Thảm họa Andes 1972 biến chuyến bay 571 thành một trong những câu chuyện sinh tồn ám ảnh nhất lịch sử. Mắc kẹt giữa núi tuyết, cạn kiệt thức ăn và không còn hy vọng được cứu, những người sống sót buộc phải đưa ra lựa chọn gây tranh cãi để giành lấy sự sống. Cuối cùng, chỉ 16 trong 45 người trở về sau 72 ngày giữa dãy Andes. ------------------------------------
Executive Producer: Phung Trung Dung Producer: Dat Nguyen & Ma Thi Hue Research: Lanh Tran Editing & AI engineer: Thuy Nga Host: Viet Cuong Nguyen Thumbnail: Ngoc Nguyen Quality Control: Dinh Khiem Vu
Ai trong chúng ta cũng có vài bức ảnh để lưu giữ những chuyến đi đẹp nhất cuộc đời.
Thế nhưng hiếm có tấm hình nào trồng giống như thế này.
Thoạt nhìn, đó chỉ là một nhóm thanh niên đang ngồi giữa biển tuyết.
Cho đến khi bạn nhìn vào góc trái bức ảnh.
Ngay bên cạnh họ, nó là cột sống của một con người.
Điều gì đã xảy ra?
Một vụ giết người ư?
Hay một giọt phái ăn thịt đông loại?
Thực tế, câu trả lời còn khủng khiếp hơn nhiều.
Những chàng trai trong bức ảnh đều là các nạn nhân còn sống sót sau vụ rơi máy bay tại dãy núi dài nhất thế giới.
Bốn bề phù tuyết, thực ản cạn kiệt, nhiều người còn bị thương nặng.
Vậy mà, họ vẫn sống sót sau 72 ngày mất tích.
Dù cuộc, điều gì đã xảy ra trong câu chuyện đầy kỳ diệu ấy?
Ở vùng ngoại ô thủ đô Uruguay, có một câu lạc bộ bóng bầu dục nổi tiếng là Old Christians.
Kể đến tháng 10 hàng năm, họ sẽ sang Chile để thi đấu giàu hữu.
Mỗi chuyến đi không chỉ có vận động viên, mà còn có bạn bè cùng người thân đồng hành.
Sau trận đấu, mọi người thương tranh thủ tận hưởng kỳ nghỉ ngắn ngày.
Chuyến đi năm 1972 cũng không ngoài lệ.
Thời ấy, vẻ máy bay vô cùng đắt đỏ.
Để tiết kiệm chi phí, chủ tịch câu lạc bộ quyết định thuê riêng một chiếc phi cơ của không quân Uruguay.
Do lực lượng vũ trang lúc ấy gặp khó khăn tài chính,
nên máy bay được tận dụng luôn cho mục đích dân sự.
Sáng ngày 12 tháng 10 năm 1972,
chuyến bay số 571 cất cánh từ sân đại quốc tế Carrasco,
điểm đến là thủ đô Santiago của Chile.
Nếu mọi việc diễn ra đúng kế hoạch, hành trình sẽ kéo dài khoảng 3 giờ.
Cơ trường của chuyến bay là Ferradas, một phi công dày dạng kinh nghiệm.
Để đi từ Uruguay sang Chile,
ông thường vượt qua khu vực đèo Planchón nằm giữa dãy Andes.
Đây được xem là một trong những tuyến đường nguy hiểm nhất
vì thời tiết biến đổi cực kỳ nhanh chóng.
Đi cùng Ferradas còn có cơ phó Lagurara,
người vẫn đang trong quá trình huấn luyện.
Để giúp đồng đội tích lưỡi kinh nghiệm thực tế,
Ferradas quyết định trao quyền điều khiển cho Lagurara.
Khi tiến vào không phận Argentina, thời tiết dần chuyển biến xấu.
Máy bay buộc phải hạ cánh xuống thành phố Mendoza của Argentina.
Sáng đến ngày hôm sau,
tình hình khí tượng vẫn không cải thiện.
Tình huống ấy đẩy cơ trưởng vào thế khó.
Lựa chọn an toàn nhất là lưu lại Mendoza thêm một ngày nữa.
Thế nhưng quyết định lúc bấy giờ không cho phép máy bay quân sự nước ngoài lưu trú trên lãnh thổ Argentina
quá 24 giờ liên tiếp.
Cuối cùng, phi hành đoàn đã lựa chọn phương án tiếp tục hành trình.
Khoảng 2 giờ 18 phút chiều,
chiếc máy bay cất cánh trở lại.
May mắn thay,
phần lớn cờn bão đã tàn.
Do vậy,
một lớp mây dày vẫn che kín toàn bộ lối băng quả núi.
Sau khi di chuyển qua khu vực đèo Planchón,
mà không gặp bất kỳ sự cố nào,
cơ phó liên lạc với kiểm soát không lưu để báo cáo tình hình.
Santiago Control, Uruguayan 571.
Over Planchón,
estimating Curicó at 15.32.
Ít phút sau, Lagurara gọi lần nữa
và báo cáo đã rời Curicó.
Nhân viên điều phối lập tức cảm thấy điều này rất bất thường.
Thông thường,
hành trình từ đèo Planchón
đến Curicó phải mất khoảng 11 phút.
Vậy mà, chỉ 3 phút sau lần báo cáo trước,
tổ lái khẳng định họ đã tới nơi.
Nhưng thật khó hiểu.
Dù thấy nghi ngờ,
nhân viên điều phối vẫn hướng dẫn chiếc máy bay hạ độ cao,
rồi cấp phép tiếp cận sân bảy.
Đó là 3 giờ 30 phút,
chiều ngày 13 tháng 10 năm 1972.
Và cũng là thời điểm liên lạc cuối cùng giữa đài kiểm soát với chuyến bay định bệnh.
Thực tế, việc xác định vị trí của tổ lái hoàn toàn sai lệch.
Chiếc phỉ cờ vẫn còn lơ lửng trên khu vực đèo Planchón giữa dây Andes.
Cơ phó lầm tưởng rằng,
mình đã vừa sang Chile,
và cơ trưởng cũng không phát hiện ra điều gì bất thường.
Họ bắt đầu giảm độ cao ngay giữa vùng núi Chortworth.
Sau khi xuyên con lớp mây dày đặc,
chiếc máy bay bắt đầu rùng lắc dữ dội.
Phần thân còn lại lập tức vỡ đôi,
rồi lao xuống mặt đất với vận tốc khoảng 350 km trên giờ.
Ngay thời điểm va chạm,
5 người thiệt mạng tức thỉ.
Còn 7 hành khắc khác rơi vào trạng thái bất tỉnh.
Từ 45 người ban đầu,
chỉ còn 33 người sống sót sau cú rơi.
Nguồi sẵn bốc lên nồng nặng,
khiến ai cũng lo sợ chiếc máy bay sẽ phát nổ.
Những người còn đủ sức,
lập tức rìu các nạn nhân khác ra ngoài.
Thế nhưng, khoảnh khắc đặt chân ra khỏi xác máy bay,
họ mới nhận ra rằng,
cơn ác mộng thực sự chỉ vừa bắt đầu.
Lớp băng cứng khiến những đôi chân đào bút gần như không thể di chuyển.
Sau một lúc cố gắng,
mọi người buộc phải quay trở lại bên trong máy bay.
Họ dùng những chiếc ghế còn sót lại để bịt kín phần thân máy bay đã vỡ,
ngăn gió lạnh cùng tuyết chảy vào.
Không có một bác sĩ nào trong số những người sống sót.
Hy vọng duy nhất lúc ấy đã lê vai hai sinh viên y khóa còn chưa tốt nghiệp.
Một trong số đó là Roberto Canessa.
Trên sân bóng bầu dục,
đồng đội gọi anh mang biệt danh Chất Động
vì ý chí lì lợm và thề lực bền bỉ,
gần như không bao giờ chịu khuất phục trừ đối thủ.
Dù hoảng loạn vì vụ tai nạn,
Canessa và người bạn vẫn cố lấy lại sự bình tĩnh
để cứu giúp những người xung quanh.
Ngoài vài viên thuốc giảm đau nhật nhạnh được từ hành lý,
họ gần như chẳng có bất kỳ dụng cụ y tế nào.
Tai nạn xảy ra vào lúc 3 giờ 34 phút chiều.
Chỉ khoảng nửa giờ sau,
bầu trời bắt đầu tối dần.
Thế giới ngày càng dày hơn.
Hơn 30 người phải chen trúc trong không gian dài khoảng 6 mét.
Lúc ấy ai cũng tin rằng
lực lượng cứu hộ sẽ xuất hiện ngay vào sáng hôm sau.
Đó là tiếng kêu của cơ phố Lagurara.
Anh ta đã bị thương rất nặng.
Còn cơ trưởng Ferradas nằm bên cạnh đã tử vong.
Một lúc sau,
anh ta rời khỏi buông lái và kể lại mọi chuyện cho những người khác.
Anh ta thậm chí còn dối rằng
mình đã liên lạc được bằng vô tuyến
và lực lượng cứu hộ sẽ sớm đến.
Nhưng trước radio đã hỏng.
Bản thân Moncho cũng không hề biết
lời nói dối của mình sẽ trấn an mọi người được bao lâu.
Sáng ngày hôm sau,
tuyết đã ngớt đi khá nhiều.
Nhưng đau lòng là đã có thêm 6 người nước qua đời,
bao gồm các cơ phố Lagurara.
Một ngày nữa trôi qua,
và vẫn không có bất kỳ dấu hiệu nào của lực lượng cứu hộ.
Giữa bầu không khí đầy tuyệt vọng đó,
sự chú ý của Canessa dồn về phía góc đuôi máy bay.
Đó là Nando Parado,
một chàng thiếu niên mới 22 tuổi.
Cú va trạm đã khiến đầu anh đập thẳng vào khoang lái
và rơi vào trạng thái hôn mê sâu
với một vết dạng sọ nghiêm trọng.
Mọi người nghĩ rằng
Parado đã chết,
nên đặt anh ở vị trí lạnh nhất của sáp máy bay.
May mắn thay nhiệt độ ấm hàng chục độ lại giúp làm chậm hiện tượng phù não.
Bước về từ cõi chết,
tin tức đầu tiên mà Parado nhận được
là mẹ của anh đã tử vong.
Còn của em gái 19 tuổi đang hôn mê
vì trấn thương nội tạng nghiêm trọng.
Dù vô cùng đau lòng,
Parado không thiệt cuộc ngã.
Ở quê nhà Uruguay,
cha anh vẫn đang chờ đợi.
Từ giây phút đó,
Canessa và Parado quyết định đứng ra dẫn dắt cả nhóm
bước vào cuộc chiến dành dặt sự sống.
Điều đầu tiên được thống nhất
là gom toàn bộ thực phẩm
để chia đều.
Giá tài sinh tồn của 28 con người lúc này
vòn vẹn chỉ gồm 3 chai rượu vàng,
vài chai rượu mạnh,
8 thanh sô-cô-la,
cùng ít kẹo nô-gát,
mận khô và trà là nhặt nhạy trên sàn.
Nguồn nước duy nhất xung quanh là tuyết.
Thế nhưng,
ăn trực tiếp lại cực kỳ nguy hiểm.
Năng lượng tiêu hào để làm ấm cơ thể sau đó còn lớn hơn lượng nước thù được.
Hậu quả là những người sông sót nhanh chóng rời vào tình trạng mất nước.
Hơn nữa, muốn tìm được lớp tuyết sạch,
họ còn phải đi rất xa,
vì khu vực quanh sát máy bay đã lẫn đầy dầu,
máu và chất thản.
Nhưng làm sao biến văn thành nước
khi nhiệt độ luôn dưới 0 độ C?
Một chàng trai đã tháo lớp nhôm mỏng
bên trong các tấm che nắng của vị cờ.
Sau đó, cậu gấp chúng thành khay nông
và đổ đầy tuyết vào.
Những chiếc bát tự chế được đặt trên nóc thân máy bay,
nghiêng về phía mặt trời để hấp thụ nhiệt.
Từng giọt nước thu được
trở thành nguồn sông quý giá của cả nhóm.
Ngay sau khi vụ tai nạn diễn ra,
ba quốc gia Uruguay, Chile và Argentina
đã đồng loạt mở chiến dịch tìm kiếm cứu hộ.
Đáng tiếc,
mọi nỗ lực ban đầu lại đi trách hướng.
Thời điểm ấy,
Đặc Plankton chưa nằm trong vùng phủ sóng radar.
Vì thế, đội tìm kiếm chưa có thể dựa vào thông tin cuối cùng của cơ phó báo vệ
rằng chiếc máy bay đã đến Curicó,
rồi rẽ hướng Bắc để hạ độ cao về Santiago.
Từ dữ liệu đó, phạm vi cứu nạn
được tập trung giữa Curicó và Santiago.
Nhưng giờ đầu,
ai cũng khá là quản.
Phần lớn lộ trình bay đi qua
đều nằm sát khu dân cư.
Khả năng có người nhìn thấy điều bất thường là rất cảm.
Thế nhưng niềm hy vọng nhanh chóng biến thành sự bối rối.
Trong mắt nhóm cứu hộ,
mọi cô gia soát đều không phát hiện bất cứ dấu vết nào,
ngay cả khi
họ đã ở rất gần hiện trường.
Chuyến bay gặp nạn dường như đã biến mất khỏi thực tại.
Trừ trều là những nạn nhân sống sót vẫn tin rằng
họ chắc chắn sẽ được phát hiện.
Đáng tiếc,
đó chỉ là những tiếng vọng không lời hồi đáp.
Nguyên nhân là bởi chiếc bay bay gặp nạn có màu trắng.
Nó gần như hòa lẫn hoàn toàn về tuyết
và những dãy núi phủ bằng xung quanh.
Khiến việc phát hiện từ trên cao gần như bất khả thí.
Sau khi bàn bạc,
Hanesa cho rằng
phải tạo ra một dấu hiệu đủ nổi bật.
Ít lâu sau,
một chiếc bay bay khác xuất hiện.
Nhưng kết quả cũng chẳng khác gì lần trước.
Điều kiện thời tiết quá khắc nghiệt
khiến đội cứu hộ tin rằng
nếu sắc bay bay có được phát hiện,
thì hành khách bên trong cũng khó có thể sống sót.
Dù vậy,
công việc tìm kiếm vẫn tiếp tục được triển khai.
Đến ngày 21 tháng 10,
tức 8 ngày sau vụ tai nạn,
mà người thậm chí không còn đủ sức để bước đi.
Chỉ còn 27 người sống sót.
Cơn đói bắt đầu đẩy họ đến tận cùng của giới hạn sinh tồn.
Một vấn đề khác cũng khiến mọi người lo lắng
là chiếc radio vẫn hoàn toàn vô dụng.
Người duy nhất có kiến thức về kỹ thuật
quyết định thử sửa nó
bằng cách nối với một bình ác quỷ.
Kể từ thời khắc ấy,
mọi hy vọng chỉ còn đặt vào chính bản thân họ.
Sau khi chấp nhận sự thật phụ phàng,
hai thành viên khỏe nhất trong đội bóng quyết định rời máy bay để thăm dò xung quanh.
Họ đi bộ nhiều km,
nhưng khắp nơi vẫn chỉ là tuyết trắng kéo dài bất tận.
Khi trời tối, cả hai buộc về quay trở lại.
Trong khi đó, những người còn lại cũng đang dần chạm tới giới hạn của cơ thể.
Số thức ăn cuối cùng đã được chia hết.
Đúng lúc đấy,
hai sinh viên y khoa đưa ra một đề nghị khiến cả nhóm chết lặng.
Chúng ta cần nguyên liệu.
Mọi người biết chúng ta phải làm gì.
Đó là cách duy nhất.
Mày điên hả?
Ngoài kia, đó là gia đình của chúng ta.
Mày muốn chúng ta trở thành...
thù.
Khoan, ai đó nghe thấy chuyện đó không?
Khi mọi thứ lăng xuống,
thêm tám người nữa đã thiệt mạng.
Những chàng trai từng nặng tới 80kg,
giờ chỉ còn trứng 30-40kg.
Đến lúc ấy, chẳng còn sự lựa chọn nào khác.
Nếu tiếp tục chờ đợi,
tất cả sẽ lần lượt chết vì đói.
Dù đã tạm thời giải quyết được kiệt đói,
nhưng tình hình vẫn chẳng khá là bảo.
Thêm 3 người nữa lần lượt qua đời.
Không thể tiếp tục ngồi chờ chết,
cả nhóm quyết định tự tìm đường thoát thân.
Phía đông nơi xác máy bay nằm
chỉ là biển tuyết trắng kéo dài vô tận,
trong khi hướng Tây bị tránh bởi những dãy núi cao.
Mọi người suy đoán rằng
ở phía bên kia có thể tồn tại cây cối,
thăm thực vật hoặc dấu hiểu của con người.
Vì vậy, leo qua dãy núi trở thành tìa hy vọng cuối cùng.
Ngày 20 tháng 11,
hơn 40 ngày sau khi gặp nạn,
họ bắt đầu xây dựng một kế hoạch chi tiết
để vượt sang sườn núi phía Tây.
Sau khi cân nhắc,
cả nhóm lựa chọn 3 người có thể lực tốt
là Canessa,
Parado
và Byzantine.
Tuy nhiên,
họ vẫn chưa thể lên đường ngay.
Cả nhóm quyết định chờ đến giữa tháng 12,
khi mùa hè bắt đầu và thời tiết sẽ bớt khắc nghệ hơn.
Trong gần một tháng chuẩn bị,
3 người luyện tập mỗi ngày để lấy lại chút sức lực còn sót lại.
Họ học cách di chuyển trên tuyết,
đối phó với tình trạng thiếu oxy
và chiêu đựng cái lạnh cắt da
ở độ cao hơn 3.000 mét.
Ngoài thứ đều được tận dụng.
Lợp bông trong ghề máy bay bị xé ra để nhét vào quần áo làm lợp dữ nhiệt.
Trang phục của những người đã khuất,
được mặc trồng thành nhiều lớp.
Đệm ghế cũng được cắt nhỏ,
nhét vào đôi giày cũ
nhằm bảo vệ bàn chân khỏi bằng giá.
Để đối phó với hiện tượng mù tuyết,
họ đã tự chế tạo một thiết bị bảo vệ đặc biệt.
Mọi người tận dụng những mảnh nhựa màu trong buồng lái.
Chúng được cố định vào quài áo ngực bằng dây điện để tạo thành kính tự chế.
Nhờ vậy, họ có thể quan sát rõ hơn giữa biển tuyết trói loả.
Cả nhóm còn chế tạo những vật phản chiếu ánh sáng
cùng các thiết bị phát tín hiệu đơn giản.
Lương thực mang theo chỉ gồm vài miếng thịt
cùng hai thanh sô-cô-la
và ít kẹo nô-gát.
Đến ngày 12 tháng 12 năm 1972,
ba người chính thức bắt đầu hành trình vượt núi.
Theo kế hoạch,
họ sẽ di chuyển vào ban ngày,
rồi nghỉ lại khi trời tối.
Cuối cùng, họ quyết định để Vizintin quay trở lại sắc máy bay nhằm tiết kiệm lương thực.
Canessa và Parado sẽ tiếp tục tiến về phía trước
với hy vọng tìm được sự sống.
Việc sung núi dễ dàng hơn nhiều so với lúc leo lên.
Dù vậy, khó khăn vẫn không dừng lại.
Ngày 18 tháng 12,
bão tuyết ập đến.
Cùng lúc đó,
di chứng từ vụ tai nạn khiến Parado đau đầu dữ dội.
Chiều hôm đó, một chiếc máy bay bày ngả qua.
Thế nhưng, họ không nhận được bất kỳ phản hồi nào.
Đến ngày 20 tháng 12 năm 1972,
cả hai trên khoảng cách đỉnh núi một quãng ngắn.
Trong gần 8 ngày liên tiếp,
họ đã vượt gần 60km.
Trước hai mắt chàng trai là gờ đá cuối cùng.
Nếu phía bên kia vẫn chỉ là những dãy núi trắng xóa,
thì mọi hy vọng sẽ chấm dứt.
Sau lời ngầu nguyện cuối cùng,
họ bước lên đỉnh.
Sau hơn 7 mênh ngày chiến đấu với cái lạnh và nạn đói,
lần đầu tiên, họ nhìn thấy dấu hiệu của sự sống.
Cả hai tin rằng phía trước có thể xuất hiện con người.
Tối đến,
họ nghỉ bên bờ sông để lấy lại sức.
Khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau,
hai người phát hiện một đàn bỏ,
một gói mì,
cùng vài khúc gỗ đang cháy.
Rõ ràng,
con người đang ở rất gần.
Tuy nhiên, dòng sông trước mặt quá rộng và chảy siết,
nên việc băng qua gần như bất khả thị.
Một lúc sau,
ở bờ bên kia xuất hiện một người đàn ông cưỡi ngựa.
Vì khoảng cách quá xa cùng tiếng nước chảy dữ dội,
hai bên hoàn toàn không nghe thấy nhau.
Người cưỡi ngựa cố hết điều gì đó rất lâu.
Từ duy nhất mà hai người nghe được là ngày mai.
Rồi người đàn ông quay đầu ngựa,
khuất dần sau chiến núi.
Hy vọng vừa lóe lên là một lần nữa biến thành sự chờ đợi đầy thấp thọp.
Họ thay nhau quan sát bờ bên kia.
Sáng hôm sau, người đàn ông ấy xuất hiện lần nữa.
Sau khi đọc xong,
người đàn ông lập tức hiểu toàn bộ tình hình.
Ông hét lớn
rằng mình đã hiểu rồi nhanh chóng phi ngựa đi báo cho chính quyền địa phương.
Không lâu sau, lực lượng cứu hộ có mặt vừa đưa hai chàng trai đến bệnh viện.
Tại đây họ kể lại toàn bộ câu chuyện sinh tồn kéo dài hơn hai tháng.
Cũng thời điểm đó,
hai chiếc trực thăng được điều động đến khu vực dãy Andes để giải cứu những người còn mắc kẹt.
Sau 72 ngày giữa định mục bằng giá của dãy Andes,
Chi Mê Sáu trong số 45 hành khách trên chuyến bay năm 1971 còn sống trở về.
Và điều giúp họ chiến thắng không phải may mắn,
mà là ý chí sống còn mạnh liệt.
Tình thần đoàn kết và quyết tâm không bao giờ từ bỏ,
ngay cả khi mọi hy vọng dường như đã biến mắt.
Để tồn tại, họ đã buộc phải đưa ra những lựa chọn mà chẳng ai mong muốn.
Quyết định ấy từng khiến cả thế giới tranh cãi.
Thế nhưng khi sự thật được kể lại,
phần lớn mọi người đều hiểu rằng
đó không phải là câu chuyện về sự man dợ.
Đó là câu chuyện về bản năng sinh tồn của con người
khi bị dồn đến giới hạn cuối cùng.