TÓM TẮT CUỘC ĐỜI BỒ ĐỀ ĐẠT MA AI

Đình Sự
535 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Sử thi quán xin chào quý vị khán giả.
Trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa,
có một con người mà chỉ cần nhắc đến tên,
người ta lập tức nhớ đến một khuôn mặt dữ dằn,
đôi mắt sâu, bộ râu rậm
và bóng dáng một nhà sư ngồi bất động
trước vách đá suốt 9 năm.
Người ấy chính là bồ đề Đạt Ma
hay còn gọi Đạt Ma Sư Tổ.
Nhưng phía sau hình tượng huyền thoại ấy
lại là một cuộc đời đầy những khoảng trống bí ẩn.
Ông thực sự là ai?
Ông đến từ đâu?
Vì sao một vị tăng từ Ấn Độ
lại vượt muôn dặm đến Trung Hoa?
Và điều gì đã khiến tên tuổi của ông
tồn tại hơn 1.000 năm sau khi ông qua đời?
Hôm nay, Sử thi quán
sẽ cùng quý vị lần theo dấu vết
của Đạt Ma Sư Tổ.
Từ những 5 tháng đầu đời được bao phủ bởi màn sương lịch sử
cho đến hành trình truyền pháp
và những huyền thoại đã biến ông
thành một trong những nhân vật đặc biệt nhất của phương Đông.
Vào khoảng cuối thế kỷ thứ 5,
đầu thế kỷ thứ 6,
trên giải đất Ấn Độ cổ đại,
vùng đất của những dòng sông linh thiêng
và những tư tưởng triết học mênh mông.
Màn sương thời gian bắt đầu bao phủ
lấy sự khởi đầu của một cuộc đời kỳ vĩ.
Cuộc đời ấy gắn liền
với cái tên Bodhidharma,
mà sau này lịch sử phương Đông nìn năm
vẫn tôn kính gọi bằng danh sưng Bồ Đề Đạt Ma,
nhìn lại quá khứ qua lăng kính
của những trang sử liệu cổ.
Thật khó để khẳng định chính xác năm sinh,
tên tuổi của Đấng sinh thành
hay những chi tiết tỉ mỉ về thổ thiếu thời của ông.
Lịch sử chính thống không để lại
những dòng chứng cứ trọn vẹn,
nhưng truyền thống Phật giáo phương
đông qua bao thế hệ vẫn nâng niu lưu
giữ những câu chuyện về nguồn gốc của vị đại sư.
Theo các ghi chép cổ và truyền thuyết thiền tông,
Đạt Ma vốn không phải xuất thân
từ trốn Bần Hàn.
Ông được mô tả là một vị hoàng tử,
sinh ra trong một gia tộc dòng dõi quý tộc cao quý
thuộc vương quốc Kanchipuram
ở vùng nam Ấn Độ.
Giữa những cung điện nguy Nga,
những gấm vóc lụa là và quyền lực thế tục bao quanh,
đứa trẻ ấy đã sớm được tắm mình
trong một môi trường giáo dục hoàn hảo nhất thời bấy giờ,
nơi tri thức về chiết học,
nghệ thuật và những tư tưởng tôn giáo cổ xưa
được truyền dạy kỹ lưỡng.
Thế nhưng, nhung lụa và ngai vàng
đã không thể níu giữ được
một tâm hồn sớm thao thức
trước những nỗi đau khổ của kiếp nhân sinh.
Truyền thuyết kể rằng,
ngay từ khi còn là một cậu bé,
Đạt Ma đã lộ rõ một trí tuệ vượt trội
cùng một tấm lòng hứng thiện khác thường,
trong khi những đứa trẻ hoàng tộc khác
chìm đắm trong các trò chơi quyền lực
hay thụ hưởng vinh hoa,
tâm trí của hoàng tử trẻ
lại hay hướng về những giáo lý chầm mặt của Đức Phật.
Ông thường chầm tư ngắm nhìn thế sự,
sớm nhận ra rằng mọi vinh hoa trên đời
rồi cũng như mây khói thoảng qua,
chỉ có sự giác ngộ tâm linh
mới có thể đưa con người vượt qua
cõi khổ sinh tử.
Chính những hạt mầm tĩnh lặng ấy
đã nảy mầm trong lòng đứa trẻ bước ra từ Nam Ấn.
Cuộc đời ông, vốn dĩ được vạch sẵn
để trở thành một vị vua cai trị một xứ sở
lại bắt đầu rẽ sang một con đường
hoàn toàn khác.
Con đường của một người đi tìm ánh sáng chân lý cho nhân loại.
Theo dòng thời gian,
vị hoàng tử Nam Ấn ngày nào khôn lớn
bước vào độ tuổi trưởng thành.
Trước mắt ông lúc bấy giờ là
hai con đường hoàn toàn trái ngược.
Một bên là chiếc ngai vàng phụ đầy vinh hoa
cùng quyền lực nghiêng thiên hạ.
Một bên là chiếc y phấn tảo đơn sơ
và hành trình gian khổ của một kẻ khất sĩ đi tìm đại đạo.
Thế nhưng, những gấm vóc lụa
là chưa từng làm sao động một tâm hồn
đã sớm nhận ra bản chất hư ảo của thế gian.
Càng lớn lên,
khi tiếp xúc sâu hơn với giáo lý Phật giáo Đại Thừa,
ông càng thấu hiểu rằng
mọi quyền uy hay tài bảo
rồi cũng bị thời gian cuốn trôi.
Chỉ có sự thức tỉnh tận sâu bên trong tâm tính
mới giải thoát con người khỏi vòng luân hồi sinh tử.
Quyết định buông bỏ tất cả
để rời xa đời sống thế tục
không phải là một phút bồng bột
mà là kết tinh của một ý chí kiên định
và một tâm nguyện bao la.
Đạt Ma từ giã Hoàng Cung
cởi bỏ áo mão hoàng tộc
để chính thức bước vào con đường xuất ra.
Truyền thống Thiền Tông ghi nhận một bước ngoạt định mệnh
trong đời ông.
Cuộc gặp gỡ với vị Bát Nhã Đa La Prach Natara
vị tổ thứ 27 của Phật giáo Ấn Độ
nhận thấy ở vị tăng trẻ tuổi này
một căn cơ phi thường
và một đạo tâm kiên cố như Kim Cương
Bát Nhã Đa La
đã thu nhận ông làm đệ tử.
Dưới sự chỉ dạy của Bậc Minh Sư
Đạt Ma không chỉ miệt mài học hỏi giáo Pháp qua kinh điển
mà quan trọng hơn
ông đi sâu vào thực hành thiền định.
Nơi mọi văn tự
ngôn từ đều phải nhường chỗ cho sự trải nghiệm trực tiếp
và thấu suốt bản thể.
Những năm tháng rèn luyện âm thầm
trong trốn lâm tuyền
là thời gian để tâm trí ông được mài rũa
vượt qua mọi chướng ngại của bản ngã
để chạm đến đỉnh cao của sự giác ngộ.
Trải qua bao mùa mưa nắng khổ luyện
bồ đề Đạt Ma được chính thầy mình ấn chứng.
Ông tiếp nhận y Bát
trở thành vị tổ thứ 28
của dòng truyền thừa Phật giáo Ấn Độ.
Người nắm giữ, tránh Pháp nhãn tạng
được truyền nối liên tục
từ thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Đứng trên đỉnh cao của sự kế thừa tâm linh
tại quê nhà, vị đại sư không dừng lại
để thụ hưởng sự tôn kính.
Trong tâm ông, một ngọn lửa mới bắt đầu bùng cháy.
Ngọn lửa mang ánh sáng giác ngộ
đi xa hơn nữa, vượt qua những dãy núi cao
và biển rộng để đến với
những vùng đất xa xôi ở phương Đông.
Vào khoảng thế kỷ VI
Phật giáo tại quê hương Ấn Độ
sau nhiều thế kỷ phát triển rực rỡ
bắt đầu bước vào giai đoạn trầm lắng
và dần phân hóa thành nhiều bộ phái.
Trong khi đó, ở phương Đông
sứ sở Trung Hoa rộng lớn
lại đang trải qua một thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ.
Ánh sáng Phật Pháp đã lan tới vùng đất này
trước đó vài thế kỷ.
Nhưng người dân và các giới trí thức Trung Hoa
thời bấy giờ, chủ yếu tiếp cận Đạo Phật
qua việc dịch thuật, phân tích kinh điển
hoặc trú trọng vào nghi lễ.
Việc cúng giường mà chưa thực sự đi sâu
vào cốt lõi của sự giải thoát
sự trực nghiệm thiền định.
Nhận thấy nhân duyên đã chín mùi ở vùng đất phương Đông
truyền thống kể rằng
Trước khi tịch diệt, vị tổ bát nhã Đa La
đã dặn dò Bồ Đề Đạt Ma
Sau khi ta qua đời
Ngài hãy đợi vài mươi năm rồi sang Trung Hoa
Nơi đó có nhân duyên lớn
với thiền giáo, giáo Pháp sẽ phát triển rực rỡ
và đem lại lợi lạc cho muôn đời.
Vâng lời Thầy
và mang trong mình một đại nguyện bao là
Bồ Đề Đạt Ma đưa ra một quyết định lịch sử
rời bỏ quê hương Ấn Độ
để dẫn thân vào một hành trình
không có đường quay về.
Đó là một hành trình gian khổ đến mức vượt ngoài
tầm tưởng tượng của con người thời bấy giờ.
Không chọn con đường tơ lụa trên đất
điền đầy cát bụi và chiến tranh
Đạt Ma đã lênh đênh trên con đường biển đầy sóng gió.
Truyền thuyết ghi lại rằng
ông đã trải qua hàng mấy năm trời sống
trên những con thuyền gỗ thô sơ
vượt qua vô số dông bão
của Ấn Độ Dương và Biển Đông.
Những cơn sóng giữ có thể nhấn chìm bất kỳ sinh mạng nào
nhưng không thể làm lay chuyển ý chí sắt đá
của vị tăng sĩ
mang trong mình sứ mệnh truyền đăng.
Sau những tháng ngày dài đẳng đẳng đối mặt
với cái chết, sự cô độc
và sự khắc nghiệt của biển cả
Cuối cùng, chiếc thuyền chở vị đại sư
từ phương Tây xa xôi cũng cập bờ biển Quảng Châu
miền Nam Trung Hoa.
Đôi chân trần của Bồ Đề Đạt Ma chính thức
đặt lên mặt đất Trung Hoa.
Ông mang đến vùng đất này không phải là gấm vóc hay vàng bạc
mà là một hạt giống thiền lạng lẽ.
Hạt giống sắp sửa cắm dễ sâu
vào lòng văn hóa phương Đông
và làm thay đổi dòng chảy lịch sử Phật giáo mãi mãi
đặt chân lên mặt đất Trung Hoa
vào thời Nam Bắc Triều,
một thời kỳ xã hội biến động dữ dội và chia cắt.
Bồ Đề Đạt Ma bước vào một thế giới
Phật giáo đang phát triển rực rỡ
nhưng cũng đầy phức tạp.
Nơi đây, chùa triền mọc lên khắp nơi
kinh sách được dịch thuật
và giảng giải rầm rộ.
Chư Tăng và giới quý tộc say xưa tranh luận về giáo lý, công đức
thế nhưng
đằng sau sự hưng thịnh bề ngoài ấy
Đạt Ma nhận ra một thực tế.
Người ta đang quá trú trọng vào văn tự
hình thức và nghi lễ bên ngoài
mà quên mất sự thực chứng tâm linh bên trong.
Ông xuất hiện không phải với tư cách
một nhà sư đi giảng giải kinh sách
hay kêu gọi xây chùa
mà mang đến một con đường hoàn toàn khác biệt
nhấn mạnh vào thiền định
sự trải nghiệm trực tiếp và thấu suốt bản tâm.
Tiếng đồn về vị đại sư từ phương Tây xa xôi
nhanh chóng lan tới triều đình nhà lương
ở phương Nam, lương vũ đế tiêu diễn.
Vị vua vô cùng sùng bái Phật giáo
người đã bỏ ra vô số tiền tài
để xây hàng ngàn ngôi chùa
chép vô số kinh điển và cúng giường
đã vô cùng hân hoan thành Đạt Ma
về kinh đô Kiến Khang, nay là Nam Kinh
để diện kiến. Cuộc gặp gỡ lịch sử
giữa một vị đại quân vương nắm giữ
quyền lực tuyệt đối và một vị thiền sư
tay trắng mang tâm nguyện thoát tục
đã diễn ra trong bầu không khí đính đạc
nhưng đầy kịch tính. Lương vũ đế
với niềm tự hào về những việc thiện mình
đã làm cho Phật Pháp tự tin hỏi Đạt Ma
Chẫm từ khi lên ngôi đến nay
xây chùa, chép kinh
độ tăng không biết bao nhiêu mà kể
Vậy Chẫm có công đức gì không?
Bồ đề Đạt Ma nhìn vị vua sùng đạo
ánh mắt thản nhiên
và đáp bằng một câu ngắn gọi
lạnh như băng. Hoàn toàn không có công đức gì cả
Câu trả lời như một gáo nước lạnh
rội vào niềm tự hào của nhà vua
Lương vũ đế ngơ ngác
không hiểu nổi vì sao những việc làm tận tụy ấy
lại không được công nhận. Nhà vua nén
sự Phật ý, hỏi tiếp
Vì sao lại không có công đức?
Đạt Ma điểm tĩnh giải thích rằng
những việc xây chùa, cúng giường
chỉ đem lại nhân quả nhỏ nhoi trong
cõi người, cõi trời như bóng
đi theo hình, tuy có nhưng
không phải thật tướng. Công đức
chân thật phải là trí tuệ thanh tịnh
Tâm thể vắng lặng, không thể dùng lòng
tham cầu thế gian mà đạt được. Sự khác biệt
quá lớn về tầm nhìn và tâm thế
khiến Lương vũ đế không thể thấu hiểu được
tư tưởng vượt lên trên hình tướng của Đạt Ma
Vua tiếp tục hỏi một câu
cuối cùng. Vậy trước mặt
chấm đây là ai? Đạt Ma nhẹ nhàng
đáp. Không biết
Đó là câu trả lời thể hiện cái tâm
giải thoát, không vướng mắt
vào danh sưng hay ngã mạn
Nhận thấy nhân duyên giáo hóa tại triều đình
nhà Lương chưa chín mùi. Bồ đề
Đạt Ma lặng lẽ từ giã cung điện
giã biệt phương Nam. Nhà sư cô độc
tiếp tục cất bước đi về phương Bắc
vượt qua sông Trường Giang cuồn cuộn sóng trào
hướng về vùng núi rừng hẻo lánh
Nơi một trang sử mới
của Thiền Tông sắp sửa được viết nên
Rời bỏ bóng mát quyền lực của triều đình
phương Nam, bồ đề Đạt Ma
tiếp tục cuộc hành trình độc hành về phía Bắc
Đôi chân chân của vị thiền sư Băng
qua những giải đất cằn cỗi, bước qua
những xóm làng chìm trong biến động của
thời đại Nam Bắc Triều. Cuối cùng
ông dừng chân tại vùng núi Tung Sơn
Hùng Vĩ thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay
Nơi ngôi chùa Thiếu Lâm vừa được
xây dựng chưa lâu dưới Triều Bắc Nguy
Thế nhưng Đạt Ma không dừng lại
ở những gian điện thở nguy Nga hay
lưu trú trong trốn tăng xá ấm êm
Ông chọn đi xa hơn nữa, men theo
những vách đá gập gành lên đỉnh núi cao
tìm đến một hang động nhỏ tự nhiên
hẻo lánh và quanh năm lộng gió
Tại nơi hang đá u tịch ấy
một sự kiện lạng lẽ nhưng đi vào
bất tử của lịch sử Thiền Tông đã bắt đầu
9 năm diện bích. Hãy hình dung
bóng dáng một nhà sư phương Tây
với thân hình gầy guộc, đôi mắt sâu thẳm
và bộ áo ca xa sờn cũ
ngày lại ngày ngồi xếp bằng
quay mặt vào vách đá cầm nín
mặc cho bốn mùa luân chuyển
gió tuyết mùa đông gào thét qua khe núi
hay cái nóng oi ả của mùa hè thiêu đốt
bóng hình ấy vẫn như một
khối đá tĩnh lặng giữa vạn biến của đất trời
9 năm, hơn 3.000 ngày đêm
đối diện với bức tường đá vô ngôn
đó không phải là sự trốn chạy thế thái
nhân tình, cũng không phải là một hành vi
khổ hành cực đoan. Trong chiều sâu
của sự im lặng tuyệt đối ấy, Đạt Ma
đang thực hành một phương pháp tu tập rốt ráo nhất
buông bỏ mọi khái niệm, dập tắt
mọi suy tưởng hỗn loạn của chi thức
để tâm trí tự soi chiếu vào chính nó
chạm đến bản tính chân thật vốn có của môn loài
theo dòng thời gian, hình ảnh
9 năm diện bích đã vượt qua
ranh giới của một sự kiện thực tế
để trở thành biểu tượng thiêng liêng nhất của Thiền Tông Đông
Dù cho dưới góc độ sử liệu hiện đại
những chi tiết về 9 năm
ngồi thiền trong hang động có thể
mang nhiều sắc thái của huyền thoại và nghệ thuật
biểu tượng, nhưng giá trị
cốt lõi mà nó truyền tải thì hoàn toàn
chân thật. Đó là biểu tượng
cho trí nguyện kiên cường bất biến
sự nhẫn nại phi thường và
con đường quay vào bên trong để tìm kiếm
sự thức tỉnh. Bóng lưng chầm mặc
trước vách đá tung sơn năm ấy đã
tỏa ra một luồng năng lượng tĩnh lặng
nhưng mãnh liệt, âm thầm chuẩn bị cho
một cuộc gặp gỡ định mệnh. Cuộc gặp gỡ
sẽ châm ngọn đuốc thiền tông bùng sáng trên
đất Trung Hoa. Giữa núi rừng tung
sơn giá rét, bóng lưng bồ đề đạt ma
vẫn lặng lẽ in trên vách đá
qua bao mùa tuyết đổ. Sự tĩnh lặng
tưởng trường vĩnh kiểu ấy cuối cùng đã bị
phá tan bởi bước chân của một người tìm đạo
kiên trì. Thần Quang
vị tăng sĩ sau này được biết đến
với pháp danh Huệ Khả. Huệ Khả
vốn là một trí thức nguyên bác, đã thông
thuộc kinh sử và giáo lý Phật giáo
nhưng tâm vẫn chưa tìm thấy sự an bình tuyệt đối.
Nghe danh vị đại sư phương Tây
đang ngồi thiền trên đỉnh tung sơn, ông
đã lặn lội tìm đến với một khao khát cháy bỏng.
Xin được khai thị con đường
giải thoát chân thật. Thế nhưng
khi đến nơi, Huệ Khả chỉ nhận lại
sự im lặng. Đạt ma vẫn ngồi
quay mặt vào vách đá, không ngoảnh lại
không thốt ra một lời.
Sự thử thách ấy không làm Huệ Khả
nản lòng. Ngày qua ngày, ông đứng
bên ngoài hang động, chắp tay thành kính
giữa sương gió núi cao. Truyền
thuyết kể rằng, vào một đêm mùa đông
tuyết rơi dữ dội, tuyết phủ ngập
đến tận đầu gối, Huệ Khả vẫn đứng
bất động trước cửa hang. Nhận thấy
sự kiên trì phi thường ấy, đạt ma
mới quay lại hỏi. Người đứng
trong tuyết suốt đêm như vậy, rốt cuộc muốn cầu
điều gì? Huệ Khả rơi nước mắt,
chắp tay thưa. Cúi xin hòa thượng
mở lòng từ bi, ban truyền giáo pháp
giải thoát cho con, đạt ma
lạnh lùng đáp. Giáo pháp
vô thượng của chư Phật phải trải qua muôn ngàn
kiếp khổ luyện, chịu đựng những việc khó chịu,
nhẫn lại những việc khó nhẫn.
Người với đứt mỏng, tâm khinh xuất
làm sao có thể cầu nhận chân lý?
Để chứng minh tâm nguyện kiên cố như
kim cương và sự quyết tâm buông bỏ
mọi lũy trần vì đạo Pháp, Huệ Khả
đã rút ra một lưỡi dao sắc, tự
chặt đứt cánh tay trái của mình và
dâng lên trước mặt vị tổ sư.
Máu đỏ nhộm thắm tuyết trắng
làm rung động cả không gian tịch mịch của núi rừng.
Cảm động trước chí nguyện phi thường ấy,
bồ đề đạt ma biết rằng
nhân duyên truyền pháp đã đến.
Ông nhận Huệ Khả làm đệ tử.
Trong khoảnh khắc ấy, Huệ Khả nén đau đớn,
cất tiếng hỏi câu hỏi đau đớn
từ trong tâm khả.
Tâm con chưa an, xin thầy an tâm cho con.
Đạt ma nhìn thẳng vào mắt người đệ tử,
nhẹ nhàng đáp.
Người hãy đưa tâm ra đây,
ta sẽ an cho.
Huệ Khả ngẩn người, lặng im quay nhìn lại chính mình.
Sau một hồi quán chiếu
vào khoảng không mênh mộng bên trong,
ông bừng tỉnh và đáp.
Con tìm tâm khắp nơi nhưng hoàn toàn không thể thấy được.
Đạt ma mỉm cười nói.
Ta đã an tâm cho người xong rồi đó.
Chỉ qua một câu nói giản đơn
nhưng xoáy sâu vào bản thể, Huệ Khả lập tức đại ngộ.
Mọi nghi ngờ,
vướng mắt bấy lâu hoàn toàn sụp đổ,
nhường chỗ cho một sự thức tỉnh bao la.
Cuộc đối thoại kinh điển ấy
không chỉ giải thoát cho tâm hồn Huệ Khả
mà còn đánh dấu thời khác trao truyền y bát lịch sử.
Huệ Khả chính thức
trở thành vị nhị tổ của Thiền Tông Trung Hoa.
Bồ Đề Đạt Ma,
người mang ngọn đuốc từ Ấn Độ xa xôi
nay đã tìm được người tiếp nối ngọn lửa thiêng
trên đất Phương Đông,
chính thức mở ra dòng chảy Thiền Tông bất tận cho muôn đời sau.
Theo dòng thời gian,
hình tượng Bồ Đề Đạt Ma không chỉ dừng lại
trong phạm vi của những trang kinh hay trốn thiền định lặng lẽ.
Trong tâm thức dân gian Phương Đông
ông còn bước vào một thế giới hoàn toàn khác
thế giới của võ học
với tư cách là vị sơ tổ khai sáng võ thuật
Chùa Thiếu Lâm.
Những câu chuyện truyền miệng ly kỳ kể rằng
trong những năm tháng lưu trú tại núi Tung Sơn
Đạt Ma nhận thấy các nhà sư Thiếu Lâm
do chỉ tập trung ngồi thiền
tụng kinh trong thời gian dài
nên cơ thể trở nên yếu ớt, gầy guộc
và dễ sinh bệnh tật.
Lòng tư bi cùng trí tuệ nhìn xa trông rộng
đã thúc đẩy vị đại sư sáng tạo
ra những bài tập rèn luyện thân thể.
Ông đã đúc kết những động tác vươn người
mô phỏng các loài động vật
và sự vận hành của khí huyết
để tạo nên hai bộ bí kíp kinh điển
dịch cân kinh, giúp cải biến gân cốt
rèn luyện thể lực và tẩy tùy kinh
giúp thanh lọc tâm trí, khai thông kinh mạch
Từ những động tác dưỡng sinh ban đầu ấy
các thế hệ tăng sĩ Thiếu Lâm
được cho là đã phát triển thành những thế võ
chiến đấu biến hóa khôn lường
biến ngôi chùa trên núi Tung Sơn
thành cái nôi võ học lừng lẫy thiên hạ
Tuy nhiên, nếu bước qua tấm màn
của huyền thoại để nhìn dưới lăng kính
lịch sử và sử liệu khách quan
bức tranh lại mang một màu sắc hoàn toàn khác
Các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo
và võ học hiện đại đã chỉ ra rằng
không có bất kỳ chứng cứ văn bản nào
từ thời Nam Bắc Triều hay thời Đường
ghi nhận việc bồ đề Đạt Ma truyền dạy võ thuật
Hai bộ sách dịch cân kinh và tẩy tùy kinh
thực chất chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17
muộn hơn thời đại của Đạt Ma
tới hơn 1.000 năm và nhiều khả năng
do các đạo sĩ hoặc võ sư thời Đạo Quang
Nhà Thanh biên soạn
rồi gán tên ông để tăng thêm uy tín
Võ thuật thiếu lâm trên thực tế
là kết tinh của một quá trình rèn luyện
tích lũy lâu dài của nhiều thế hệ tăng binh
qua các thời kỳ lịch sử
đặc biệt là sự đóng góp của các tướng sĩ xuất ra
tìm về nương tựa cửa phận
Dẫu vậy, việc hình tượng Đạt Ma
gắn liền với võ thuật thiếu lâm
không phải là sự gượng ép vô nghĩa
sự kết hợp giữa thiền và võ
đã phản ánh một chiếc lý sâu sắc
của văn hóa phương Đông
thân và tâm không thể tách rời
một tinh thần minh mẫn
một tâm thiền định vững vàng
cần được nâng đỡ bởi một cơ thể khỏe mạnh
Bởi thế, dù là một nhà sư lịch sử
chầm mặc trước vách đá
hay một vị võ tổ huyền thoại trong trang sách kiếm hiệp
hình tượng bồ đề Đạt Ma
vẫn sống mãi như một biểu tượng trọn vẹn
Sau khi đã tìm được người truyền thừa y bát
và gieo xong hạt giống thiền tông trên đất Bắc
bồ đề Đạt Ma
bước vào những năm tháng cuối đời trong sự lạng lẽ
cũng như thỏa ông mới xuất hiện
những ghi chép lịch sử chính thống
về giai đoạn cuối cuộc đời
vị đại sư vô cùng ít ỏi và mờ ảo
Ông rời bỏ thế gian vào khoảng năm 535
hay 536
nhưng chính xác ông viên tịch ở đâu
và trong hoàn cảnh nào
vẫn là một dấu hỏi lớn bị vĩnh viễn vùi lấp
dưới lớp bụi thời gian
Xung quanh sự ra đi của ông
vô số truyền thuyết dân gian đã được theo dẹt nền
phản ánh cả những mặt tối của thời đại
lẫn niềm tin bất tử của hậu thế
dành cho một vị thánh tăng
Một trong những giai thoại phổ biến nhất kể rằng
sự xuất hiện và ảnh hưởng sâu rộng của Đạt Ma
đã khiến một số giáo đồ và pháp sư địa phương
sinh lòng đố kỵ
Họ đã nhiều lần bỏ độc vào thức ăn của ông
Năm lần đầu tiên
với thần thông và năng lực thiền định phi thường
Đạt Ma đều giải được độc
Nhưng đến lần thứ sáu
nhận thấy duyên hóa độ tại cõi thế gian đã mãn
công cuộc truyền pháp đã hoàn thành trọn vẹn
Ông thả nhiên thụ nhận chén độc dược
và mỉm cười xả bỏ báo thân tại vùng Lạc Dương
Tăng chúng và đệ tử đau đớn khóc thương
thu gom di thể ông
và an táng tại chùa Định Lâm trên núi Hùng Nhĩ
Thế nhưng
câu chuyện về cây chết của bồ đề Đạt Ma
không dừng lại ở ngôi mộ trên núi Hùng Nhĩ
Nó mở ra một trong những huyền thoại ly kỳ
và giàu tính biểu tượng nhất
trong lịch sử phương Đông
Giai thoại Tống Vân gặp Đạt Ma
Truyền thuyết kể rằng khoảng 3 năm
sau khi Đạt Ma viên tịch
một vị sứ thần nhà Bắc Nguỵ tên là Tống Vân
trên đường bi sứ từ Tây Vực trở về
Khi đi qua dãy núi thông lãnh hành tuyết
thì đột nhiên gặp bồ đề Đạt Ma
Vị đại sư vẫn khoác chiếc áo cà sa quen thuộc
tay cầm một chiếc gậy trúc
trên gậy treo đúng một chiếc dép bằng cỏ
đang bước đi thong rong về hướng Tây
Tống Vân ngạc nhiên cúi đầu trào và hỏi
Thầy này đi đâu đấy?
Đạt Ma mỉm cười trả lời
Ta đi về Tây Thiên Ấn Độ
Rồi ông dạng thêm
Quốc vương của ông hôm nay đã tịch rồi
Ông mau trở về đi
Khi Tống Vân về đến Kinh Thành
Quả nhiên vua Bắc Nguỵ đã qua đời
Nhớ lại cuộc gặp gỡ kỳ lạ trên núi cao
Tống Vân đem chuyện kể lại cho Triều Đình
Mọi người đều cho là chuyện hoang đường
vì Đạt Ma đã qua đời và được an táng từ 3 năm trước
Để kiểm chứng
Triều Đình cho cuột ngôi mộ trên núi Hùng nhĩ lên
Khi nắp quan tài bằng gỗ được mở ra
Tất cả những người chứng kiến đều bàng hoàng
Bên trong hoàn toàn trống rỗng
Không hề có hài cốt
Chỉ duy nhất còn lại một chiếc dép bằng cỏ
Nằm cô đơn ở đáy áo quan
Quẩy một chiếc dép về Tây Trúc
Từ đó trở thành một điển tích bất hủ
Dưới lăng kính của lịch sử và khoa học
Đây rõ ràng là một câu chuyện mang màu sắc thần thoại
Được sáng tạo để thần thánh hóa vị sơ tổ
Thế nhưng
Dưới lăng kính của thiền học
Chiếc dép bỏ lại và chiếc dép mang đi
Chính là một biểu tượng tuyệt đẹp
Thân xác chỉ là chiếc áo trốn cõi trần
Sinh tử chỉ là một trò chơi hư ảo
Vị thiền sư đến tự do và đi tự do
Không vướng mắt vào bất kỳ nấm mồ
Hay cho bụi nào của thế thái nhân tình
Bồ đề đạt ma qua đời
Để lại một chiếc dép
Bóng chim tăm cá
Nhưng ngọn lửa thiền
Mà ông nhen nhóm trên đất Trung Hoa
Thì không bao giờ tắt
Hạt giống lặng lẽ gieo xuống giữa những dông bão
Của thời Nam Bắc Triều
Bắt đầu nảy mầm, đơm hoa
Và vươn mình thành một cây cổ thụ
Rợp bóng cả phương Đông
Tiếp nối tâm nguyện của Tổ sư
Nhị Tổ Huệ Khả rời vùng núi Tung Sơn
Ẩn mình giữa trốn dân gian
Để tiếp tục nuôi dưỡng mạch ngầm thiền học
Giữa một thời đại đầy biến động chiến tranh
Và những cuộc đàn áp Phật giáo dữ dội
Huệ Khả cùng các thế hệ học trò
Đã âm thầm bảo vệ, tránh pháp nhãn tạng
Không bằng những giáo đường đồ sộ
Mà bằng sự tu tập kiên trì
Từ nhị Tổ Huệ Khả
Ngọn đuốc truyền đăng lần lượt
Được trao qua các vị Tổ tiếp theo trong dòng lịch sử
Người bắt đầu xây dựng các thiền viện định cư
Đưa thiền nhập thế sâu rộng hơn vào đời sống lao động thường ngày
Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn
Người lập nên thiền viện trên núi Đông Sơn
Đào tạo hàng ngàn môn đồ
Và đưa thiền tông trở thành một phong trào tâm linh mạnh mẽ
Và rồi
Sự bùng nổ rực rỡ nhất
Đã diễn ra ở thế kỷ 7
Với sự xuất hiện của Lục Tổ Huệ Năng
Với tư tưởng trực chỉ nhân tâm
Kiến tính thành Phật
Và bộ kinh pháp bảo đàn
Huệ Năng đã bình dân hóa thiền tông
Đưa thiền vượt ra khỏi những bộ kinh điển phức tạp
Hay trốn tu hành nghiêm cẩn
Biến nó thành một con đường giác ngộ gần gũi
Ai ai cũng có thể chạm tới ngay trong từng hơi thở
Và công việc đời thường
Từ đây
Thiền tông phân chia thành 5 thiền phái lớn 5 nhà thiền
Quy ngưỡng, lâm tế, tàu động
Vân môn, pháp nhãn
Cuồn cuộn chảy như dòng sông lớn
Làm biến đổi toàn bộ diện mạo Phật giáo Trung Hoa
Thời đường
Tống, không dừng lại ở biên giới Trung Quốc
Dòng chảy ấy tiếp tục vượt đại dương
Lan sang Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam
Tại Nhật Bản
Gen thiền đã thấm sâu vào hồn cốt văn hóa
Từ trà đạo, kiếm đạo cho đến nghệ thuật cắm hoa và vườn đá
Tại Việt Nam
Thiền tông kết hợp với tinh thần dân tộc
Đã sản sinh ra những dòng thiền độc đáo
Đỉnh cao là thiền phái Trúc Lâm
Do Phật Hoàng Trần Nhâm Tông sáng lập
Tất cả những di sản tâm linh mênh mông ấy
Tất cả những thiền đường tĩnh lặng từ Đông sang Tây ngày nay
Đều bắt nguồn từ bước chân độc hành
Của một nhà sư phương Tây
Và bóng lưng 9 năm lặng lẽ trước vách đá tung sơn
Khi nhìn lại toàn bộ hành trình sống động ấy
Chúng ta nhận ra rằng
Bồ đề Đạt Ma tồn tại trong hai thế giới song song
Thế giới của con người lịch sử
Và thế giới của hình tượng huyền thoại
Dưới lăng kính của lịch sử thực chứng
Ông là một nhà sư Nam Ấn Độ có thật
Một kẻ độc hành kiên cường
Đã vượt biển sang Trung Hoa
Vào thế kỷ 6
Tư liệu sử sách ghi chép về ông rất khiêm tốn
Chỉ phác họa ngắn gọn một vị tăng sĩ dũng cảm
Mang đến một phương pháp thiền định mới mẻ
Và truyền lại giáo pháp cho một nhóm nhỏ đệ tử
Trong đó có Huệ Khả
Thế nhưng
Dưới lăng kính của văn hóa và đức tin
Bồ đề Đạt Ma đã vượt qua giới hạn của một kiếp người
Để trở thành một biểu tượng vĩnh hằng
Câu chuyện 9 năm diện bích
Cuộc đối thoại lạnh ngắt với Lương Vũ Đế
Cánh tay dân đạo của Huệ Khả
Bộ bí kíp võ học thiếu lâm
Hay giai thoại quẩy một chiếc dép về Tây Trúc
Tất cả có thể không hoàn toàn là sự thật lịch sử
Nhưng lại là những
Sự thật biểu tượng vô giá
Chúng được sáng tạo và bồi đắp qua hàng trăm năm
Bởi niềm kính ngưỡng sâu sắc của hậu thế
Nhằm mô hình hóa
Những chiếc lý thiền học sâu thẳm nhất
Ngày nay, hình tượng Đạt Ma xuất hiện
Ở khắp mọi nơi trong đời sống phương Đông
Trong hội họa và thư pháp
Ông hiện lên với đôi mắt to tròn kiên định
Bộ râu rậm quăn
Và chiếc áo cà sa tung bay trong gió
Trong điêu khắc, gỗ đá vô chi qua hình dáng
Ông lại tỏa ra một luồng khí thái uy nghiêm
Nhưng tự do tuyệt đối
Trong võ thuật
Ông là biểu tượng của tinh thần rèn luyện thân tâm bất diệt
Vì sao một con người với tiểu sử mơ ảo
Lại có thể trở thành tượng đài sừng sững
Qua hàng nghìn năm
Có lẽ là bởi hành trình của ông
Đã chạm đến cốt lõi trong khao khát của con người
Sự giải thoát bản thân khỏi những giang buộc
Của danh lợi, nghi thức
Và sự giả tạo thế gian để quay về
Tìm lại chính mình
Sứ mệnh của vị tăng sĩ phương Tây năm xưa
Không phải là để lại một ngôi chùa đồ sộ
Hay những cuốn sách dày ngập chữ
Con đường nhìn thẳng vào tâm mình
Để thấy bản tính chân thật
Và như thế, dù lịch sử có làm mờ đi
Những dấu vết bước chân ông
Thì bóng lưng trầm mặc trước vách đá tung sơn
Vẫn sẽ mãi là một lời nhắc nhở tĩnh lặng
Nhưng mãnh liệt cho bất kỳ ai
Đang đi tìm sự thức tỉnh trong cuộc đời
Quý vị khán giả của sự thi quán thân mến
Hành trình lần theo dấu vết Bồ Đề Đạt Ma đến đây
Xin được khép lại
Từ một hoàng tử Nam Ấn đến vị sơ Tổ Thiền Tông
Cuộc đời ông vừa là trang sử kiên cường
Vừa là bức tranh huyền thoại đẹp đẽ
Của Phật giáo Phương Đông
Cảm ơn quý vị đã đồng hành cùng sự thi quán trong tập phim này
Xin chào và hẹn gặp lại trong những hành trình lịch sử tiếp theo
