#lichsu#lichsutrungquoc#lichsutrunghoa Nhắc đến Tế Công, chúng ta thường nhớ ngay đến hình ảnh vị hòa thượng áo rách, quạt tơi tả, tay cầm bầu rượu với phép thuật thần thông quảng đại trong các bộ phim truyền hình. Nhưng bạn có biết, đằng sau lớp sương mù của huyền thoại, Tế Công là một nhân vật hoàn toàn có thật trong lịch sử Nam Tống?
Không có phép thuật dời non lấp biển, không có những viên "tiên đan" cải tử hoàn sinh, vị Đạo Tế thiền sư bằng xương bằng thịt trong chính sử đã dùng y thuật, tài văn phú và một trái tim Bồ Tát nhập thế để cứu giúp hàng vạn bách tính nghèo khổ. Từ một công tử danh gia vọng tộc ở Thiên Thai, vì sao ông lại rũ bỏ tất cả để trở thành một kẻ "cuồng thiền" bị đuổi khỏi chùa Linh Ẩn?
Hãy cùng Say Sử ngược dòng thời gian, gạt bỏ những giai thoại dân gian để tìm hiểu về cuộc đời thật đầy thăng trầm và vĩ đại của Tế Công qua lăng kính lịch sử khách quan nhất! #lichsu#lichsutrungquoc#lichsutrunghoa#tecong#saysu
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Video trình bày về cuộc đời thực của Thiền sư Tế Công (Lý Tu Duyên) thời Nam Tống, phân biệt giữa hình tượng huyền ảo trên phim ảnh và con người lịch sử. Từ một công tử danh giá, ông chọn lối tu hành \"điên\" (Cùn Thiền), phá bỏ giáo điều, dùng trí tuệ và lòng từ bi để cứu giúp người nghèo và tái thiết chùa Tịnh Từ, để lại bài học sâu sắc về triết lý Phật giáo nhập thế.
Chào mừng các bạn đã quay trở lại với Say Sử.
Nhắc đến Tế Công, hẳn trong tầm trí chúng ta sẽ hiện lên hình ảnh
một vị hòa thượng quần áo rác trưới, tay cầm quạt nang tơi tả,
miệng luôn lẫm bẫm những câu ca giao trào phúng, lúc tỉnh lúc say
nhưng lại mang trong mình phép thuật thần thông quảng đại để cứu nhân độ thế.
Đó là Tế Công trong tiểu thuyết và phim ảnh.
Nhưng trên thực tế, Tế Công là một nhân vật có thật trong lịch sử.
Ông không có phép thuật dời non lấp biển, cũng không thể biến hóa khung lường.
Vậy, đằng sau những giai thoại dân gian nhúng màu huyền bí,
cuộc đời thật của ông trong chính sử diễn ra như thế nào?
Hôm nay, Say Sử sẽ đưa các bạn ngược dòng thời gian về thời Nam Tống,
gạt bỏ lớp xương mù của thần thoại để cùng tấm tắt lại cuộc đời của Tế Công
theo lang kính lịch sử khách quàng nhất.
Vào những năm thiệu hưng thời Nam Tống, khoảng năm 1130,
tại làng Vĩnh Ninh, huyện Thiên Thai, Phủ Thai Châu, này thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.
Một cậu bé đã cất tiếng khóc chào đời.
Cậu bé đó chính là Tế Công tương lai, tên thật là Lý Tu Duyên.
Gia tộc họ Lý tại Thiên Thai không phải là một gia đình tầm thường.
Tổ tiên của Lý Tu Duyên là Lý Sùng Cũ, một danh tướng khai quốc công thần
thời Bắc Tống, từng giữ chức tiết độ sứ,
có công lớn trong việc phò tá tống thái tổ, triệu khuôn dận, lập quốc.
Trải qua nhiều đời, gia thế họ Lý tuy không còn nắm giữ binh quyền tột đỉnh như trước,
nhưng vẫn là một danh gia vọng tộc, đời đời có người làm quang,
gia sản bề thế, được người dân quanh vùng kính trọng.
Cha của ông là Lý Mậu Xuân, một người từng làm quang nhỏ tại huyện nhà,
nhưng sau đó từ quang về ở ẩn.
Lý Mậu Xuân là người hiền lành, nhân hậu, thường xuyên làm việc thiện,
tu bổ đền chùa, cứu giúp dân nghèo.
Mẹ ông là Vương Thị, cũng là một người phụ nữ xuất thân Khuê Cát, mộ Đạo Phật.
Dù gia đình êm ấm, vợ chồng hòa thuận,
nhưng mãi đến khi bước vào tuổi trung niên,
Lý Mậu Xuân và Vương Thị vẫn chưa có mụn con nào để nối dõi tông đường.
Chính vì vậy, sự ra đời của cậu bé họ Lý là một sự kiện trọng đại,
mang lại niềm vui vô bờ bến cho cả gia đình.
Tương truyền, khi cậu bé đầy tháng,
Lý Mậu Xuân đã mời một vị cao tăng là Tính Không Trưởng Lão
từ chùa Quốc Thanh ở gần đó đến nhà để làm lễ và đặt tên cho con.
Khi nhìn thấy đứa trẻ khôi ngô tuấn tú, ánh mắt sáng ngời,
Tính Không Trưởng Lão đã mỉm cười và nói trực tiếp với Lý Mậu Xuân.
Nếu trẻ này căng cơ sâu dày, phàm trần khó giữ, duyên với cửa Phật lại vô cùng lớn,
ta bàn cho nó cái tên Tu Duyên, mong rằng cả đời nó sẽ tu tập kết thiện duyên với thiên hạ.
Lý Mậu Xuân nghe vậy vô cùng mừng rỡ, bèn lấy tên Tu Duyên đặt cho con trai.
Lý Tu Duyên lớn lên trong sự bảo bọc, yêu thương của cha mẹ và sự kỳ vọng của cả gia tộc.
Với xuất thần danh muôn, ngay từ nhỏ ông đã được hưởng một nền giáo dục toàn diện.
Lý Tu Duyên tỏ ra là một đứa trẻ thông minh xuất chúng, trí nhớ hơn người.
Ông đọc rộng hiểu nhiều, tinh thông tứ thư ngũ kinh, giỏi thi phú.
Không chỉ dừng lại ở nho giáo, nhưng ảnh hưởng từ truyền thống gia đình và môi trường xung quanh
ngập tràn không khí Phật giáo tại vùng thiên thai.
Lý Tu Duyên còn sớm tiếp xúc và nghiên cứu sâu sắc về các triết lý của Đạo Phật.
Những tượng với tài năng và gia thế ấy, Lý Tu Duyên sẽ bước vào con đường khoa cử,
thi đổ công danh, làm quang rạng rở tổ tông,
đúng như con đường mà mọi nho sinh thời bấy giờ đều hướng tới.
Thế nhưng, con đường làm quang lại không hề có sức hút đối với chàng thanh niên họ Lý.
Ông chán ghét sự gọ bó của chốn quan trường, không mạng đến công danh lợi lọc.
Thay vào đó, ông thích vãng cảnh chùa chiền, đạm đạo với các vị tu hành,
tìm hiểu về lẽ luân hồi, nhân quả.
Biển cổ lớn nhất làm thay đổi hoàn toàn quý đạo cuộc đời của Lý Tu Duyên
xảy ra vào năm ông khoảng 18 tuổi.
Trong một thời gian ngắn, cả cha và mẹ ông đều lần lượt lăm bệnh nặng và qua đời.
Bầu trời như sập đổ trước mắt chàng thanh niên trẻ.
Mất đi hai người yêu thương nhất, Lý Tu Duyên phải tự tay lo liệu tăng lễ
cho cha mẹ trong sự tỉnh lặng vô cùng.
Trong suốt ba năm thủ tan cha mẹ theo đúng lễ giáo phòng kiến,
Lý Tu Duyên giam mình trong nhà.
Khoảng thời gian này không chỉ là lúc ông trọn đạo hiếu,
mà còn là khoảng thời gian tỉnh tâm để ông suy ngẩm sâu sắc về cuộc đời.
Ông nhìn đống gia sản kết xù mà tổ tiên để lại,
rồi nhìn vào nấm màu xanh của cha mẹ, nhận ra rằng dù có quyền cao chức trọng,
tiền bạc đầy nhà, thì khi nhắm mắt xuôi tay cũng chẳng thể mang theo được gì.
Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật bất biến không ai có thể tránh khỏi.
Vào ngày mãng tan cha mẹ, Lý Tu Duyên gọi những người thân thiết trong dòng họ đến
và nói lời quyết định.
Gia sản này xin giao lại cho các vị bá thuốc quản lý.
Sinh mạng con người ngắn mũi, kiếp nhân sinh và ăn sự đều là huyến mộng.
Này ta quyết chí cắt đứt trần duyên,
rời khỏi nhà để đi tìm con đường giải thoát trần chính.
Mặc cho họ hàng ra sức khuyên can giữ lại,
Lý Tu Duyên vẫn kiên định với lựa chọn của mình.
Ông từ bỏ thân phận thiếu gia của một danh gia vọng tộc,
rủ bỏ mọi vinh hoa phú quý,
bước ra khỏi cổng lớn của Lý Phủ,
bỏ lại phía sau cả một tương lai rộng mở nơi thế tục.
Tràng thanh niên Lý Tu Duyên lúc bấy giờ chỉ có duy nhất một bộ quần áo vải thô trên người
cùng một trái tim đang rực cháy khát vọng tầm đạo.
Ông không chọn những ngôi chùa nhỏ bé ở quê nhà
mà hướng thẳng đến kinh đô Lâm An tức Hàng Châu ngày nay.
Thời bấy giờ, Lâm An không chỉ là trung tâm chính trị,
kinh tế mà còn là cội nguồn của Phật giáo Thiền Tông,
nơi tập trung những bậc cao tăng đại đức
và những ngôi đại danh lam cổ tự bề thế nhất thiên hạ.
Điểm dừng chân của Lý Tu Duyên là chùa Linh Ẩn.
Tọa lạc dưới chân núi Phi Lai Phong,
chùa Linh Ẩn khi ấy là một trong Thiền Tông Ngũ Sơn,
tức năm ngọn núi Thiền Tông lớn nhất của Nam Tống,
với quy mô hàng ngàn tăng chúng, khói hương nghì ngút quanh năm.
Tại đây, vị trụ trị đang hoàng dương Phật Pháp là Hạc Đường Huệ Viễn Thiền Sư.
Trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa, Hạc Đường Huệ Viễn
là vị Thiền Sư đời thứ năm của Tông Lâm Tế,
vô cùng nổi danh bởi đạo hạnh uyên thâm, phát nhãn tượng minh,
có thể nhìn thấu được căng cơ và ngộ tính của người đối diện chỉ qua vài lời vấn đáp.
Đứng trước bức tường reo phong của Linh Ẩn tự, Lý Tu Duyên xin được ý kiến vị trụ trị.
Trải qua nhiều vòng bẩm báo, tràng thanh niên họ Lý cuối cùng cũng được đưa vào phương trượng.
Vừa nhìn thấy Hạc Đường Thiền Sư, Lý Tu Duyên đã quỳ rạp xuống,
dập đầu đánh lễ và giống giạc nói.
Đệ tử từ Vĩnh Ninh thiên thai lặng lội đến đây,
đã thấu hiểu lẽ vô thường, vạn pháp đều là mộng huyển.
Nay đệ tử nguyện chủ bỏ hồng trần, dốc lòng hướng Phật, tìm cầu sinh tử đại sự.
Kính xin Lão Thiền Sư từ bi thu nhận, cho đệ tử được thế phát quy y.
Hạc Đường Thiền Sư trầm ngâm quan sát tràng thanh niên.
Dù mặc áo vải thô, phong trần mệt mỏi,
nhưng ánh mắt của Lý Tu Duyên lại toát lên sự sáng suốt, kiên định hiếm thấy.
Thiền Sư bắt đầu đưa ra những câu hỏi hóc búa về thiền lý,
về bản tâm và vạn pháp để thử thấp.
Thật bất ngờ, Lý Tu Duyên đối đáp trôi chảy, lời lẽ sắc xảo,
đập tan những giáo điệu khùng thước thông thường,
thể hiện một tư chất mộ đạo xuất chúng.
Nhận ra đây là một bậc pháp khí hiếm có,
nếu được mai Dũa sẽ trở thành ngọn đèn sáng của Phật Pháp,
Hạc Đường Thiền Sư khẽ mỉm cười và nói
Trần Duyên của con đã giấc, Phật Duyên này đã đơn bông,
ta chấp thuận cho con nhập mùn.
Ngay ngày hôm sau, lễ Thế Pháp Quy Y được cử hành trang nghiêm
tại Đại Hùng Báo Điện Chùa Linh Ẩn.
Từng lọn tóc xanh rơi xuống thềm đá,
các Đức Vĩnh Viễn muốn liên hệ với thân phận công tử nhà họ Lý.
Hạc Đường Thiền Sư tự tay bàn pháp dành cho ông là Đạo Tế,
chữ Đạo trong Đạo Pháp, chữ Tế trong Cứu Tế.
Cái tên này không chỉ là một danh sưng mà còn là lời gửi gắm
sự kỳ vọng của Hạc Đường Thiền Sư về một vị tăng nhân
sẽ dụng Đạo Pháp để tế thế cứu dân trong tương lai.
Trong những năm tháng đầu tiên khoát áo ca xa,
Đạo Tế tỏ ra là một tu sĩ mẫu mực.
Ông tuân thủ nghiêm ngặt mọi thăng quy giới luật của chốn thiện môn.
Chùa Linh Ẩn với quy mô hàng ngàn người,
có những quy tắc sinh hoạt vô cùng khắc khe.
Mỗi ngày, Đạo Tế thức dậy từ canh ba để tụng kinh, tọa thiền.
Ông không nề hà bất cứ công việc nặng nhọc nào,
từ gánh nước, bữa củi, nấu cơm dưới nhà trù cho đến quét tước sân chùa.
Với nền tảng nho học vững chắc từ nhỏ,
khi chuyển sang nghiên cứu kinh tạng Phật giáo, Đạo Tế tiến bộ thần tốc.
Những bài kể ông viết, những lần luận đạo của ông với các sư huynh đệ
đều thể hiện một tư duy triết học uyên bác,
khiến cả giới tu hằng tại Hàng Châu bắt đầu chú ý đến vị tăng sĩ trẻ tuổi này.
Những người đinh ninh rằng Đạo Tế trội đây sẽ trở thành một vị cao tăng đạo mạo,
một bậc học giả uyên thâm, kế thừa y bác của hạt đường thiền sư.
Thế nhưng, lịch sử luôn có những ngã rẽ bất ngờ.
Sự mẫu mực ấy không kéo dài mãi.
Càng đi sâu vào chứng mộ thiền lý,
Đạo Tế càng nhận ra những giới hạn của hình thức.
Phật giáo thời Nam Tống bấy giờ đang có xu hướng rơi vào giáo điệu.
Nhiều tăng nhân chỉ chú trọng đến việc giữ gìn giới tướng bên ngoài,
mặc áo cà sa gấm vóc, ngùi thiền hàng giờ,
nhưng trong tâm lại chất chứa mưu cầu danh lợi, xa rời chúng sinh.
Và rồi, ông quyết định phá bỏ mọi siền xích của hình thức.
Biểu hiện đầu tiên là việc ông không còn chú trọng đến vẻ bề ngoài.
Chiếc áo cà sa lành lặng dần trở nên rách trưới, cáu bẩn, bốc mùi.
Đôi giày cỏ mòn vẹt để lộ cả ngón chân.
Ông không gõ mỏ tụng kinh trong đại điện nữa,
mà thường xuyên trốn ra ngoài nằm vắt vẻo trên những cành cây,
ngủ gà ngủ gật bên bờ suối,
hay ngâm nga những câu thơ trào phúng, cười nhạo thế nhân.
Đính điểm của sự nổi loạn gây chấn gọng không chỉ Chùa Linh Ấn mà cả đất Lâm An
là việc Đạo Tế công khai phá giới.
Ông bắt đầu uống rượu và ăn thịt.
Thưa các bạn, trong quan niệm của Phật giáo Đại Thừa tại Trung Hoa,
ăn mặn và uống rượu là những trọng tội,
là hành vi phỉ bán tam bão, làm ô ế thanh quy.
Thế nhưng, Đạo Tế lại thảng nhiên sách vò rượu hồ lô,
lão đảo bước đi trên đường phố kinh kỳ nhộn nhịp.
Ông Lê La từ quán rượu này đến tự điểm khác
hòa mình vào đám đông những người lao động nghèo khổ,
những kẻ bần cùng, ăn mày, nơi đáy xã hội.
Ông dùng ngôn ngữ bình dân, dùng nụ cười điên dại để hóa giải những oán hờn,
dùng đạo lý giảng đơn ẩn dấu trong những câu nói tưởng chừng như điên khùng
để thức tỉnh người đời.
Giới nghiên cứu lịch sử Phật giáo gọi hiện tượng này là Cùn Thiền,
mượn sự điên cùn, dị hợm bên ngoài
để phá vỡ sự chấp nê vào hình tướng bên trong.
Tuy nhiên, với phận đồng tăng chúng tại Chùa Linh Ẩn,
hành động của Đạo Tế là không thể chấp nhận được.
Một sự phẫn nộ bùng nổ trong Chốn Thiền môn vốn đề cao sự tỉnh lặng.
Các tăng nhân liên tục đệ đơn tố cáo,
phàn nàng với vị giám tự, người quản lý trật tự trong chùa.
Họ cho rằng Đạo Tế là Tế Điên,
là kẻ bệnh hoạn làm bại hoại thanh danh của Linh Ẩn tự,
khiến người dân và giới quý tộc kinh thành chê cười.
Trước sức ép quá lớn từ hàng trăm tăng chúng,
vị giám tự không thể tự mình giải quyết,
đành phải thu thập mọi bằng chứng,
viết một lá thư tố cáo dài,
đem lên phương trượng trình bày trực tiếp với hạt đường thiền sư.
Bấm trù trì!
Sư đệ Đạo Tế hành vi ngông cuồn,
không còn nhân dáng của người xuất gia.
Suốt ngày la cả quán xá,
xây xừa túy lý, miệng nhai thịt cá,
quần áo hồi hám rách nát.
Chúng tăng vô cùng bất bình,
khách thập phương bàn tán xôn xao.
Nay xin trụ trì nghiêm minh môn quy,
tước bỏ y bác, trục xuất Đạo Tế khỏi cửa thiền,
để làm gương cho kẻ khác,
giữ gìn thanh tịnh cho chốn giả làm.
Bộ không khí trong phương trượng căng thẳng tỉnh lặng,
tất cả đều chờ đợi một phán quyết nghiêm khắc
từ vị cao tăng đứng đầu Tông Lâm Tế.
Thế nhưng, hạt đường thiền sư không hề tức giận.
Ông chậm rãi cầm lá thư tố cáo lên,
rồi cầm bút lông, phê thẳng vào đó một câu nói lịch sử.
Một câu nói đã trở thành bức bình phong vững chắc nhất
bảo vệ Đạo Tế qua cường sóng gió.
Pháp môn quán đại,
lẽ nào không dung nạp nổi một vị tăng điên?
Nói rồi, thiền sư đưa lại tờ giấy cho vị giám tự
và mỉm cười im lặng.
Câu nói ấy khiến tất cả sứng sờ,
không ai dám phản bác thêm nửa lời.
Hạt đường thiền sư với tuệ nhãn của một bậc chân tu
đã sớm nhìn thấu con người thật của Đạo Tế.
Ông biết Đạo Tế tửu nhục xuyên trường qua,
Phật tổ lưu tâm trung.
Rượu thịt đi qua ruột,
nhưng Phật tổ mãi lưu lại trong tim.
Sự điên của Đạo Tế thực chất là một phương tiện thiện xảo,
một cách thức tu hành nhập thế độ sinh vĩ đại
mà những tăng nhân chỉ biết bám víu vào kinh kệ giáo điều
không bao giờ với tới được.
Nhờ sự bảo bọc tuyệt đối và bao dung của ân sư hạt đường,
Đạo Tế tiếp tục được ở lại chùa,
chính thức bước vào con đường hành đạo điên rồ mà vĩ đại của mình,
gắn liền với biệt danh Tế Công Hòa Thượng,
lưu danh Thiên Cổ.
Dưới sự bảo bọc của hạt đường thiền sư,
Đạo Tế được tự do hành đạo theo cách riêng của mình.
Bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ là kinh đô Lâm An
thời Nam Tống,
nơi được ví như một bức tranh vân cẩu
với những mảng màu sáng tối đàn xen gầy gắt.
Một bên là giới quý tộc, quang lại,
đắm chìm trong những đêm yến tiệt bấn tay hồ,
ngâm hoa thưởng nguyệt,
mặc kệ một ngửa giang sơn đã rơi vào tay quân kim ở phương Bắc.
Một bên là tầng lớp bá tánh nghèo khổ,
những người dân tị nạn chạy loạn từ phương Bắc xuống,
sống lây lát trong những khu ổ chuột,
chịu cảnh màng trời chiếu đất,
bệnh tật hoành hành.
Chính giữa bức tranh đầy nghịch lý ấy,
hình ảnh vị hoa thượng áo rách,
tay cầm quạt nang tơi tả,
bước chân lưu siêu vì men rượu
xuất hiện như một điểm tựa tinh thần kỳ lạ
đối với những mảnh đời dưới đáy xã hội.
Khác với những vị cao tăng
chỉ ngồi trong thiền viện uy nghi
để thuyết pháp cho giới thượng lưu,
Đạo Tế chọn đường phố, quán rượu,
xóm liều làm đạo tràng của mình.
Đạo Pháp của ông không nằm trong những bộ kinh điển dày cợp
mà biến thành những hành động cứu nhân độ thế thiết thực nhất.
Theo các kỳ chép lịch sử,
năng lực nổi bật nhất giúp Đạo Tế thu phục nhân tâm
chính là y thuật xuất chúng.
Không có những viên tế công đang
được vo tự ghét trên người
hay bùng đất mang phép thuật cãi tử hoàng sinh như trong thần thoại.
Đạo Tế đời thực là một người
am hiểu sâu sắc về dược lý và y thuật dân gian.
Nhờ những năm tháng đọc sách thánh hiền
và tự mình nghiên cứu,
ông biết cách sử dụng các loại thảo dược,
nấm lá, mọc khoang trên núi Phi Lai Phong để chữa bệnh.
Những người tìm đến ông,
hầu hết là dân nghèo,
không có tiện bắt mạch bốc thuốc
tại các y quán lớn.
Có lần, một bà lão ăn sinh
ôm đứa cháu nội đang lên cơn sốt chét,
rung rảy khóc lóc,
vang sinh người qua đường cứu giúp.
Nhưng ai nấy đều xua đuổi.
Đạo Tế đang say khước bước tới,
ngồi bệt xuống đất,
bắt mạch cho đứa bé,
rồi rút trong tay nải ra
vài gói thảo dược
được gói ghém cẩu thả,
đưa cho bà lão và nói
Bà Mụ,
mang thứ cỏ dại này về,
sắc với bà bát nước,
lấy một bát cho thằng bé uống.
Nhớ là phải hòa thêm một chút trò
của bếp củi nhà bà.
Ngày mai,
nó sẽ lại chạy nhảy đòi ăn thôi.
Lời lẽ thô lỗ,
hành động kỳ quặc,
nhưng phương thuốc của ông
lại mang đến hiệu quả thân kỳ.
Bà lão làm theo
và đứa bé quả thực
đã qua cơn nguy kịch.
Tiếng lạnh đồn xa,
người nghèo khắp lâm an
khi ốm đau
đều tìm đến Tăng Điên.
Ông chữa bệnh
không bao giờ lấy một đồng tiền công.
Ai có lòng
thì biếu ông hồ lô rượu nhạt
hoặc vắt xôi,
miếng thịt.
Ông đều vui vẻ nhận lấy
rồi ăn uống
một cách ngon lành
ngay giữa đường phố.
Bên cạnh y thuật,
một yếu tố quan trọng khác
khiến cái tên Đạo Tế
đi vào lịch sử
chính là tài năng văn chương
và thư pháp xuất chúng.
Chính xử Nam Tống ghi nhận
Đạo Tế là một nhà thơ,
nhà thư pháp tài hoa.
Chữ viết của ông
vô cùng phóng khoáng,
mang đậm thiền vị,
được giới văn nhân
quang lại đương thời
vô cùng sang đón.
Đạo Tế đã sử dụng
chính tài năng này
như một công cụ
để hóa duyên
tức là quyền góp tiền bạc
nhưng không phải để xây
chùa to,
phật lớn cho riêng mình
mà để làm việc nghĩa.
Khi chứng kiến đường xá sạc lỡ,
cầu cống hư hỏng
khiến dân chúng đi lại khó khăn,
tai nạn liên miên,
Đạo Tế liền đứng ra
phát động quyền góp.
Ông không gõ mỏ
tụng kinh vang nài
mà dùng bút mực.
Có lần,
để quyên tiện
sửa lại một cây cầu đá lớn
ở Hàng Châu,
Đạo Tế trực tiếp
xông vào phủ đệ
của một bá hộ
giàu nứt đố đổ vách
nhưng nổi tiếng kèo kiệt.
Bị gia đình nhăn cản,
ông liền đứng giữa sân
lớn tiếng ngầm thờ trào phúng,
châm biếm thói đời
thàm làm hám lợi,
khiến vị bá hộ
tức giận
Nhìn thấy vị bá hộ,
Đạo Tế không hề e sợ,
cười ha hả
rồi rút giấy bút ra,
mài mực ngay
trên phiến đá trước sân,
mua bút viết một bài kệ
khuyên răng về luật nhân quả.
Chữ viết uống lượng
như dòng bay phượng múa.
Viết xong,
ông ném bài thư pháp
lên bàn,
thẳng thẳng nói
Chữ của lão bá phù này
đáng giá ngàn vàng.
Này ta bán cho ông,
đổi lấy 300 lạng bạc trắng
để sửa cầu
cho bá tánh đi lại.
Ông giữ lấy chữ này,
coi như mua chút âm đức
cho con cháu đời sau.
Bằng không,
bạc vàng đầy rương,
lúc nhắm mắt
cũng chỉ là cát bụi.
Vị bá hộ,
vốn là người biết
thưởng thức thư pháp,
nhìn thấy nét chữ
tuyệt bút của Đạo Tế,
lại nghe những lời
cảnh tỉnh sắc bén,
liền thay đổi thay đổi.
Ông ta không những không trách phạt,
mà còn cung kính
sai người mang đủ
300 lạng bạc
giao cho Đạo Tế.
Bằng những phương thức kỳ lạ,
nửa đùa,
nửa thật,
và những số tiền khổng lồ
để tu bổ hàng loạt cầu đường,
trạm nghỉ,
phát cháo cứu đói
cho dân nghèo
khắp vùng Hàng Châu.
Chính vì những công đức
to lớn và thiết thực ấy,
người dân Lâm An
không còn gọi ông
bằng ánh mắt khinh miệt
là Tế Điên nữa.
Họ bắt đầu gọi ông
bằng một danh sưng
đầy tung kính,
Tế Công.
Có nghĩa là
vị ân công tên Tế,
vị Phật sống
của những người cùng khổ.
Thế nhưng,
danh tiếng ngoài xã hội
của Tế Công
càng ván dội bao nhiêu,
thì sự ghen ghét,
đố kỵ
bên trong nội bộ
Chùa Linh Ẩn
lại càng dâng cao với nhiều.
Những vị sư
mang tư tưởng bảo thủ
vẫn luôn coi ông
là cái gai trong mắt,
một kẻ dị giáo
làm hoen ố
cử thiện.
Suốt nhiều năm,
họ không thể
đụng đến Tế Công
bởi bức tường thành
vững chải
mang tên
Hạt Đường Thiền Sư.
Tuy nhiên,
quy luật vô thường
không chừa một ai.
Vào khoảng năm 1176,
Hạt Đường Thiền Sư,
vị ân sư
bao dung và vĩ đại
của Tế Công
đã tuổi cao
sức yếu
và thâu thần
viên tịch.
Sự ra đi
của Hạt Đường Thiền Sư
là một mất mát
vô cùng to lớn
đối với Tế Công.
Trong tăng lễ
của ân sư,
trong khi tất cả tăng chúng
đều mặc áo
cà sa chính tề,
quỳ lại
khóc lóc
thảm thiết,
thì Tế Công
lại xuất hiện
với bộ dạng quen thuộc,
áo rách,
quạt trách,
tay cầm hồ lô rượu,
lão đảo
bước vào linh đường.
Ông không khóc
cũng không tụng kinh siêu độ.
Tế Công
chỉ đứng lặng lẽ
trước linh cửu,
nhấp một ngụm rượu lớn,
phung lên không trung,
rồi cười lớn
một tràng dài,
ngầm nga
một bài kệ tiến biệt,
đại ý rằng
sinh tử
chỉ là chuyện
đến và đi
như mây
vờn đỉnh núi,
cớ sao
phải bi lụy
ồn ào.
Hành động này
của Tế Công
lập tức thổi bùng
lên ngọn lửa phấn nộ
đã âm ý
từ lâu
trong hàng ngũ
Tăng Chúng
linh ẩn tự.
Họ cho rằng
ông là kẻ vô ơn
bạc nghĩa,
đến sư phụ viên tịch
cũng không rơi
một giọt nước mắt,
lại còn mang rượu thịt
vào chúng linh thiên.
Ngay sau khi
Tăng lễ kết thúc,
vị Tân Trụ Trì
mới được bầu lên,
vốn là người
căm ghét
những hành vi phá giới
của Tế Công,
đã lập tức
trự tập toàn bộ Tăng Chúng
để phán xét ông.
Giữa đại hùng bão điện,
vị Tân Trụ Trì
Đạo Tế
Hàng trăm cặp mắt
đổ dồn về phía Tế Công,
chờ đợi sự sợ hãi
hoặc những lời vang sinh tha thứ.
Nhưng không,
Tế Công không hề biện minh
lấy một nửa lời.
Ông đứng thẳng người,
vương vai ngáp dài một cái,
rồi cười ha hả
vang vọng cả chánh điện.
Ông quay lưng bước đi,
chỉ bỏ lại
một câu nói giỏng giạc.
Nơi nào có Phật,
nơi đó là Đạo Trang.
Linh ẩn chùa to,
Phật lớn,
nhưng tâm người lại hẹp,
giữ nổi thân ta
mà chẳng giữ nổi Đạo ta.
Cáo Tư
Bước ra khỏi cổng lớn
của chùa Linh ẩn,
Tế Công không hề tỏ ra bi lụy
hay oán hận.
Đối với một bậc chân tu
đã đạt đến cảnh giới vô ngã,
bị đuổi khởi một môi chùa uy nghi,
chẳng khác nào
cởi bỏ được một lớp áo chật trội.
Trong suốt một thời gian dài sau đó,
người dân làm an
quen thuộc với hình ảnh
vị hòa thượng gầy gò,
khoát trên mình
bộ tăng phục rách tơi tả,
tay cầm chiếc quạt nàn gậy tất,
ngày ngày lang thang
khắp các hang
cùng ngõ hẻm của Kinh Thành.
Đình miễu hoang vu,
hiên nhà của thường dân,
hay thậm chí là những sạp hàng trống
ngoài chợ rách nát
đều trở thành nơi
ngã lưng qua đêm của ông.
Tế Công thực sự hòa mình
vào cuộc sống
của những người
ở tầng đáy xã hội Nam Tống.
Ông dùng cỏ cây
chữa bệnh cho dân nghèo,
dùng lời ca tiếng hát trào phúng
để đả kích
bọn quan lại tham nhũng,
dùng chính tấm thân lem lút của mình
để xóa nhòa ranh giới
giữa cõi tục và chốn thiền.
Tuy nhiên,
một viên ngọc quý
dù có lặng ngợp trong bùng lầy
thì ánh sáng của nó
cũng không thể bị chè giấu mãi.
Cách chùa Linh Ẩn không xa
nằm ở phía nam
của Tây Hồ tỉnh Lặng,
tựa lưng vào núi Nam Bình Hùng Vĩ
là chùa Tịnh Từ,
một trong những đại danh lam
cổ tự có lịch sử lâu đời
và uy tín không kém cạnh gì
Linh Ẩn Từ.
Vị chủ trì của chùa Tịnh Từ
lúc bấy giờ
là Đức Huy Thiền Sư,
một bậc cao tăng
vô cùng uyên bác và đức độ.
Khác với vị tân chủ trì
bảo thủ của Linh Ẩn,
Đức Huy Thiền Sư
là người có tư tưởng cởi mở,
thấu tình đạt lý
và đặc biệt trân trọng
những bậc kỳ tài.
Ngài giành tiếng
về vị tăng điên đạo tế đã lâu
và cũng thấu hiểu
nguồn cân sự việc
tại Linh Ẩn Từ,
Đức Huy Thiền Sư
không nhìn tế công
bằng con mắt
của kẻ phạm phu tục tử.
Ngài nhận ra
là một ngộ tính
thiền học siêu phạm
và một tấm lòng
từ bi rộng lớn.
Một ngày nọ,
Đức Huy Thiền Sư
đức thân hạ sơn
đi tìm tế công.
Ngài bắt gặp tế công
đang nằm vác vẻo
ngủ say sưa
trên một phiến đá
bên bờ Tây Hồ,
bên cạnh là hồ lô rượu
đã cạn đáy.
Đức Huy Thiền Sư
chậm rãi bước tới,
không hề lay gọi
mà chỉ chắp tay
đứng lặng lẽ chờ đợi.
Một lúc sau,
tế công vương vai tỉnh giấc,
nhìn thấy vị cao tăng đứng tuổi,
ông chỉ nheo mắt cười hì hì
định quay lưng bỏ đi.
Lúc này,
Đức Huy Thiền Sư mới cất lời.
Đạo Tế Sư Đệ,
linh đẫn cửa hẹp
không chứa nổi rộng,
nhưng tỉnh Từ núi rộng,
nam bình chung sớm tối
vẫn luôn chờ người hữu duyên.
Nếu Sư Đệ không chê
chốn thiện môn của lão tăng tỉnh mịch,
xin hãy về tỉnh Từ
cùng ta đàm đảo.
Tế công dừng bước,
quay lại nhìn thẳng vào mắt Đức Huy Thiền Sư.
Không còn vẻ điên dại thường ngày,
ánh mắt tế công bỗng trở nên
vô cùng sáng suốt và tỉnh lặng.
Ông đáp lời
bằng một giọng điệu điềm nhiên.
Lão Thiền Sư không sợ
cái điên này mang rượu thịt vào
làm ế tạp thanh quy,
khiến chúng tăng tỉnh Từ
oán tháng sau.
Đức Huy Thiền Sư mỉm cười hiền từ,
đáp lại bằng một câu nói
đầy khí chất của Bật Đại Sư.
Phật tại tâm trung,
không tại giới tướng.
Kẻ tỉnh mà tâm mê,
thì áo ca sa
cũng chỉ là mặn dẻ rách.
Người điên mà tâm sáng,
thì chén rượu nhạc
cũng là nước cam lồ.
Tỉnh Từ ta chỉ trọng chân tâm,
không xét hình thức.
Nghe câu nói ấy,
tế công ngửa cổ lên trời,
cười lớn ba tiếng,
rồi chắp tay cuối đầu thi lễ.
Đã vậy,
đạo tế xin nghe
theo sự an bài của Lão Thiền Sư.
Từ đó,
tế công chính thức bước chân
vào Chùa Tỉnh Từ.
Thấu hiểu tài năng văn chương,
thư pháp
và sự uyên bác của tế công,
Đức Huy Thiền Sư
không bắt ông phải làm
những công việc tạp dịch
hay tuân thủ
các thời khóa tụng kinh
cứng nhất
như các tăng nhân khác.
Thay vào đó,
Ngài giao cho tế công
giữ chức vụ thư ký
của nhà chùa.
Trong các đại tự
thời bấy giờ,
thư ký không chỉ đơn thuận
là người chép kinh
hay viết thư,
mà là người đại diện
cho bộ mặt văn hóa
của cả ngôi chùa,
phụ trách việc soạn thảo
các văn bản quan trọng,
viết hoành phi,
câu đối
và giao thiệp
bằng bút tích
với tận lớp quý tộc,
quan lại
và hoàng thất Nam Tống.
Sự bổ nhiệm này
chứng tỏ tầm nhìn
vượt thời đại
của Đức Huy Thiền Sư
và thực tế lịch sử
đã chứng minh
quyết định đó
là hoàn toàn chính xác.
Dưới danh nghĩa
thư ký Chùa Tỉnh Từ,
tế công đã phát huy
Những bài thơ,
bài kể
và đặc biệt là
những bức thư pháp
do chính tay ông viết
trở thành báu vật
được giới văn nhân
mặc khách ở Lâm An
săn lùng ráo riết.
Mặc dù vẫn giữ thói quen
la cà quán rượu,
ăn mặc lết thết,
nhưng mỗi khi
đặt bút xuống giấy,
nét chữ của tế công
lại ròng bay phượng múa,
nội dung sâu sắc,
uyên thâm,
khiến cả những vị học giả
uyên bác nhất
cũng phải cuối đầu
nể phục.
Tuy nhiên,
thử thách lớn nhất
trong cuộc đời tế công
tại Chùa Tỉnh Từ
không phải là việc đối phó
với những ánh mắt dị nghị,
mà là một thảm họa tàn khốc
đã dán xuống môi chùa này.
Chính xử ghi chép lại,
vào triều đại Nam Tống,
Chùa Tỉnh Từ
đã từng trải qua
một trận hỏa hoạn
vô cùng khủng khiếp.
Ngọn lửa bùng phát
vào lúc nửa đêm,
nhanh chóng lan rộng
thiêu rụi toàn bộ chánh điện,
lầu chuông
và hàng chục giang tăng xá.
Sáng hôm sau,
ngôi đại danh làm
cổ tự
từng nguy nga trắng lệ
chỉ còn là một đống
tro tàn hoang tàn,
bốc khói khét lẹt.
Hàng ngàn tăng chúng
rơi vào cảnh
không có nơi
chè mưa tránh nắng,
tượng Phật
bơ vơ giữa trời.
Đứng trước cảnh tượng
biêu tàng ấy,
Đức Huy Thiền Sư
vô cùng đau sóc,
sức khỏe suy sựp.
Việc xây dựng lại
một môi chùa khổng lồ
như Tỉnh Từ
đòi hỏi một lượng
kinh phí khổng lồ
và một khối lượng
gỗ lạc khổng lồ
mà bản thân nhà chùa
không thể nào
tự lo liệu được.
Trong lúc hàng ngũ lãnh đạo
nhà chùa đang bế tắc,
Tế Công đã chủ động
đứng ra gánh vác
trọng trách nặng nề nhất,
hóa duyên,
tức là đi quyên
góp tiền bạc
và vật tư
để trùng tu
Tỉnh Từ Tử.
Đức Huy Thiền Sư
nắm chặt tay Tế Công,
giọng nói rung rung.
Đạo Tế,
ngôi chùa này
là cơ nghiệp trăm năm,
này hóa thành cho bụi.
Duyện trùng tu
trông cậy
cả vào tài năng của con.
Tế Công
không mỉm cười
cợt nhã như mọi khi,
ông dập đầu nhận lệnh,
lập tức lấy giấy bút,
thức trắng đêm
để soạn thả một bài
Hóa Duyên Sớ,
bài hịch kêu gọi quyên góp
gửi đến triều đình
và dân chúng lâm an.
Bài sớ này
không dùng những lời cầu sinh bi lụy,
cũng không mang giọng điệu
đe dọa về luật nhân quả,
mà được viết bằng một án văn
vừa miêu tả cảnh mộ bi thương
của ngôi chùa,
vừa khơi dậy lòng tự hào
và trách nhiệm
của những người con Phật.
Lịch sử văn học Phật giáo Trung Hoa
đánh giá bài
Hóa Duyên Sớ
của Tế Công
là một kiệt tác hiếm có.
Ngay khi bài sớ được truyền đi,
cả kinh thành lâm an chấn động.
Từ Hoàng đế Tống Ninh Tông
trọng tự cấm thành,
đến các vị vương tôn công tử
và cả những thương gia giàu có.
Ai đọc được bài sớ
cũng rừng rừng xúc động.
Tiền bạc,
chầu báu,
từ các phủ đệ
liên tục được chở đến
tấp nập trước cổng chùa tịnh tử.
Thế nhưng,
tiền bạc không phải là tất cả.
Vấn đề nang giải nhất lúc bấy giờ
là gỗ xây dựng.
Để dựng lại những cột trụ khổng lồ
của Đại Hùng Bảo Điện,
cần có những cây gỗ liêm,
gỗ nghiến cổ thụ.
Thứ mở vùng đồi núi
quanh Hàng Châu
đã bị khai thác cạn kiệt.
Và đây chính là lúc lịch sử giải mã
một trong những huyền thoại
nổi tiếng nhất về Tế Công.
Giai thoại
Tế Công thi triển phép thuật
kéo hàng ngàn khúc gỗ từ dưới giếng lên
để xây chùa.
Trong các bộ phim trường hình,
Tế Công chỉ cần chỉ tay vào giếng nước,
gỗ lớn sẽ tự động trồi lên.
Nhưng sự thật lịch sử thì gian nan
và vĩ đại hơn thế rất nhiều.
Không có phép thuật nào cả.
Tế Công với tư cách là người
chịu trách nhiệm chính
đã đức thân đi đến các tỉnh lân cận
dọc theo lưu vực sông tiền đường
tiếp cận các trầm lái buồn gỗ
lớn nhất thời bấy giờ.
Bằng tài ngoại giao khéo léo,
sự hiểu biết về thương mại
và uy tín từ những bài thơ thư pháp của mình,
Tế Công đã thuyết phục được
vô số thương gia giàu có quyền góp gỗ.
Nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển
và giải quyết bài toán nhân lực,
Tế Công đã cho người buộc
các khúc gỗ khổng lồ thành bè,
lợi dụng mạng lưới sông ngòi
và kênh rạch chằn chịch của vùng Giang Nam
thả trôi dòng gỗ theo dòng nước
dẫn thẳng vào hệ thống kênh đào
gần Tây Hồ.
Vào thời điểm nhận gỗ,
để đưa những khúc gỗ nặng hàng tấn
từ kênh rạch lên vị trí xây dựng của chùa tỉnh Từ,
Tế Công đã hướng dẫn thợ quyền
sử dụng hệ thống ròng rọc
và sức nước từ các con suối
diến ngầm quanh chùa để hỗ trợ
việc kéo gỗ.
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa trí tuệ kỹ thuật,
tài tổ chức hậu cần
đã khiến người dân kinh thành chứng kiến
một cảnh tượng ngoạn mục.
Hàng ngàn khúc gỗ cứ như tự động nối đuôi nhau
trôi lên từ các miệng rạch,
miệng diến quanh chùa.
Qua lăng kính của trí tưởng tượng dân giang,
sự kiện vận chuyển vật liệu
đầy khoa học và trí tuệ ấy
đã được thần thảnh hóa thành phép thuật,
kéo gỗ từ dưới diến,
lưu truyền cho đến tận ngày nay.
Nhờ sự nỗ lực phi thường
và tài năng kiệt xuất của Tế Công,
chỉ trong vòng vài năm ngắn ngũi,
Đại Hùng Bảo Điện Chùa Tịnh Từ
đã sừng sứng mọc lên
từ đóng trò tàn, uy nghi và tráng lệ,
thậm chí còn hơn cả thời kỳ
trước hỏa hoạn.
Đóng góp của ông đối với Phật giáo Hàng Châu
được ghi tạc và bi đá.
Giờ đây không còn ai dám gọi ông là
kẻ điên nữa.
Cả triều đình Nam Tống lẫn bách tính môn dân
đều tôn kính ông,
coi ông là một vị Bồ Tát sống,
một trụ cột tinh thần vững chắc của thiền môn.
Sau khi hoàn thành công cuộc
đại trùng tu Chùa Tịnh Từ,
uy vọng của Tế Công tại Kinh Thành Lâm An
đã đạt đến đỉnh cao.
Từ hoàng thân quốc thức,
quang lại triều đình cho đến những bậc thức giả
uyên bác nhất Nam Tống
đều dành cho ông một sự kính trọng tuyệt đối.
Nếu là một người mưu cầu danh lợi,
đây sẽ là thời điểm lý tượng
để Tế Công khoát lên mình chiếc áo
cà xa gấm vóc, ngồi lên tòa
sen thiết pháp và hưởng thụ
sự cúng giường của vạn người.
Thế nhưng lịch sử đã chứng minh
sự cuồn điên của Tế Công
không phải là một công cụ để thu hút
sự chú ý, mà đó chính là bảng ngã,
là phương pháp tu hành
thực sự của ông.
Bất chấp địa vị đã thay đổi,
Tế Công vẫn từ chối mọi đặc quyền
tại Chùa Tịnh Từ.
Ông tiếp tục giữ bộ dạng lôi thôi lết thích,
mặc chiếc áo vá chằn vá đập,
tay cầm chiếc quạt nang rách nát,
chân sỏ đôi giày cỏ mòn vẹt,
ngày ngày lê bước
trên những con phố nhộn nhịp của Lâm An.
Ông vẫn uống rượu,
vẫn ăn thịt, và vẫn dành phần lớn
thời gian của mình ở những khu ổ chùa,
những bệnh xá tồi tàn
để bốc thuốc chữa bệnh cho dân nghèo.
Đối với Tế Công,
việc xây xong một môi chùa to lớn
bằng gỗ đá không quan trọng
bằng việc xây dựng môi chùa từ bi
trong tâm khảm mỗi con người.
Ông dùng cả phần đời còn lại
của mình để thực hành triết lý
nhập thế độ sinh,
đi vào giữa dòng đời đầy bụi bạm
trắc trở để cứu giúp chúng sinh
thay vì trốn tránh
trên những ngọn núi cao thanh tịnh.
Thời gian thấm thoát thoi đưa,
chấp mắt Tế Công đã bước
vào tuổi xế chiều.
60 năm sống cuộc đời trần thế,
trong đó có hơn 40 năm
dải nắng dầm xương,
nay đây mai đó giữa chốn kinh kỳ
đã bào mòn thế lực của vị cao tăng.
Vào những năm cuối đời,
sức khỏe của Tế Công suy giảm
rõ rệt. Ông không còn đủ sức
để đi những chặng đường dài
hay can thiệp vào những chuyện bất bình
trên phố thị như thuở tráng niên.
Thay vào đó,
ông thường lui tới khu vực suối Hổ Pháo,
một địa danh tỉnh lặng,
sơn thủy hữu tình,
nằm ở phía nam Hồ Tây,
cách Chùa Tịnh Từ không xa.
Người đầy có một ngôi chùa nhỏ,
rợp bóng cây cổ thụ,
là nơi Tế Công tìm thấy sự bình yên
để chinh nghiệm lại toàn bộ kiếp
nhân sinh của mình.
Vào mùa xuân năm gia đình thứ hai
đời Tống Ninh Tông,
tức năm 1209,
không khí tại Lâm An
vẫn vô cùng nhộn nhịp,
hoa đạo nở rộ khắp đôi bờ Tây Hồ.
Nhưng tại suối Hổ Pháo,
không gian lại tỉnh lặng đến lạ thường.
Tế Công,
lúc bây giờ đã 79 tuổi,
cảm nhận được sinh mệnh của mình
sắp đi đến hồi kết.
Không có sự hoảng loạn,
không có sự níu kéo,
vì hoa thượng già thẳng nhiên
đón nhận cái chết như một người lửa khách
chuẩn bị bước lên chuyến đò cuối cùng
để về quê.
Theo các ghi chép của Phật giáo sử,
vào ngày 14 tháng 5 âm lịch
năm đó, Tế Công yêu cầu
các sư đệ đùng nước nóng
để ông Tấm ngồi sạch sẽ.
Lần đầu tiên sau hàng chục năm,
người ta thấy Tế Công thay một bộ tăng phục mới,
tươm tất
và không có lấy một mảnh vá.
Ông chải lại mái tóc điểm bạc,
ngồi xếp bằng ngay ngắn trên bộ đoàn
trong tư thế kiết giả.
Khuôn mặt ông không còn
ngét điên dại, nửa đùa, nửa thật,
mà toát lên một vẻ thanh tịnh,
trang nghiêm, phản phất
khí chất của một bậc thánh nhân
đã thấu triệt lẻ đất trời.
Trước sự chứng kiến của
Đức Huy Thiện Sư và các tăng chúng
Chùa Tỉnh Tự đang quỳ xung quanh,
Tế Công yêu cầu mang bút mực đến.
Ông cầm bút,
không cần đáng đo suy nghĩ,
phóng tay viết một mạch bài kể
từ Trần,
một bài thơ cuối cùng để lại cho Hậu Thế
đúc kết lại toàn bộ cuộc đời
tu hành đầy sóng gió
và khác biệt của mình.
Bài kể có nội dung như sau
Lục thập niên lai lang tịch
Đồng bích đã đảo
Tây Bích.
Ư kim thu thập tương quy
Y cựu thiên liêng Thủy Bích.
Tạm dịch là
Sáu mươi năm mãi miết điên cuồn
Vách đồng đập phá
Nhã sang tường Tây
Đến nay thu dọn về ngay
Nước xanh vẫn cứ liền mây
Gia trời
Viết xong nét chữ cuối cùng
Tế Công thả bút xuống đất
Khẽ mỉm cười, nhắm mắt lại
Và thâu thần viên tịch
Ông ra đi một cách nhẹ nhàng
Thanh thản
Vĩnh viễn bỏ lại phía sau
Một kiếp sống mang tên Đạo Tế
Bài kể cuối cùng
Sáu mươi năm mãi miết điên cuồn
Ông tự nhận cuộc đời mình là
Sự phá vỡ những quy chuẩn
Đập phá bức tường đình kiến phía Đông
Xô ngã những giáo điều
Cứng nhắc phía Tây
Để giải phóng Phật Pháp
Khỏi sự trói buộc của hình thức
Và ở hai câu cuối
Đến nay thu dọn về ngay
Nước xanh vẫn cứ liền mây
Gia trời
Ông khẳng định rằng
Sau mọi sự điên cuồn phá phách ấy
Chân lý cuối cùng vẫn là sự tỉnh tại
Thuần khiết
Tự nhiên như nước biển liền với trời xanh
Không sinh không diệt
Vạn Pháp quy tông
Tình thức tế công viên tịch
Nhanh chóng lan truyền
Làm chấn động cả kinh đô lâm an
Cảnh tượng trong ngày tang lễ của ông là một điều
Chưa từng có trong lịch sử Phật giáo Nam Tống
Không chỉ có hàng ngàn chư tăng
Từ khắp các tự viện đến tụng kinh siêu độ
Mà còn có sự xuất hiện
Của hàng vạn bá tắn nghèo khổ
Những người ăn mày
Những bệnh nhân từng được ông chữa trị
Những người lao động từng được ông chia sẻ miếng cơm manh áo
Tất cả đều đổ về suối hộ pháo
Quỳ rạp dọc hai bên đường
Khóc thàn thảm thiết
Chiều đình cũng cử các quan đại thần
Đến viến xưng tụng công đức của ông
Sự ra đi của tế công
Để lại một khoảng trống tinh thần khổng lồ
Trong lòng người dân Hàn Châu
Nhục thân của ông
Và xá lợi được lưu giữ
Xây tháp thờ phụng
Ngay tại khu vực hộ pháo tuyền
Ngôi tháp ấy hiện nay vẫn còn tồn tại
Trở thành một di tích lịch sử văn hóa
Cấp quốc gia của Trung Quốc
Từ một công tử dòng giỏi
Trầm Anh Thế Phiệt Họ Lý
Ở thiên thai
Bước qua cánh cửa chùa linh ẩn
Để trở thành một tế điên
Bị người đời chế diễu
Rồi dùng tấm lòng từ bi
Và hành động thực tiễn
Để vương lên thành tế công
Được vàng người ngưỡng vọng
Cuộc đời lịch sử của đảo tế thiền sư
Là một minh chứng hùng hồn cho sức sống
Mãnh liệt của triết lý Phật giáo nhập thế
Ông dạy cho chúng ta rằng
Chiếc áo không làm nên thầy tu
Và một trái tim trong sáng
Hướng thiện
Có thể tồn tại ở bất cứ đâu
Ngay cả trong quán rượu ồn ào
Hay những con hẻm lầy lội nhất
Sau khi tế công qua đời
Để khỏa lấp nỗi nhớ thương
Và lòng tôn kính
Người dân bắt đầu truyền tay nhau những câu chuyện về ông
Qua hàng trăm năm
Những phương thuốc thảo dược chữa khỏi bệnh năng y
Được theo dệt thành tiên đăng
Tài năng huy động gỗ xây chùa
Được biến thành phép thuật
Kéo gỗ từ diến
Và hình tượng một vị hòa thượng thông tuệ
Giỏi y lý
Thư pháp dần được nâng lên thành
Hàng lòng la háng chuyển thế
Với vô biên pháp lực
Những cuốn tiểu thuyết như
Tế công toàn truyện ra đời vào thời thanh
Đã hoàn thiện bức chân dùng
Mang màu sắc thần thoại
Mà chúng ta quen thuộc ngày nay
Thế nhưng khi gạt bỏ lớp xương mù của thần thoại
Chúng ta nhận ra rằng
Tế công trong chính xử
Không hề biết bay lượng
Không có phép thuật
Nhưng ông vẫn là một bậc thánh nhân
Phép thuật lớn nhất của ông
Chính là sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau của con người
Là sự dũng cảm đối mặt với định kiến xã hội
Và là trí tuệ phi thường
Dám sống thật với bảng ngã của mình
Giữa một thời đại đầy rảy sự giá tạo
Một tế công lịch sử
Bằng xương bằng thịt
Biết đào sót
Biết nổi loạn và biết hy sinh
Có lẽ còn vĩ đại và đáng trân trọng hơn
Bất cứ một vị thần tiên nào
Xây xử hy vọng rằng
Qua video này
Bạn đã có một cái nhìn chân thực, khách quan
Và sâu sắc hơn
Về một trong những nhân vật độc đáo nhất
Của lịch sử Phật Giáo
Và văn hóa Trung Hoa
Một lần nữa, Trần Lý
Phật tại Tâm Trung
Chưa bao giờ mất đi giá trị cốt lõi của nó
Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng xây xử
Trong suốt video vừa qua
Chúc bạn thật nhiều sức khỏe, bình an
Và hẹn gặp lại trong những video tiếp theo