khi chủ tướng còn đang ở thế mạnh.
Khi Dương Phụng từ chối, ông vẫn ở lại bên cạnh, cho đến khi chính Dương Phụng bỏ quân mà chạy.
Ông không lén mở cổng doanh, không mang thủ cấp chủ cũ đi lập công,
không đem bí mật quân cơ ra đổi lấy chức tước.
Ông chỉ đơn giản là không đi theo một người, đã tự tay bỏ rơi chính những người từng đi theo mình.
Còn Dương Phụng, sau khi chạy về với viên thuật được ít lâu,
thì lại trở mặt, cướp phá khắp vùng tự châu, rồi rơi vào tay lưu bị, và không được toàn mạng.
Dương Phụng từng muốn giữ chặt thiên tử, để thiên hạ phải kiên nể mình,
rốt cuộc lại mất cả thiên tử, lẫn viên tướng đã từng chỉ cho mình con đường sống.
Về sau, Tâm Quốc Diễn Nghĩa dựng cảnh này rực rỡ hơn nhiều.
Trong đó, Từ Hoãng cầm búa lớn giao chiến với hứa chữ,
hai bên đánh nhau 50 hiệp, không phân thắng bại.
Tào tháo mến tài, bèn sai máng súng.
Một người quen cú của Hoãng, nửa đêm lém vào trại thuyết phục ông quy hàng.
Hình ảnh ấy quen thuộc với rất nhiều người,
cũng là gốc gác của hình tượng Từ Hoãng tay cầm đại phủ,
tức là cây búa lớn, trên sân khấu và phim ảnh.
Sự thật trong sự xác giảng gì hơn nhiều, mà có lẽ cũng đáng nể hơn nhiều,
một người khuyên đúng, bị từ chối,
rồi lặng lẽ bước đi trên con đường mà chính mình đã chỉ ra từ trước.
Tào tháo trao ngay cho ông một đạo quân,
sai đi dẹp dẹp cướp ở hai huyện Quyển và Nguyên Vũ.
Ông dẹp yên cả hai nơi, được thăng làm tỳ tướng quân,
tức là một chức phó tướng, mở đầu con đường chinh chiến,
dưới lá cờ họ tạo.
Rồi ông theo Tào tháo, đánh Lứ Bố ở Hạ Bì,
nhưng không phải để đối đầu với Lứ Bố giữa trận tiện, như trong tiểu thuyết,
mà là một mình đi chiêu hàng hai bộ tướng của Lứ Bố,
là Triều Thứ và Lý Châu,
làm đội quân đối phương rẹo rã từ bên trong.
Lại cùng Sử Hoáng, một tướng thân tín của Tào tháo,
tiến về quần Hà Nội ở bờ Bắc Hoàng Hà,
đánh tan thế lực của Tuy Cố,
một thủ lĩnh cũ của quân Hắc Sơn,
đang có ý ngã về phía viên thiệu.
Mỗi trận thắng đều gọn gàng, không ồn ào,
không có giai thoại đẹp đẽ nào đi kèm,
và có lẽ vì thế mà người đời thường nhớ đến hứa chữ,
điện vi, nhiều hơn là nhớ đến ông.
Nhưng Tào tháo thì nhớ.
Và chỉ ít lâu sau,
khi cả họ tạo phải dốc toàn lực cho trận chiến sinh tử nhất đời mình,
cái tên từ Hoảng sẽ được gọi đến ở đúng một thời khắc,
mà chỉ một sai lầm nhỏ cũng đủ làm sụp đổ tất cả.
Năm 200,
phương Bắc chỉ còn hai thế lực đủ sức quyết định vận mệnh thiên hạ.
Một bên là viên thiệu, làm chủ bốn châu Hạ Bắc,
trong tay hơn mười vạn quân.
Một bên là Tào tháo nắm giữ thiên tử ở Hứa Đô,
quân số ít hơn hẳn.
Nhưng trước khi hai con hổ chạm nhau,
Tào tháo còn phải dọn một mối lo ngay sau lưng mình.
Lưu Bị, người từng nương nhờ họ tạo,
đã trở mặt chiếm lấy từ châu,
rồi bắt tay với viên thiệu.
Tào tháo đích thân dẫn quân Đông Chinh,
từ Hoảng theo trong đoàn quân ấy,
và Lưu Bị thua chạy lên phía bắc với viên thiệu,
bỏ lại cả vợ con,
lấn một viên tướng giữ thành Hạ Bị.
Viên tướng ấy tên là Quang Vũ,
tự vân trường, người huyện giải,
thuộc quận Hạ Đông,
tức là cùng một quận với từ Hoảng,
và là người anh em sống chết có nhau của Lưu Bị
từ những ngày đầu khởi nghiệp.
Quang Vũ bị bắt, được Tào tháo hậu đái,
phong làm thiên tướng quân,
và thế là hai người đàn ông đất Hạ Đông
lần đầu tiên đứng chung dưới một lá cờ.
Chính xử không chép lại
họ đã nói gì với nhau trong những ngày ấy,
nhưng nhiều năm sau,
khi gặp lại nhau ở một nơi hoàn toàn khác,
cả hai vẫn nhắc đến quãng thời gian này
như chuyện giữa những người bạn thân.
Mùa xuân năm 200,
viên thiệu sai đại tướng Nhan Lương
vượt sông vây đánh Bạch Mã,
một thành nhỏ ở bờ nam Hoàng Hà,
cửa ngó, để quân Hạ Bắc tràn xuống phía nam.
Tào tháo dùng kế
của mưu sĩ Tuân Du
giả vờ kéo quân về phía tây
như muốn vượt sông đánh vào
sau lưng viên thiệu,
khiến viên thiệu vội chia quân đi chặn,
rồi bất ngờ quay ngoắt,
tung khinh kỳ đánh úp Bạch Mã.
Từ hoảng có mặt trong trận ấy,
cùng với Trương Liêu và Quang Vũ
ở cánh tiên phong.
Giữa lúc hai quân còn chưa kịp giàn trận,
Quang Vũ trông thấy cây lỏng che
trên xe của Nhan Lương từ xa,
liền thúc ngựa lao thẳng vào giữa vạn quân,
hạ Nhan Lương ngay trước cờ xoái
rồi quay về,
quân hạ bắc không ai kịp trở tay.
Vòng vây Bạch Mã được giải.
Tào Tháo vừa đưa dân chúng Bạch Mã
rút về theo con đường dọc bờ sông,
thì kỳ binh viên thiệu đã đuổi tới,
dẫn đầu là Văn Xú,
một mảnh tướng ngang hàng với Nhan Lương.
Ở phía nam Bến Diên Tân,
Tào Tháo cho quân dừng lại,
tháo yên, thá ngựa,
rồi cho vứt xe cổ,
quân nhu la liệt khắp đường.
Các tướng xung quanh ai nấy đều hoảng,
có người khuyên nên rút về giữ doanh trại cho chắc.
Tuân Du đứng bên cạnh chỉ cười,
đây là mồi để nhử giặc,
sao lại bỏ đi?
Kỳ binh hạ bắc ùa đến,
tranh nhau cướp đồ, hàng ngũ rối loạn,
và đúng lúc ấy Tào Tháo mới hạ lệnh lên ngựa.
Chưa đầy sáu trăm kỳ binh sông ra,
đánh tàn năm sáu nghìn quân địch.
Văn Xú không qua khỏi ngay giữa đám loạn quân.
Chỉ trong mấy ngày,
viên thiệu mất liền
hai viên đại tướng danh tiếng nhất của mình.
Từ hoảng dự cả trận Bạch Mã
đến trận Diên Tân,
Thú vị thay,
đó cũng chính là chức mà Quang Vũ vừa được phong trước đó.
Hai người đồng hương
giờ mang cùng một danh hiệu dưới trướng cùng một chủ.
Nhưng chẳng bao lâu,
Quang Vũ niêm phong toàn bộ vàng bạc
được ban thưởng, viết thư từ biệt,
rồi ra đi tìm về với Lưu Bị,
và Tào Tháo không cho người đuổi theo,
còn từ hoảng ở lại.
Hai người rẽ về hai ngã,
và chưa ai biết rằng 19 năm sau,
con đường của họ sẽ lại cắt nhau
bên bờ một con sông khác,
theo một cách mà cả hai đều không muốn.
Mùa thu năm ấy,
hai bên dồn quân đối mặt ở Quang Độ.
Chiến tuyến kéo dài hàng chục dặm.
Quân Tào ít hơn, Lương cũng ít hơn,
cầm cử ngày qua ngày trong những hào lưỡi đào vội.
Viên Thiệu cho dựng
những chòi đất cao,
rồi từ trên đó bắn tên xuống doanh trại quân Tào.
Binh lính đi lại phải dơ khiên che trên đầu.
Tiếng tên cắm xuống mái lều rào rào
suốt ngày đêm.
Chính trong lúc ấy, tin tức báo về rằng
mấy nghìn cỗ xe lương của Viên Thiệu
đang trên đường tiến đến tiền tuyến
do tướng Hàng Mảnh áp tải.
Tuần Dù nói với Tào Tháo
Xe lương của Viên Thiệu sớm tối sẽ tới.
Tướng áp tải là Hàng Mảnh.
Tuy mạnh nhưng khinh địch.
Đánh thì có thể phá được.
Tào Tháo hỏi, ai có thể đi?
Tuần Dù chỉ nêu đúng một cái tên.
Từ Hoãng đi được.
Tào Tháo sai từ Hoãng cùng sự Hoãng
dẫn quân đi chặng đường.
Họ phục quân ở Cố Thị,
một vùng đất nằm trên con đường tiếp tế
của quân Hạ Bắc,
chờ đoàn xe lương nặng nề chậm chạp đi vào tầm đánh.
Tiếng bánh xe kéo kẹt mỗi lúc một gần.
Tiếng châu bò thở phì phò
trong bụi đường, rồi hiệu lệnh vang lên.
Quân phục kích từ hai bên ảo ra.
Trận ấy diễn ra nhanh gọn
như một nhát cắt.
Quân áp tải tan tác.
Hàng Mảnh tháo chạy.
Và mấy nghìn cỗ xe chở lúa gạo của Viên Thiệu
bốc cháy suốt một dải đường dài.
Khói đen cuộn lên
che cả một góc trời phương Bắc.
Mùi lúa cháy khét lẹt
theo gió bay đi rất xa.
Và những người lính đói trong doanh trại tạo
ngửi thấy mùi ấy,
mà biết rằng quân địch
rồi cũng sẽ phải đói như mình.
Sự xác chép rằng trong trận ấy,
công của Từ Hoãng là lớn nhất.
Không lâu sau, Tào Tháo tự mình dẫn quân
đánh úp kho lương ô xào,
đốt sạch hơn một vàng xe lương còn lại
và đạo quân khổng lồ
của Viên Thiệu sụp đổ chỉ trong vài ngày.
Người đời nhớ đến ô xào
như đòn quyết định của trận quang độ.
Nhưng ít ai nhớ rằng,
trước ô xào, ngọn lửa ở Cố Thị
đã khiến quân Hà Bắc bắt đầu thắt lưng
buộc bụng từ trước.
Có những trận thắng chẳng cần hạ một viên đại tướng nào,
chỉ cần khiến cả một đạo quân
không còn gì để ăn.
Hai năm sau trận quang độ,
Viên Thiệu lâm bệnh qua đời,
để lại một cơ nghiệp khổng lồ
và hai người con trai là viên đạm,
viên thượng tranh nhau quyền thừa kế.
Tào Tháo lợi dụng anh em họ Viên
đánh nhau từng bước tiến lên phương Bắc
và năm 204,
ông vây thành nghiệp,
đại bản doanh của họ Viên,
trái tim của cả vùng Hà Bắc.
Vòng vây nghiệp thành kéo dài nhiều tháng,
trong khi các thành trì nhỏ xung quanh
vẫn chưa quyết theo bên nào.
Ngày ngày giói mắt nhìn về phía nghiệp
để xem gió sẽ thổi chiều nào.
Tào Tháo cho quân đánh chiếm Hàm Đan
ở phía Bắc và ngay sau đó,
Hàng Phạm, huyện lệnh huyện Dịch Dương
gần đó, tức là Viên Quang
đứng đầu huyện, sai người đến xin hàng.
Nhưng khi quân Tào tới nơi,
cổng thành Dịch Dương vẫn đóng chặt.
Hàng Phạm hàng giả, rồi
quay ra cố thủ. Theo lệ thường
của thời loạn, và theo chính phép quân
mà Tào Tháo đặt ra, một thành đã
bị vây rồi mới chịu hàng thì không được tha,
còn một thành đã hàng rồi lại phản
thì càng khó mà trông vào lòng khoan dung.
Trong chuyện của Vưu Cấm,
một viên tướng cùng thời,
Sứ Sắc còn chép lại phép ấy
rõ ràng như một điều luật, rằng
đã bị vây rồi mới hàng thì không được tha.
Tào Tháo sai từ hoãn
đến đánh Dịch Dương. Có thể
dễ dàng hình dung một viên tướng khác
sẽ làm gì trong tình cảnh ấy,
vây chặt, đánh gấp, phá thành,
rồi để phép quân tự nói nốt phần còn lại.
Từ hoãn thì không làm vậy.
Ông cho quân dừng lại dưới chân thành,
viết một bức thư, buộc vào
mũi tên, rồi bắn thẳng vào bên trong.
Trong thư, ông không
đe dọa, cũng không dụ dỗ
bằng những lời hứa hảo, mà chỉ bày ra
trước mắt hàng phạm cái lẽ thành bại.
Họ viên đã rối ren,
nghiệp thành sớm muộn cũng mất.
Một huyện nhỏ như Dịch Dương cố thủ thì được gì,
còn mở cổng thì giữ được những gì?
Hành phạm đọc thư
và hối hận. Cổng thành
Dịch Dương mở ra mà không cần
một trận đánh nào. Nhưng câu chuyện
chưa dừng ở đó, vì theo đúng
phép quân, việc hành phạm hàng
rồi lại cố thủ vẫn là tội,
và quyền định đoạt số phần
cả tòa thành vẫn nằm trong tay Tào Tháo.
Thư hoáng về gặp chủ tướng
và nói ra những lời có lẽ là
quan trọng nhất trong cả cuộc đời
chinh chiến của mình. Hai anh em
họ viên chưa bị phá, các thành
chưa hàng đều đang lắng tay nghe ngóng.
Hôm nay mà diệt Dịch Dương,
thì ngày mai thành nào cũng liều chết mà giữ,
e rằng Hạ Bắc không biết đến
bao giờ mới yên. Xin minh công tha
cho Dịch Dương để các thành khác nhìn vào,
thì chẳng thành nào là không trông gió
mà theo. Hãy để ý kỹ cách
ông nói. Ông không cầu xin
lòng thương xót cho danh Diệt Dương,
cũng không đem nhân nghĩa ra thuyết giảng cho
một người như Tào Tháo, người từng khiến
cả vùng Từ Châu chìm trong tan tóc
chỉ để báo thù cho cha.
Ông nói bằng đúng thứ ngôn ngữ
mà Tào Tháo hiểu rõ nhất, đó là
cái lợi của việc binh. Một phần
vì ông biết Tào Tháo trọng cái thực hơn
lợi hay ý đẹp. Một phần vì
chỉ có cái lợi mới đủ sức khiến
Tào Tháo tự gác lại một phép quân do
chính mình đặt ra. Và một phần
là vì đằng sau cái lời ấy,
ông thật lòng muốn giữ lại mạng sống
cho cả một tòa thành đầy người.
Nghe thì có vẻ đơn giản, bắn một lá thư,
nói vài câu, thế là xong.
Nhưng thời ấy mà dám đứng
trước mặt Tào Tháo xin phá lệ
của chính Tào Tháo, thì không phải ai
cũng đủ gan. Tào Tháo nghe xong,
khen phải, Diệt Dương được tha.
Và đúng như từ hoãn dự liệu,
tin tức ấy lan đi còn nhanh hơn
bất kỳ đạo quân nào. Các thành trì
Hạ Bắc thấy một thành từng hàng giả
mà vẫn được dung tha, thì chẳng còn
lý do gì để liều chết cố thủ nữa.
Một lá thư buộc trên đầu mũi tên
đã mở được cánh cổng mà vạn
mũi tên khác chưa chắc phá nổi,
và mở luôn cả những cánh cổng ở các thành
chưa từng thấy mặt ông. Chỉ ít
lâu sau, nghiệp thành thất thủ,
rồi viên đàm bại trận ở Nam Bì,
từ hoãn đều có mặt trong những trận ấy,
và cả vùng Hạ Bắc rộng lớn
dần dần quy về một mối.
Ông theo Tào Tháo bắt chinh người
Ô Hoàn, một bộ tộc Du Mục
ở ngoài Trường Thành, đang che chở cho
tàn quân họ viên, vượt qua những
dải núi hoang không có đường đi,
được phong làm hoành giả tướng quân.
Rồi năm 208, ông lại
theo đại quân xuống phương Nam,
đánh vào Kinh Châu.
Ở Kinh Châu, ông cùng Máng Sũng đánh
Quang Vũ ở bên Hán Tân, rồi cùng
Tào Nhân chống lại Chu Du, đại đô đốc
của Đông Ngô, ở thành Giang Lăng.
Người bạn cũ Đất Hạ Đông
giờ đã đứng ở phía bên kia chiến tuyến.
Nhưng lần ấy, sự sắc
chỉ chép võn vẹn một dòng, còn
cuộc đối mặt thật sự giữa hai người
thì phải đợi thêm 11 năm nữa,
và đó là chuyện sẽ kể sau.
Trước khi đến ngày ấy, ông
còn phải đi qua một con sông khác.
Trong một đêm tối, mà nếu chỉ
sơ sẩy một chút thôi, cả 4.000
người theo ông sẽ không ai trở về.
Mùa xuân năm 211, Tào Tháo
tuyên bố sẽ đem quân đánh trường lỗ
ở Hán Trung, mà đường tiến quân thì
phải đi ngang qua vùng Quang Trung.
Các thế lực cát cứ ở Quang Trung
và Lương Châu cho rằng, đó chỉ là
cái cớ để Tào Tháo thôn tiếng đất của mình,
liền liên kết 10 đạo quân,
cùng nhau giấy binh chống lại.
Đứng đầu liên quân là Má Siêu và Hàng Toại.
Má Siêu là con trai của Má Đặng,
một danh tướng miền Tây,
cưới ngựa bắn cung giỏi chẳng kém người Khương,
quân dưới trướng phần nhiều,
là kỵ binh Lương Châu dạng dày trận mạc,
quen với gió cát miền Biên Ái.
Hàng Toại thì là một lão tướng
đã hùng cứ đất Lương Châu hơn 30 năm,
nổi tiếng nhiều mưu mô,
lúc theo lúc chống triệu đình như trở bàn tay.
Liên quân chiếm giữ Đồng Quang,
một cử ải hiểm yếu nằm
ở chỗ sông Hoàng Hà ngoặt gấp về phía Đông,
phía Nam là núi, phía Bắc là sông,
chỉ có một con đường độc đạo xuyên qua.
Trước đó, Tào Tháo
đã sai từ hoãn đóng quân ở Phần Âm
để giữ yên vùng Hà Đông,
quê hương ông, không cho lòng dân bên kia
song ngã theo Má Siêu.
Mùa thu năm ấy,
đại quân Tào Tháo kéo đến trước Đồng Quang.
Nhìn cử ải dựng đứng,
quân Tây Lương giàn kín,
Tào Tháo biết rằng đến thẳng vào
chỉ là đem mạng quân sĩ ra đổ vào núi đá.
Ông lo quân mình không vượt nổi Hoàng Hà
để vòng ra sau lưng địch,
liền cho gọi từ hoãn đến hỏi kế.
Từ hoãn đã quan sát địch từ trước,
và câu trả lời của ông gọn gàng
như một tấm bản đồ trận.
Minh Công đem đại binh áp sát nơi đây,
mà giặt lại không chia quân giữ bến bộ phản,
đủ biết chúng chẳng có mưu gì.
Nay xin giao cho thần một cánh quân tinh nhuệ
vượt qua bến bộ phản,
đi trước dựng doanh, cắt ngang sau lưng giặt,
thì giặt có thể bắt được.
Bộ phản là một bến đỏ trên Hoàng Hà
ở phía bắc Đồng Quang,
nơi dòng sông chảy từ bắc xuống nam.
Nếu vượt được qua đó,
quân Tào sẽ đứng ở bờ Tây,
ngay sau lưng liền quân.
Tào Tháo chỉ đáp gọn một chữ,
hay.
Rồi ông giao cho từ hoãn cùng tướng Chu Linh
4.000 quân cả bộ lấn kỵ.
4.000 người sang một bờ sông Lạ,
trong khi cả một liên quân Mười Đạo
đang đóng ngay gần đó.
Nếu bị phát hiện giữa lúc thuyền còn lênh đênh giữa dòng,
4.000 người ấy sẽ bị đánh tan dưới nước
trước khi kịp đặt chân lên bờ.
Đêm ấy,
từ hoãn dẫn quân lặn lẽ xuống thuyền.
Không cờ, không trống, không đuốc,
chỉ có tiếng nước Hoàng Hà vỗ vào mạng thuyền
và tiếng thở của những người lính
đang xít chặt cán giáo trong bóng tối.
Nước sông mùa thu lạnh bút hắt lên mặt
những chiếc thuyền trồng chành
trên dòng chạy xiết
và không ai dám cấp tiếng nói.
Thuyền này nối thuyền kia cập được bờ Tây.
Từ hoãn lập tức cho quân đào hào,
cắm cọc, dựng rào,
gấp rút dựng doanh trại trước khi trời sáng.
Nhưng hào chưa đào xong,
rào chưa dựng kịp,
thì quân địch đã tới.
Lương Hưng, một bộ tướng của liên quân,
dẫn hơn 5.000 quân cả bộ lấn kỵ
thừa lúc đêm tối đánh út vào doanh trại
còn đang gian dở.
Quân Tây Lương Đông Hưng lại là kỷ binh quen trận
trong khi quân của từ hoãn vừa vượt sông
quần áo ước sủng,
tay còn đang cầm cuốc sẻn.
Giữa tiếng vó ngừa rầm rập tràn tới trong bóng tối
từ hoãn quát lớn.
Bỏ cuốc xuống, cầm giáo lên.
Sau lưng là sông,
không còn đường lui, đứng vững thì sống.
Quân của ông không tan.
Họ giữ vững đội hình,
chịu trọn đợt sung phong đầu tiên,
rồi phản công, và Lương Hưng phải tháo chạy.
Trời sáng, doanh trại bên bờ Tây đã thành hình.
Cờ họ tạo tung bay
ngay sau lưng Liên Quân Quang Tây.
Nhờ chỗ đứng trên ấy,
đại quân Tào Tháo lệnh lượt vượt Hoàng Hà
ở phía Bắc,
rồi quay sang vượt sông Vị ở phía Nam,
từng bước ép Liên Quân vào thế bị động.
Chuyện vượt sông của chính Tào Tháo
thì còn hiểm nghèo hơn nữa.
Khi Má Siêu dẫn kỷ binh ập đến,
giữa lúc ông còn ngồi ở bờ Bắc
chờ quân qua sông, tên bắn như mưa,
nhờ hứa chữ liệu thân che trắng.
Một tay dương yên ngừa đỡ tên,
một tay chống thuyền,
ông mới thoát được.
Nếu không có doanh trại của Tự Hoảng
đã đứng vững ở bờ Tây từ trước,
thì cuộc vượt sông ấy chưa chắc đã có ai đến đón.
Sau đó, Tào Tháo dùng
kế ly gián của mưu sĩ Giả Hũ
khiến Má Siêu xin lòng nghi ngờ hàn toài,
rồi đánh một trận quyết định.
Liên Quân Quang Tây tan vỡ,
Má Siêu chạy về phía Tây,
cả vùng Quan Trung vào Tây họ tạo.
Người đời thường nhớ trận đồng quan
qua hình ảnh Tào Tháo cắt râu vứt áo bào
mà chạy trốn Má Siêu.
Một cảnh đầy kịch tính
nhưng thực ra chỉ có trong tam quốc diễn nghĩa,
còn trong chính xử thì chẳng có bộ râu nào
phải hy sinh cả.
Cái thật sự xoay chuyển cả chiến dịch
lại là một đêm tối,
một bến đò bị bỏ quên
và một người chịu nhìn vào chỗ mà kẻ địch chẳng buồn nhìn tới.
Sau đồng quan,
Tự Hoảng tiếp tục ở lại miền Tây,
cùng Hạ Hậu Uyên,
dẹp yên các bộ tộc người đê
ở vùng núi phía Tây,
tên tuổi dần dần đứng vào hàng những viên tướng
được Tào Tháo tin cậy nhất.
Nhưng thắng lời ở đồng quan
mới chỉ mở ra cánh cửa về phía Tây.
Phía sau cánh cửa ấy là Hán Trung.
Vùng đất sẽ dạy cho ông
một bài học hoàn toàn khác,
rằng thắng mọi trận mình được giao
vẫn chưa chắc đã giữ được thứ mình cần giữ.
Năm 215,
Tào Tháo cuối cùng cũng thực hiện lời tuyên bố năm xưa,
đem quân đánh trương lỗ
ở Hán Trung.
Hán Trung là một vùng bồn địa
nằm kẹp giữa giấy Tần Lính ở phía bắc
và giấy Đại Ba Sơn ở phía nam.
Đất đai màu mỡ,
lại là cánh cửa dẫn thẳng vào đất thục.
Ai giữ được Hán Trung thì chẳng khác gì
nắm được ít hầu của cả ít châu.
Trên đường Tiến Quân,
Tào Tháo tắt riêng từ hoãn
đi đánh các bộ tộc người đê
ở vùng núi Độc và núi Cừu Di.
Những tộc người sống rải rác trên núi cao
thường chặn đường tiếp tế của quân Tào.
Các bộ tộc ấy đều quy hàng
ông lại giải vây cho tướng Trương Thuận,
phá hơn 30 đồn trại của giặc
và được thăng làm bình khấu tướng quân.
Trương lỗ đầu hàng,
Hán Trung về Tây họ tạo
nhưng Tào Tháo không tiến tiếp vào đất thục
mà rút đại quân về phương bắc
để lại Hạ Hậu Uyên cùng Từ Hoãn
và các tướng khác tránh giữ.
Hạ Hậu Uyên là người trong dòng họ
thân thích của Tào Tháo,
nổi tiếng hành quân thần tốc,
3 ngày đi 500 dặm,
6 ngày đi 1000 dặm
nhưng cũng nổi tiếng liều lĩnh
đến mức Tào Tháo từng phải răng
làm tướng phải có lúc biết sợ,
không thể chỉ cậy vào dũng.
Còn ở phía nam, Lưu Bị vừa chiếm được
ít châu, không thể để Hán Trung
nằm trong Tây họ tạo
như một lưới dao kệ sát cổ mình.
Lưu Bị dẫn quân tiến lên Dương Bình Quang,
cửa ngõ phía tây của Hán Trung
đối đầu với Hạ Hậu Uyên và Từ Hoãn.
Để cắt đứt đường liên lạc
giữa quân Tào ở Hán Trung với phía bắc,
Lưu Bị sai tướng trần thức
dẫn hơn 10 doanh trại đánh chặn
con đường Mã Minh Cát.
Mã Minh Cát là một đoàn sàn đào,
tức là loại đường làm bằng những thanh gỗ
cắm vào vách đá dựng đứng,
men theo sườn núi treo leo.
Bên dưới là vực sâu thăm thẳm,
một bước trượt chân là không còn đường về.
Ai giữ được đoàn sàn đào ấy
thì giữ được mạch máu nối Hán Trung
với phía bắc, Lương Thảo, Viện Binh,
Tin Tức, tất cả đều phải đi qua đó.
Từ Hoãn tách quân đi đánh.
Trên những lối mòn hẹp
chỉ vừa một người đi, tiếng ván gỗ
kéo kẹt dưới chân quân lính,
tiếng binh khí va vào vách đá vang dội
khắp lòng núi, hai bên giao chiến
ngay trên mép vực.
Quân của trần thức tan vỡ.
Trong lúc hoãn loạn tháo chạy,
rất nhiều người rơi xuống khe núi.
Sự sách chép rằng số người không qua khỏi nhiều
không kể siết.
Tin thắng trần bảo vệ, Tào Tháo mừng lắm,
ban cho từ Hoãn cờ tiết,
tức là tín vật cho phép viên tướng cầm quân
được tự quyền quyết định việt binh
rồi hạ một bức lệnh khen ngợi.
Con đường sang đạo này là
Ít Hầu hiểm yếu của Hán Trung.
Lưu Bì muốn cắt đứt trong ngoài
để lấy Hán Trung.
Tướng quân một trận đã phá được kế của giặc,
thật là giỏi trong những người giỏi.
Đó là một chiến công thật sự,
đánh đúng vào chỗ hiểm nhất
và từ Hoãn đã giữ được Ít Hầu của Hán Trung
đúng như chủ tướng mong đợi.
Nhưng giữ được Ít Hầu không có nghĩa
là cả thân mình được an toàn.
Tháng Giêng năm 219
ở núi Định Quân, Hạ Hậu Uyên
chỉ dẫn vài trăm quân ra sửa hàng rào lộc giác,
tức là những hàng cọc gỗ nhọn trắng
trước doanh trại,
thì bị Hoàng Trung, lão tướng của Lưu Bì
từ trên núi cao ào xuống đánh Úc
và vì đại tướng từng được ranh
phải biết sợ ấy không qua khỏi.
Quân Tàu ở Hán Trung mất chủ tướng,
hoảng loạn tột độ,
các tướng phải vội tôn trương cáp lên tạm nắm quân
để giữ lấy tinh thần binh sĩ.
Tàu Tháo tự mình dẫn đại quân
quyết giành lại thế trận.
Nhưng Lưu Bì lúc này đã chiếm được chỗ hiểm,
cố thủ không chịu ra đánh,
quân Tàu tiến không được,
Lương Thảo vệnh chuyển qua những đoạn sạng đạo
treo leo mãi không đủ,
binh lính bỏ trốn ngày một nhiều.
Chính trong những ngày giằng co ấy
mà nảy sinh giai thoại về hai chữ kê cân,
tức là gân gà,
được sách Cửu Châu Xuân Thu chép lại
như khẩu lệnh ban đêm của Tàu Tháo.
Ăn thì chẳng được bao nhiêu thịt,
bỏ thì lại tiếc.
Mùa hè năm 219,
Tàu Tháo ra lệnh rút toàn bộ quân
khỏi Hán Trung,
Từ Hoảng cũng theo đại quân lui về phía bắc.
Con đường sang đạo Mã Minh Cát
mà ông từng giữ vững bằng bao công sức
và mạng người, cuối cùng lại trở thành
chính con đường để quân Tàu rút lui.
Tàu Tháo đã khen rằng
đó là ít hầu của Hán Trung
và Từ Hoảng đã giữ được nó,
chỉ để vài tháng sau, tận mắt nhìn cả vùng đất ấy
trao lại vào tay đối phương.
Ít lâu sau, Lưu Bì lên ngôi
Hán Trung Vương, ngay trên mảnh đất
mà quân Tàu vừa rời bỏ.
Một viên tướng có thể thắng mọi trận
mình được giao, nhưng liệu có ích gì
khi cuộc chiến lớn hơn đã được định đoạt
ở một ngọn núi khác, bởi một người khác?
Tam Quốc Diễn Nghĩa thì kể
thất bại ở Hán Trung theo một cách khác hẳn,
trong đó Từ Hoảng cậy dũng,
bày trận lưng tựa song Hán Thủy,
bỏ ngoài tai lời can của phó tướng Vương Bình,
rồi bị Hoàng Trung và Triệu Vân
đánh cho đại bại, Vương Bình thất vọng
mà bỏ sang Hàn Lưu Bì.
Chính sự có chép Vương Bình quy Hàn Lưu Bì
vào khoảng thời gian này, nhưng không hề
có trận Hán Thủy nào như thế,
cũng chẳng có chuyện từ Hoảng ép Vương Bình
đến đường cùng. Có vẻ như tiểu thuyết
cần một người để gắn lấy sự bẻ bàng
của cả chiến dịch, và cái tên được
chọn lại là viên tướng duy nhất
thực sự thắng trận ở đó.
Nhưng Hán Trung chưa phải là thử thách lớn nhất
của năm 219. Chỉ vài tháng sau,
ở phía đông, một người bạn cũ
sẽ khiến cả họ Tàu phải tính đến
chuyện rời đô. Mùa thu
năm 219, trong khi Tàu Tháo
vừa rút khỏi Hán Trung,
thì ở mặt trận Kinh Châu, Quang Vũ
bất ngờ dẫn quân từ Giang Lăng tiến
lên phía bắc, vây đánh Phàng Thành,
nơi Tàu nhân, em họ của
Tàu Tháo đang trấn giữ.
Rồi trời cũng đứng về phía Quang Vũ.
Mưa thu dầm về hơn
10 ngày liền, sông Hán Thủy dâng cao,
nước tràn bờ ngập trắng cả vùng
đồng bằng. Bảy đảo quân do
vu cấm dẫn đến cứu viện bị nước nhấn chìm
và vu cấm một danh tướng
đã theo Tàu Tháo gần 30 năm
phải đầu hàng Quang Vũ.
Phàng Thành bị nước bao vây,
Tường Thành chỉ còn nhô lên khỏi mặt nước vài thước.
Bên trong lương cạn, quân sĩ hoang
mang, còn ở tương dương bên kia sông,
tướng Lữ Thường cũng bị vây chặt.
Huy danh của Quang Vũ lúc ấy
chấn động cả Trung Nguyên, nhiều toán
giặc cướp quanh vùng hứa đô sa sôi
cũng ngã theo ông, đến mức Tàu
Tháo từng bàn chuyện rời đô khỏi
đất hứa để tránh mũi nhọn.
Nhưng quân của ông phần lớn là tân binh mới mộ,
chưa quen trần mạc, và ông biết rõ
đem đám quân ấy lao thẳng
vào đội quân đang thắng như trẻ tre của Quang Vũ
thì chẳng khác gì ném đá xuống sông.
Ông dừng quân ở dương Lăng Pha,
cách vòng vây một quãng
và chờ.
Trong doanh trại, không ít tướng sĩ sốt ruột,
có người thúc giục phải tiến gấp để cứu Tàu Nhân,
còn từ Phàng Thành,
tin tức mỗi ngày một bi đác hơn.
Đứng yên giữa lúc đồng đội đang cầu cứu
là điều khó hơn nhiều so với sông lên,
vì sông lên mà thua
thì người ta còn thương,
còn đứng yên mà để thành vỡ
thì cả đời mang tiếng.
Nhưng Từ Hoãng không nhúc nhích,
và lần này Tào Tháo đứng về phía ông,
sai người mang lệnh đến.
Phải đợi binh mã tập hợp đủ,
rồi mới cùng tiến.
Viện binh lần lượt kéo đến,
hết đợt này đến đợt khác,
cho đến khi dưới trướng Từ Hoãng
đã có thêm 12 doanh.
Quân Quang Vũ đóng một cánh ở Yễn Thành.
Từ Hoãng cho quân đạo một con hào dài
như thể muốn cắt đường lui phía sau.
Quang Vũ sợ bị chặn đường,
đốt trại rút khỏi Yễn Thành.
Từ Hoãng chiếm lấy Yễn Thành,
cho doanh trại nối dài hai mặt,
từng bước áp sát,
đến khi chỉ còn cách vòng vây của Quang Vũ ba trường.
Và chính ở đó,
hai người đàn ông Đất Hạ Đông gặp lại nhau.
Sách Thục Ký, được Bùi Tùng Chi dẫn lại
khi chú giải Tam Quốc Chí,
chép rằng Quang Vũ và Từ Hoãng
vốn quý mến nhau từ lâu.
Hai người đứng từ xa trò chuyện,
chỉ nói chuyện bình sinh,
những năm tháng cũ,
không ai nhắc đến một chữ nào về chiến sự.
Có thể là chuyện quê nhà Hạ Đông,
có thể là chuyện những ngày
cùng mang chức thiên tướng quân dưới trướng Tào Tháo,
có thể là chuyện bạch mã năm nào
khi một người phi ngựa vào giữa vạn quân
còn người kia đứng nhìn theo.
19 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy.
Một lúc sau,
Từ Hoãng xuống ngựa.
Ông buông dây cương, quay về phía quân mình
và cất giọng truyền lệnh.
Ai lấy được thủ cấp của Quang Vân Trường
thưởng một nghìn cân vàng.
Quang Vũ sứng sợ, kinh hãi,
nói với Từ Hoãng.
Đại Huynh, sao lại nói lời ấy?
Từ Hoãng đáp.
Đây là việc nước mà thôi.
Chữ công trong tên từ của ông lần ấy
đã thắng chữ tình và thắng ngay
trước mặt người bạn cũ.
Đêm ấy, trong doanh trại,
Từ Hoãng ngồi một mình bên con ngựa của mình.
Ông cầm lấy sợi dây cương
đã buông xuống lúc ban kiều.
Quấn từng vòng quanh bàn tay.
Quấn chặt, rồi gỡ ra,
rồi lại quấn.
Ngọn đèn trong trướng cháy đến gần sáng.
Quanh vòng vây phàn thành,
Quang Vũ có hai doanh trại lớn,
một ở vi đầu, một ở tứ trũng.
Từ Hoãng cho quân phao tin khắp nơi
rằng sẽ đánh vi đầu,
nhưng lại ngầm rồn quân đánh tứ trũng.
Quang Vũ thấy tứ trũng sắp vỡ,
tự mình dẫn năm nghìn quân
cả bộ lấn kỵ ra ngânh chiến.
Hai người bạn cú, lần này,
đối mặt nhau bằng binh khí.
Từ Hoãng đánh lui Quang Vũ,
rồi thừa thế đuổi theo,
xông thẳng qua mười lớp hào sâu và cọc nhọn,
lọt hẳn vào bên trong vòng vây,
phá tan cả thế trận.
Quân Quang Vũ chen nhau tháo chạy.
Nhiều người rơi xuống dòng sông miền,
mà không qua khỏi.
Vòng vây phàn thành được giải.
Tào Tháo hạ lệnh khen ngợi,
nói rằng mình dùng binh hơn ba mươi năm,
cũng từng nghe nhiều về các bậc giỏi
dùng binh thời xưa,
nhưng chưa thấy ai tiến thẳng vào giữa vòng vây
của địch như thế.
Và công lao của Từ Hoãng còn vượt cả Tôn Vũ,
tác giả tôn tử binh Pháp,
lẫn tư mã Nhương Tư,
danh tướng nước tề thời Xuân Thu.
Khi Từ Hoãng kéo quân trở về Ma Pha,
Tào Tháo đứt thân ra Bảy Dặm để đón,
mở tuyệt lớn khao quân,
nâng chén rượu mời ông.
Giữ trọn phàn thành và tương dương
là công của tướng quân.
Rồi Tào Tháo đi thị sát các doanh trại,
quân lính các doanh khác đều rời hàng ngũ
chạy ra xem.
Chỉ riêng doanh của Từ Hoãng là hàng lối chỉnh tề,
tướng sĩ đứng nguyên vị trí không ai nhúc nhích.
Tào Tháo thở dài khen.
Từ tướng quân có thể nói là
có phong thái của Chu Á Phu.
Chu Á Phu là danh tướng thời Tây Hán,
nổi tiếng giữ quân lệnh nghiêm,
đến mức ngay cả khi hoàng đế đến doanh trại
cũng phải chờ tướng quân cho phép
mới được vào.
Được ví với Chu Á Phu,
đó là lời khen cao nhất
mà một người cầm quân thời ấy có thể nhận được.
Nhưng câu chuyện của người bạn cũ
thì không kết thúc bằng một bữa tiệc.
Trong lúc Quang Vũ dồn sức ở phàn thành,
lá mông của đông ngô
bất ngờ đánh úp giang lăng,
cướp mất hậu phương, quân Quang Vũ tan rã rành.
Ông chạy về mạch thành,
rồi bị quân đông ngô bắt được
và không được toàn mạng.
Người đàn ông Đất Hà Đông từng gọi Từ Hoãng
là đại huynh bên bờ Hán Thủy ấy,
không bao giờ còn được gặp lại
người anh em kết nghĩa của mình nữa.
Đầu năm 220, chỉ vài tháng sau trận phàn thành,
Tào Tháo trút hơi thở cuối cùng
ở Lạc Dương.
Con trai là Tào Phi nối ngôi Nguy Vương.
Tào Phi phong Từ Hoãng
làm hữu tướng quân,
tước lục hương hầu.
Cuối năm ấy, Tào Phi ép Hán Hiến Đế
nhường ngôi, lập ra nhà Nguy,
chấm dứt 400 năm của nhà Hán.
Cậu bé 14 tuổi
mà Từ Hoãng từng hộ giá qua sông Hoàng Hà
năm nào, giờ đã là một người đàn ông
gần 40 tuổi, lặng lẽ trao
ngôi báu cho con trai của người
mà chính Từ Hoãng đã khuyên chủ cú quy phục.
Sự sách không chép
Từ Hoãng đã nghĩ gì trong ngày ấy.
Chỉ chép rằng khi Tào Phi lên
ngôi Hoàng Đế, ông được tiến phong
làm dương hầu, rồi được sai cùng tướng
Hạ Hậu Thượng đánh xuống Thượng Dung,
một vùng núi hiểm trở ở phía tây bắc
Kinh Châu do Lưu Phong, con nuôi
của Lưu Bị, trấn giữ.
Người cùng đi trong đảo quân ấy còn có
mạnh đạc, một viên tướng nhà Thục
vừa bỏ Lưu Bị sang hàng Nguy, vì
sợ bị trách tội đã không đem quân cứu
quan vũ. Thượng Dung bị phá,
Lưu Phong thua chạy về thành đô,
và Từ Hoãng lại lập thêm một công nữa.
Ông được sai trấn giữ Dương Bình,
rồi được đổi phong làm Dương Bình Hầu.
Năm 226,
Tào Phi qua đời, con trai
là Tào Duệ nối ngôi, tức là
Nguy Minh Đế. Nhân lúc
nhà Nguy có tan, đồng ngô sai
gia Cát Cảnh, anh ruột của
gia Cát Lượng, đem quân đánh
Tương Dương. Người được sai đi
chống giữ lại là Từ Hoãng
và lại là Tương Dương, cái tên đã
gắn với chiến công lớn nhất đời ông 7 năm trước.
Quân đồng ngô bị đẩy
lui, Từ Hoãng được tăng thêm
200 hộ thực ấp, tổng cộng
3.100 hộ. Suốt những
năm tháng ấy, cách sống của ông gần
như không hề thay đổi. Sự
sắc chép rằng, ông tính tình tiết kiệm,
cẩn trọng, mỗi lần hành quân
đều cho thám báo đi thật xa, trước
hết lo cho quân mình ở vào thế không
thể bị đánh bại, rồi mới tính đến
chuyện đánh thắng người. Nhưng
một khi đã đuổi theo quân giặc để tranh lấy
thời cơ, thì ông thúc quân nhanh đến
mức binh sĩ không kịp ăn. Ông
thường thang, người xưa lo không gặp
được minh quân, nay ta may mắn gặp
được, chỉ nên đem công lao ra mà
báo đáp, cần gì danh tiếng riêng.
Và suốt đời, ông không
kết giao rộng rãi, không gây dựng bẻ
cánh, không nhờ ai nói giúp cho mình
một lời nào trước mặt vua.
Giữa một triều đình mà
các tướng lính quan lại thường kéo bẻ
kéo cánh để giữ lấy chỗ đứng,
cái lối sống ấy khiến ông gần như vô hình
cho đến khi có chiến sự.
Năm 227, từ hoãn
lâm bệnh nặng. Trước khi mất,
ông dặn lại chỉ một điều,
rằng khi khâm liệm thì hãy mặc cho ông
bộ áo thường theo mùa, không cần gì hơn.
Một người từng được Tào Tháo ra
bẫy giảm đón, từng được ví với
Tôn Vũ và Chu Á Phu, ra đi
trong bộ áo thường như bao người lính khác.
Ông được ban tên Thụy là Tráng Hầu,
con trai là Từ Cái Nối Tước,
rồi đến cháu là Từ Bá.
Tạm quốc diễn nghĩa không để ông ra đi
lặng lẽ như vậy. Trong tiểu thuyết
năm 228, Mạnh Đạt
mưu phản nhà Nguy, Từ Hoãn
theo Tư Mã Ý đi đánh, rồi bị
chính Mạnh Đạt bắn một mũi tên trúng tráng
mà không qua khỏi.
Chính xử thì cho thấy, Từ Hoãn đã mất
từ năm trước đó vì bệnh, chưa hề dự
vào trận đánh Mạnh Đạt, và người đã
từng sánh vai với ông ở Thượng Dung ấy
chưa bao giờ là kẻ kết thúc cuộc đời ông.
Nhìn lại cả một đời người,
điều đáng nhớ nhất ở Từ Hoãn
không phải là võ nghệ, mà là
cái đầu biết nói đúng lời vào đúng lúc,
khuyên chủ hồ giá, khuyên chủ
quy tạo, can tạo tháo tha
cho một tòa thành, và biết đứng yên
khi mọi người thúc dục sông lên.
Dấu ấn ông để lại có thể đếm được
hạ bác quy về một mối nhanh hơn
nhờ lời can ở dịch dương,
quan trung vào tay họ tạo, nhờ một đêm
vượt bến bộ phản, phàn thành
và tương dương được giữ vững nhờ
trạnh phá vòng vây 10 lớp,
và chính sử gia Trần Thọ đã xếp ông vào
cùng một truyện với trương liu, nhạc tiến,
vu cấm, trương cáp,
5 viên tướng mà hầu thế gọi chung
là ngũ tự lương tướng, những người
đứng đầu hàng vó tướng dưới trướng tạo tháo.
Còn trong lòng người đời,
ông ở lại qua hình ảnh một viên tướng
tay cầm búa lớn trên sân khấu,
và qua một câu nói bên bờ hán thủy
mà 17 thế kỷ sau,
người ta vẫn còn tranh cãi rằng
đó là lạnh lùng hay là chính trực.
Có lẽ trong đời,
ai cũng có lúc phải chọn giữa điều mình thương
và điều mình phải làm,
chỉ có điều hiếm ai phải chọn
trước mặt cả hai đạo quân.
Bên dòng hán thủy năm ấy,
ông đã buông dây cương mà chọn chữ công,
và cả đời còn lại,
ông cũng chưa từng nhặt lại chữ tình
để biện bạch cho mình.
Ít ai ngờ, một người cả đời
không mưu cầu danh tiếng
lại được nhớ mãi chỉ vì một câu
việc nước mà thôi
nói ra trước mặt người bạn cũ.
Và nếu các bạn muốn nghe thêm những con người
phải chọn giữa chữ tình và chữ nghĩa như vậy,
hãy đăng ký kênh Phê Sử nhé.
