Sấm Trình Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lưu truyền suốt hơn 400 năm qua lại một lần nữa tạo hậu thế giật mình. Những câu ngầm bí ẩn như "Kể từ thì Tỵ mà đi / Rồng thời chết rắn, rắn thời chết khô" hay "Năm Dê sinh hai sừng" liệu có đang ứng nghiệm với những biến cố thế giới hiện tại? Ý nghĩa thực sự của lời tiên tri "Mã đề dương chân anh hùng tận / Thân Dậu niên lai kiến thái bình" gió chỉ điều gì cho những năm Ngọ (2026) và Mùi (2027) sắp tới? Cùng Ngọc Vy và Tâm Linh cô mở tấm màn bí ẩn về cuộc đời Trạng Trình, những lời khuyên câu chuyện làm xoay chuyển lịch sử và thông điệp ngữ cảnh thiết kế cuộc chiến chính - tà ngày nay. Dòng thời gian
00:00 - Giải mã "Rồng chết ngập, rắn chết khô": Sự ứng nghiệm bên người của Sấm Trạng Trình
03:15 - Bí ẩn đêm tân hôn và cậu bé "vịn vàng" Nguyễn Bỉnh Khiêm
07:20 - Ba lời tri định số phận ba triều đại (Mạc, Nguyễn, Trinh)
11:45 - Những giai thoại kỳ kỳ: Cây đèn mù mắt "và Vĩnh Lại"
18:10 - Lời cảnh báo 2026 - 2027: "Mã đề Chân Chân" và trận chiến chính tà
21:30 - Thông điệp tỉnh tối hậu: Thiên cơ bất biến, xin người chuyển hướng
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Video giới thiệu về cuộc đời và những lời sấm truyền kỳ bí của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một bậc thánh nhân với khả năng tiên tri vượt thời gian. Nội dung xoay quanh những lời khuyên định đoạt vận mệnh các vương triều Mạc, Trịnh, Nguyễn và những giai thoại về khả năng thấu thị tương lai, từ đó rút ra bài học về đạo đức và lòng hướng thiện cho hậu thế.
Kể từ hình tị mà đi, rồng thờ chết lục trắng thờ chết khô, đến năm dê mọc hai sừng, càng thêm khiết luận thảm sầu núi sông.
Quỷ đông trượng ở vần cày, rùng giữ tan tác cỏ cây tơi bời, quỷ đông đánh bạc ý trời, quỷ đông thất thế đoạn đời quỷ đông.
Chỉ mấy câu sống ấy về năm dê sắp tới, dù đã nằm im trong những bản chép tay suốt hơn 400 năm.
Mỗi bản chép một chữ khác nhau, mỗi đời người đọc lên lại thấy một nghĩa khác nhau.
Nhưng có một điều kỳ lạ, cứ mỗi lần vòng lọc con giáp quay về thịnh rồi tị, rồi ngọ mùi, người ta lại lật lại những trang xóm cũ ra, làng nẻ, đếm nằm.
Lại thị thầm với nhau rằng, hình như cụ tràng trình đã nhìn thấy trước.
Năm giáp thịnh 2024, một cơn bão bằng tên Yagi quét qua miền Bắc.
Nước dân ngập phố, núi lở vùi cả một ngôi làng trong đêm.
Cây cầu sắc đổ xuống dòng sông Hồng như một món đồ chơi.
Người ta nhìn những hình ảnh ấy rồi nhớ đến hai chữ, rồng thờ chết lục.
Rồi đến năm tỷ câu trắng thờ chết cô lại được đem ra bàn.
Có người đọc thành hạng háng, có người đọc thành sự khô kịt của núi tiền, của sinh kế, của lòng người.
Mỗi người một cách hiểu và không ai dám, chắc là mình sẽ đúng.
Còn năm dê mọc hai sừng thì sao?
Trong một bài sấm khác cũng được truyền là của ông, có hai câu chữ Hán mà hậu thế bàn mãi chưa thôi.
Mã đề dương cước anh hùng tận, thân dậu niên lai kiến thái bình.
Vó ngựa, trần dê, anh hùng tàn lụi.
Đến năm thân năm dậu mới thấy thái bình, ngựa là năm ngọ, dê là năm mùi.
Và chúng ta đang đứng giữa năm bính ngọ, không ai dám nói điều gì chắc chắn xảy ra.
Nhưng lần nào đọc lại người ta cũng thấy bóng dáng thời cuộc của mình trong đó.
Vì sao một người sinh ra từ năm 1491 lại viết được những câu chữ
mà 500 năm sau con người vẫn phải dừng lại, vẫn phải giật mình.
Ông là ai? Vì sao cả vua chúa cũng phải tìm đến ông?
Ngọc Vi xin kính chào quý vị. Chào mừng quý vị quay trở lại với Giải Đáp Tâm Linh.
Mọi người đừng quên nhấn like, đăng ký kênh hoặc là donate để ủng hộ cho Ngọc Vi quý vị nha.
Câu chuyện hôm nay bắt đầu từ một đêm tân hồn
và từ một tham vọng mà nếu thằng có lẽ lịch sử Việt Nam đã phải tuyết khác đi.
Tuyên truyền ở đất Hải Dương xưa có một người, con gái tên là Nhưỡng Thị Thục,
con của Quang Thường Thư Nhưỡng Văn Lan.
Bà thông kinh sự, lại rất giỏi tướng số, đã quá tuổi 20,
cái tuổi mà con gái thời ấy đã yên bề gia thất từ lâu.
Bà vẫn khức từ mọi mối mai.
Bà chỉ muốn một điều sinh ra một đứa con mang chân mình thiền tử.
Bà tìm mãi cho đến khi gặp thư sinh Nguyễn Văn Định,
người mang đúng thứ tướng mạo có thể cùng bà sinh ra bậc đế vương.
Hùng lễ được cử hành.
Đêm động phòng, bà dặn chồng một điều duy nhất.
Khi nào Trang lên tới ngọn tre khi ấy mới được vào phòng.
Đó là giờ khắc bà đã tính suốt bao nhiêu năm.
Thế nhưng người tính thì không bằng trời tính.
Đêm vui, bạn bè họ hàng chút rượu.
Trang rễ uống say, quên sạch lời vợ dặn.
Trang còn chưa chạm đến ngọn tre thì cánh cửa phòng đã mở.
Một khắc lệch đi, một ngày phàng không bao giờ thành hình.
Năm 1491, bà sinh hạ một bé trai khôi ngô phần tráng sáng rỡ.
Cha mẹ đặt tên là Nguyễn Văn Đạt.
Mong con sau này sẽ thành đạt.
Mẹ dạy con sau này phải làm vua.
Cha dạy con sau này phải làm tôi.
Để khỏi phạm tội nghịch thần.
Có một giai thoại kể rằng một hôm,
người cha ru con ngủ buộc miệng độc.
Nguyệt treo cung cậu bé,
còn chưa đầy 5 tuổi đã đối lại ngay, vệnh tay tiên.
Người cha mừng rỡ.
Nhưng người mẹ vừa về tới, nghe được thì nổi giận.
Trong mắt bà, đứa con ấy phải tựa ngay vàng,
chứ không phải vệnh bất cứ thứ gì.
Lần khác bà ru con, bống bống, bang bang.
May này con lớn tựa ngay vàng.
Người cha sợ lời ấy lọt ra ngoài
thì cả họ mang tội trung di bàn sửa thành công vệnh ngay vàng.
Tức là đứng hậu bên ngay chứ không ngồi lên đó.
Đó là giọt nước tràn ly cuối cùng.
Tương truyền bà nhử thiệt thuộc đã bỏ cha con cậu bé mà đi.
Quyết đi tìm một người khác để thực hiện giấc mộng còn đang gian dở.
Bà tính được giờ của trăng,
nhưng không tính được ly rượu mừng trong đêm tân hồ.
Nớn lên cậu được cha gửi đến học thầy Lương Đắc Bằng,
bậc đại nho nổi tiếng trên thông thiên văn dưới tường địa lý.
Cậu chăm chỉ sáng dạ, chẳng máy chốc trở thành học trò được thầy yêu nhất.
Trước lúc lâm chung thầy trao lại cho cậu cuốn thái ức thần kinh,
bồ sát thuật số mà người đời truyền rằng,
chính thầy cũng chưa hiểu hết.
Và rồi cậu học trò ấy đã hiểu.
Từ đó ông nhìn thấy vận nhà Lê đang tàn.
Đổ để làm quang cho một triều đại sắp sập thì đổ để làm gì?
Thế là ông không đi thi.
Một năm rồi nhiều năm.
Đến năm 1527, Mạc Đăng Dung phế vua Lê lập ra nhà Mạc.
Ông vẫn lặn lẽ quang sát thêm mấy năm nữa.
Mãi đến năm 1535,
khi ấy nhà Mạc đã vẫn thế nước tạm yên.
Ông mới lên kinh ứng thí.
Trước khi đi thi, ông đổi tên thành Nguyễn Bỉnh Kim.
Năm ấy ông đã ngoại bốn mươi,
và ông đã đổ tràn nguyên.
Một người có thể đổ đầu thiên hạ từ hai mươi năm trước
đã kiên nhẫn chờ suốt hai mươi năm,
chỉ để đặt chân lên đúng con thuyền không bị chìm.
Cái giá của chữ biết thời là nửa đời người ngồi im lặng.
Ông được phong trình tuyền hầu rồi trình quốc công.
Nên dân gian còn gọi là tràn trình.
Ông nổi tiếng thanh niên, ghét sự giả dối,
thấy kẻ lộng quyền trong triều ngày càng một nhiều
thì ông dân số sinh chém mười tám tên gian thần.
Vua thì không nghe, ông không cãi, không oán,
chỉ lặng lẽ xin từ quan trở về quê nhà bên dòng sông tuyết,
dựng am bạch vân, ngày ngày dạy học đêm làm thơ.
Nhưng người tưởng đã rời khỏi chính trường ấy
lại chưa bao giờ thật sự rời khỏi vận mệnh của đất nước.
Bởi vì những người nắm giữ thiên hạ từng người một
lần lượt tìm đến cái am nhỏ ấy,
hãy nhìn vào ba lời nói của ông,
ba lời nói ngắn ngũi,
nhưng mỗi lời đã định đoạt số phận
của cả một dòng họ một vương triều.
Đời thứ nhất dành cho nhà Mạc cuối thế kỷ 16,
thế lực lê trịnh từ phía Nam đánh ra,
ngày càng mạnh.
Nhà Mạc lung lay thành thăng long sắp mất.
Vua Mạc sai người tìm đến hỏi kế trạng trình.
Ông chỉ để lại một câu,
cao bằng tuy thiểu, khải duyên số thế.
Đất cao bằng tuy nhỏ nhưng có thể kéo dài được mấy đời.
Quả nhiên khi mà thăng long thất thủ
thì dòng họ Mạc đã rút lên vùng cao bằng hiểm trở.
Ai cũng nghĩ đó là nơi chung thân,
vậy mà họ trụ lại ở đó thêm mấy đời nữa,
gần trăm năm trước khi hoàn toàn lùi tắt.
Ông không cứu được nhà Mạc,
nhưng ông chỉ cho họ con đường để không bị chết ngay.
Lời thứ hai dành cho một chàng trai bị truy sát.
Đó là Nguyễn Hoàng,
con trai của Nguyễn Kim,
người đã có công dựng lại nhà Lê năm 1545.
Nguyễn Kim bị đầu độc chết,
mọi bên quyền rơi vào tay người con rể là trịnh kiểm.
Người anh cả là Nguyễn Uông đã bị giết trước,
người em là Nguyễn Hoàng.
Hiểu rằng lưỡi gươm tiếp theo sẽ đến lượt mình.
Trong cơn nguy khốn ấy,
Nguyễn Hoàng đã sai người tìm đến An Bạch Vân.
Tương truyền rằng trạng trình không trả lời thẳng.
Ông chỉ đứng trước một hòn non bộ
nhìn những giải núi đá nhỏ xếp trồng lên nhau,
rồi sau đó ngâm một câu như nói với chính mình rằng,
Hoành Sơn nhất đái khả dĩ dung thân.
Một giải Hoành Sơn thì có thể dung thân được.
Hoành Sơn là giải đèo ngang,
bên kia là đất Thuận Hóa xa xôi càng cổi,
chẳng mấy ai muốn đến.
Và chính vì chẳng ai muốn đến đó,
nên là nơi an toàn nhất.
Nguyễn Hoàng nhờ người chị là Ngọc Bảo,
vợ của Trịnh Kiểm,
sinh với chồng cho em trai vào trấn thủ ở Thuận Hóa.
Trịnh Kiểm gật đầu,
mừng vì đẩy được cái gai đi xa.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng cùng với Gia Quyến
và những người đồng hương đã vượt đèo ngang vào Nam.
Trịnh Kiểm tưởng mình vừa đuổi được một người đi đến chỗ chết.
Ông ta không biết rằng,
mình vừa mở cửa cho 9 đời Chúa Nguyễn
và 13 đời Vua Nguyễn bước ra.
Từ vùng đất càng cổi năm xưa,
cơ nghiệp của họ Nguyễn mở dần về phương Nam,
kéo dài gần 400 năm cho đến tận năm 1945.
Về sau khi cơ nghiệp đã vững,
câu ấy được đổi thành
vạn đại dung thân,
chỗ đứng cho muôn đời.
Một câu nói bên họt non bộ 400 năm lịch sử.
Lời thứ ba là dành cho Trịnh Kiểm.
Năm 1556, Vua Lê Trung Tâm mất,
không có con nói giỏi Trịnh Kiểm lúc ấy
đã nắm hết binh quyền.
Vua Lê chỉ còn là cái bóng.
Ông ta muốn bỏ hẳn nhà Lê tự mình lên ngôi,
nhưng ông ta sợ cái bóng của Lê Lợi
vẫn còn quá lớn trong lòng dân.
Cướp ngôi lúc này khắp nơi sẽ nổi dậy.
Trịnh Kiểm sang người đến hỏi ý tràn trình.
Ông không bàn đến chuyện ngôi bóng.
Ông chỉ quay sang nói với đám gia nhân đang nằm vườn.
Nằm này mất mùa, thấp giống không tốt,
nên tìm giống cũ mà gieo.
Rồi ông nói thêm,
như vô tình giữ chùa thờ Phật thì được ăn oãn.
Suối giả về thuật lại,
Trịnh Kiểm ngẫm nghĩ hồi lâu rồi hiểu ra.
Cứ giữ ngôi vua cho họ Lê.
Cứ để vua Lê ngồi trên ngai
như pho tượng trong chùa.
Còn mình là người giữ chùa.
Mọi lễ vật, mọi quyền hành đều về tay mình cả.
Từ đó Việt Nam có một thể chế
chưa từng thấy trong lịch sử.
Có vua lại có chúa.
Vua ngồi ngai, chúa cầm quyền.
Cái thế Lê còn,
thì Trịnh còn ấy kéo dài hơn 200 năm.
Cho đến khi quân Tây Sơn của Nguyễn Nguệ
kéo ra bắt, quét sạch cả hai.
Ba lời nói, ba dòng họ, ba vận mệnh.
Ông chưa từng khuyên thẳng ai.
Ông nói nửa câu, mượn hòn non bộ,
mượn hạt thóc giống, mượn ngôi chùa.
Vân còn lại, người nghe từ hiểu,
từ chọn và từ chịu.
Có thể gọi đó là nghệ thuật nói nửa lời.
Người có duyên nghe ra con đường,
kẻ không có duyên thì chỉ nghe thấy.
Câu chuyện cây cỏ vườn tược.
Và có lẽ đó cũng chính là
chiếc chìa khóa để đọc toàn bộ
những câu sống mà ông để lại.
Nhưng Trạng Rình không chỉ đoán được
vận mệnh đất nước.
Dân gian còn lưu truyền những câu chuyện nhỏ hơn,
đời thường hơn, mà nghe xong
thì vẫn khiến người ta bật cười rồi lặng đi.
Và một ngày hè, bà Trạng đi chợ
mua về cho chồng một cây quạt giấy
thì ông cầm cây quạt nắm nghĩa một lúc.
Rồi lấy ngày giờ mua
mà lập cho nó một lá số.
Lá số cho biết cây quạt sẽ chết vào một ngày rất gần.
Ông tò mò một cây quạt chết
thì sao, trắc, mục hay thất nạc?
Ông treo nó lên đầu giường
đến đúng ngày ấy, ông ở nhà
canh cả ngày, chốc chốc lại phủn bụi cho nó.
Hôm đó thì người cháu
sang mời mấy lần, ông vẫn không đi.
Bà Trạng từ sáng đã ngứa mắt
khi thấy chồng cứ lăng xăng bên cây quạt.
Nay lại thấy con cháu mời
mãi không được, bà nổi giận.
Dập phát cây quạt xuống đất mà xé lát.
Tôi mua quạt về để dùng, chứ có phải
để ông thờ nó đâu.
Ông Trạng nhìn đóng giấy vụn dưới đất
đã phá lên cười.
Thì ra, nó chết là như thế này đây.
Nghe giống như một câu chuyện vui.
Nhưng chính cái việc mà ông canh
giữ cây quạt lại là nguyên nhân
khiến cho bà nổi giận và xé nó.
Muốn rắn số phận lại chính là
con đường dẫn đến số phận.
Nhưng mà những chuyện khiến cho hậu thế
rụng mình nhất, lại là những chuyện
xảy ra sau khi ông đã qua đời.
Năm 1585,
Tràng Trình phiên tịch họ
95 tuổi. Trước lúc nhắm mắt
thì ông dặn con cháu một điều rất là lạ.
Ông bảo mạch đất nơi mộ
ông sẽ đổi sau mấy chục năm.
Sẽ có một thầy địa lý từ phương Bắc sang
chê ông là thánh nhân mù mắt.
Khi ấy con cháu phải mời người đó
vào nhà tiếp đại thật tượng tế
và nhờ người đó sửa lại mộ cho ông.
Ông còn dặn đặt một tấm
mi đá nhỏ bọc vải đỏ,
chung trên nắp quan tài. Con cháu
ghi nhớ từng lời. Nhiều năm sau
quả là có một thầy phong thủy phương Bắc
tự vụ tìm đến muốn xem danh
trạng trình thật hay hư.
Đứng trước mộ trạng, ông ta nhìn thấy
đất một người rồi phá lên cười.
Huyệt rõ ràng nằm ở phía chân
thế mà lại đặt đầu vào chỗ ấy.
Tự đặt sai huyệt cho chính mình
thánh nhân gì mà mù mắt thế.
Con cháu ràng nghe đến 4 chữ ấy
không giận mà lại mừng rỡ.
Họ mời ông vào nhà đải đặng chú đáo
rồi nhờ sửa lại mộ. Ông thầy càng đắc ý.
Lúc đào lên người ta gặp tấm
bia bọc vải đỏ rửa sạch lớp đất.
Những dòng chữ hiện ra. Bây giờ
mạch ở đàn chân. 50 năm nữa
mạch lần lên đầu.
Những người thuật số đời sau.
Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ.
Ông thầy đọc đến đây
thì mồ hôi lạnh tú ra đến đó.
Người nằm dưới mộ đã chờ ông
đã biết ông sẽ đến. Đã biết ông nói
đúng câu ấy và đã viết sẵn câu trả lời
từ mấy chục năm trước.
Ông lặng nẻ sửa lại ngôi mộ với tất cả
lòng kính phục.
Câu chuyện thứ 2 thì còn kỳ lạ hơn.
Hơn 200 năm sau khi trạng trình mất
thì dưới triều vua Minh Mạng
có một vị quang nổi tiếng tài hoa
và cưng trực tên là Nguyễn Công Trứ.
Ông được giao việc khẩn hoang
đáp đê đào kênh mở đất cho dân.
Tương truyền thì
trên nội trình đào kênh có một ngôi đền thờ
trạng trình chán ngang.
Muốn kênh thẳng thì phải dở đền.
Nguyễn Công Trứ xin phép triều đình rồi cho lính dở.
Khi lính nhất chiếc bát hương
trên bàn thờ lên thì bên dưới
hiện ra một tấm bia bọc vải điều.
Người ta đem đến cho quang xem
trên đó có khác mấy dòng.
Minh Mạng thập tứ thằng Trứ phá đền.
Phá đền thì phải làm đền.
Ai ai đụng đến ganh điền nhà My.
Năm Minh Mạng thứ 14
tên Trứ việc phá đền
tất cả đều đã đúng.
Người ta kể rằng
Nguyễn Công Trứ đứng lặng rất lâu
rồi ông cho dựng lại ngôi đền tử tế
hơn cả lúc trước.
Chuyện đó thật đến đâu không ai kiểm chứng được cả.
Nhưng nó cho thấy
người Việt tin rằng
có những con người đứng ở chỗ
cao hơn về thời gian.
Thế nhưng không phải.
Lời tiên đoán nào của ông cũng mang đến điều tốt lành.
Ở chính làng Trung An quê ông
có một làng láng duyên tên là Vĩnh Lại.
Các làng quanh đó nhờ lời chỉ dạy
của nhà Trạng mà người đổ Trạng
ngày càng nhiều. Riêng Vĩnh Lại thì
chẳng ai làm nên quan tước gì.
Chân Vĩnh Lại xin lòng trách móc.
Ông Trạng là người trong vùng.
Sao chẳng ngó ngàn đến làng mình chứ?
Một ngày Trạng rình cho người
tạc một con ngựa đá đặt bên bờ sông
rồi để lại hai câu.
Bao giờ ngựa đá sang sông?
Thì làng Vĩnh Lại ra ông vào bạc.
Ngựa thật thì còn phải
cắn xước mới bơi qua được sông.
Ngựa đá thì sang sông bằng cách nào đây?
Người ta cười rồi quên đi.
Hơn 200 năm trôi qua
một trận lục lớn ập đến
nước cuồn cuồn đến mấy ngày đêm
và khi nước rút dòng sông đã đổi hướng.
Con sông xưa vốn chạy trước mặt
của con ngựa đá nay lại
chạy ra phía sau lưng nó.
Ngựa đá không hề nhút dít chút nào
nhưng nó đã sang sông.
Dân Vĩnh Lại đã mừng
như là mở hội và đúng thời gian ấy
quân Tây Sơn kéo bắt
thì vua Lê Chưu Thống bỏ kinh thành
chạy loạn lưu lạc đến tận vùng này.
Dân Vĩnh Lại tìm được vua
đón về phò tá. Nhà vua đang nút
cùng đường chẳng tiếc gì mấy chữ tước phòng.
Cả làng được ban chức tước.
Người này thành ông quan
người kia thành bà mệnh phụ.
Ra ông vào bà đúng đến từng chữ.
Dân làng được phong tước
liền chiêu mộ trai trắng lập thành
một đạo quân cần vương để vào
vua đánh giặc. Nhưng một đội quân
ô hợp của nông dân thì làm sao
có thể chống nổi đạo quân bắt chiến
bắt thắng của nhà Tây Sơn.
Chỉ một trận đạo quân ấy đã tan tác
làng mĩnh lại máu chạy thàm dòng
người chết vô số gần như bị
xóa sổ. Lời sống đã
ứng nghiệm nhưng mà người ta chỉ
đọc được nửa đầu. Nửa sau
cái giá phải trả cho những tước vị ấy
thì không ai nhìn thấy cả.
Điều đáng sợ nhất của xấm ký không phải
vì nó sai mà vì nó đúng
theo cách mà không ai ngờ tới.
Thời gian rơi đến cuối thế kỷ 19
đất nước rơi vào tay thực dân Pháp
ở xã Cổ An thuộc vùng Vĩnh Bảo
của Hải Phòng ngày nay. Có một
nhà sư tên là Vũ Quốc Chính đứng
lên tập hợp dân chúng phát động phong
trào chống Pháp. Trước đó thì
trong dân gian đã lan truyền một câu
xấm của Trạng Rình. Thầy Tăng mở
nước trời không cho.
Đọc theo nghĩa đen câu ấy như một lời can
Người đã xuất gia tu Phật mà còn
mưu chuyện bá vương thì trời không giúp
và quả thật cuộc khởi nghĩa
của nhà sư nhanh chóng đã bị dập tắt.
Thay nhưng các nhà nho thầy ấy
lại đọc ra một tờ nghĩa khác.
Họ cho rằng thầy Tăng là trạng nói lái
nói kính để chỉ thằng Tây.
Kẻ ngoại bang đang đến cướp nước
đô hộ dân lành thì trời sẽ không dung thà.
Một câu xấm hai cách
đọc mỗi cách là phản chiếu
nỗi lòng của người đọc lên nó.
Chính quyền thực dân thì sợ sống trạng
đến mức lùng bắt những ai lưu truyền
truyền chép. Nhưng họ không bắt được
những câu lục bác đã nằm lòng
trong trí nhớ của dân gian.
Năm 1930 sau cuộc khởi nghĩa
yên bái của Việt Nam, quốc dân Đảng
thất bại. Quân Pháp mở
cuộc đàn áp đậm máu khắp các vùng
có liên quan. Làng Cổ Am đã bị
máy bay ném bom. Nhà cửa thì
cháy rụi. Nhiều người thiệt mạng.
Báo phụ nữ từng phân khi ấy đặt một câu hỏi
dài dứt. Liệu ông Trạng có biết trước
ngày này của Cổ Am không? Ít lâu
sau tờ báo đăng một bài thơ được
truyền vào xấm của nhà Trạng. Nói chuyện
cửa nhà than thác, ruộng nư hoá
vũng lầy. Có cả những địa danh như
là Kiến An Vĩnh Bảo.
Như thế người Việt đã đứng giữa đống
cho tạng năm 1930 mà ghi lại.
Rồi một câu chuyện nữa
được người làng kể lại. Bòng Pháp
làm đổ cả miếu thờ Trạng.
Mấy tuần sau thì dân làng ra dọn dẹp
sửa sang thì phát hiện trong đống đổ nát
có một tấm bia nhỏ khắc ba
hàng chữ Hán. Canh niên tân phá
tuốt hợi, phục sinh, nhị ngủ
dư bình. Canh năm bị phá
đến tuốt hợi thì hồi sinh
hai năm thì còn lại sự bình yên
năm 1930 chính là năm canh ngọ
câu đầu tiên người ta đã hiểu ngay
còn hai câu sau tuốt hợi
phục sinh và nhị ngủ dư bình
thì cho đến hôm nay vẫn chưa ai
giải cho trọn. Nó vẫn là một câu đố
treo lơ lửng giữa trời.
Đây có lẽ cần dừng lại một chút bởi vì
có một sự thật mà người yêu sấm trạng trình
ít khi muốn nói đó là phần lớn
những câu sấm lưu truyền ngày nay
chúng ta không thể biết chắc
câu nào là do chính tay ông viết
câu nào là do người đời thêm vào sau
Sấm được chép tay
truyền miệng qua 400 năm
mỗi thời đại, mỗi biến cố lại có người viết thêm
sửa lại, cắn thêm ông vào
để lệnh mình có thêm sức nặng
Có những các dạy sấm lại bị uống
theo ý đồ của kẻ cầm quyền
biến lời tiên tri thành công cụ
Người đọc tỉnh táo vì thế cần phân biệt
được những câu nào được ghi chép từ rất sớm
Như Hoàng Sơn nhắc đái với những câu
chỉ xuất hiện muộn, đúng vào lúc
có người cần dùng đến chúng
Nhưng điều đó không làm cho trạng trình nhỏ đi
Năm 1743 Vũ Khâm Lơn
đã chép rằng trạng trình
thông kinh dịch, việc mưa nắng
lục hạn, hỏa phúc, thành suy, việc gì
cũng biết trước. Vậy rút cuộc
nên đọc sấm trạng như thế nào đây?
Hãy quay lại với những câu đã mở đầu
con chuyện hôm nay nhé.
Kể từ thình tị mà đi, trồng thờ chết lục
rắn thờ chết khô.
Trong lý học vương đông mà trạng trình
tinh thông, thình thì thuộc thổ
nhưng là kho chứ nước. Gắn với rồng
và mưa lớn tị thuộc hỏa
gắn với nắng nóng và sự khô hạn.
Hai năm nối nhau một năm thừa nước
một năm thiếu nước. Đó vốn là
nhiệt mất cân bằng của trời đất
mà người xưa đã quan sát được
qua bao đời. Cho nên
câu sấm có thể không chỉ nói về
một năm cụ thể nào. Nó đang
chỉ nói về một quy luật. Rằng
mỗi khi vòng trời đất rơi vào thế cực đoan
con người sẽ phải trả giá
không chỉ bằng nhà cửa, ruộng vườn
mà bằng cả sự bình an trong lòng.
Đến năm dê mọc hai sừng
càng thêm khiết luận chua cay.
Con dê thì vốn hiền nhưng khi nó
mọc sừng thì nó bắt đầu hút. Hai cái
sừng, hai phía, hai phe. Những lời
tranh luận chua cay, những cuộc cãi vã
không hồi kết giữa người với người.
Giữa quốc gia này với quốc gia khác.
Giữa phe ma quỷ và phe chính nghĩa.
Nhìn thế giới hôm nay
nơi mà ai cũng có thể buôn những
lời chua cay với bất kỳ ai chỉ trong một giây
mà không hề nghĩ đến chuyện tổn đức.
Phạm kỵ bề trên
có lẽ chẳng cần đợi đến năm mùi
mới thấy dê mọc hai sừng. Nhìn
trận đồ của thế giới ngày nay mà xem đi.
Tính ngưỡng vào thần Phật thì bị
chà đạp. Chú nghĩa vô thần
thì lên ngôi. Lễ, phải và đạo đức
bị xem là ngu xuẩn. Người
lương thiện bị coi là kẻ ngu, bị mắng
là người khùng. Hơn 100 triệu
người tu luyện Pháp Luân Công
tại Trung Quốc đã bị đàn áp, mổ cướp
nội tạng sống từ năm 1999 cho đến nay
mà cả thế giới im lặng. Người thiên
chúa giáo ở châu Phi bị sát hại hàng
loạt mà không mấy người quan tâm.
Các quyền dân chủ, con người
bị các chính quyền độc tài ở Trung Quốc,
Iran hay là Triều Tiên
chà đạp một cách tàn khốc mà
không ai bảo vệ. Có chăng
khi phe chính nghĩa đại diện là ông Donald Trump
đang một mình vật lộn chống lại
kẻ cánh tả hủ bại của nước Mỹ hiện nay
đồng thời ngăn cản sự bành trướng
của chính quyền Trung Quốc và các
đồng minh của họ thì bị cả thế giới
truyền thông lẫn công chống đổ xô
chỉ trích, hóa mà ông.
Trạng trình đã cảnh báo rằng
mã đề dương cướp, anh hùng tận
thân dậu niên lai kiến Thái Bình.
Câu sấm này đã được đem ra
dải qua không biết là bao nhiêu
vòng ngọ mùi thân dậu
và nó vẫn nằm đó, kiên nhẫn
chờ vòng tuần hoàng tiếp theo.
Tại sao mã đề dương cướp
thì anh hùng lại tận?
Có lẽ đó là lời tiên tri cho
trận chiến cuối cùng, trận chiến
của Ngày Tận Thế để mọi sự trên đời
cả thiện và ác cả chính và tà sẽ đều
chấm dứt. Nhưng điều quý nhất
trong câu ấy lại không nằm ở chữ anh hùng
tận mà nằm ở bốn chữ
kiến Thái Bình. Sao tàn lụi
là Thái Bình? Sao mất mát là sự
hồi sinh? Ngày nay cuộc chiến
giữa chính và tà, giữa ánh sáng
và bóng tối, giữa thức tỉnh hay
u mê đã diễn ra rồi và ngày càng
khốc liệt. Vì thế, thời gian
không còn nhiều đâu quý vị ơi.
Hãy mau hồi tâm hướng thiện, tu hành
hiểu pháp, phân biệt thiện ác
đúng sai để sẵn sàng cho mọi biến cố
trong ngày đại phán xét.
Người xưa không viết tấm để dọa người đời
sau. Họ viết để nhắc rằng mọi cơn
bão rồi sẽ đi qua. Mọi vòng quay
rồi sẽ trở về thế cân bằng. Nhìn lại
cả cuộc đời của Trạng Trình có
một nghịch lý thật là đẹp. Ông là
người được tính toán để sinh ra làm vua
nhưng lại không làm vua.
Ông là người nhìn thấu thời thế hơn
ai hết. Nhưng ông lại chọn rời
khỏi triều đình. Về ngồi dạy học
trong một cái am nhỏ, ông giúp tất cả
nhưng không thuộc về ai cả.
Có lẽ chính vì đứng ngoài mọi ven phái
nên ông mới nhìn thấy toàn bộ
bàn cờ. Và có lẽ đó cũng là
bài học lớn nhất ông để lại, lớn hơn
mọi câu sấm. Người muốn
hiểu thiên cơ trước hết thì phải
giữ lòng mình đứng yên giữa bão.
Không bị lòng tham kéo đi như
dân nàng vĩnh lại. Không bị
sợ hãi mà ôm chặt lấy số phận
như người canh giữ cây quạt.
Sấm trạng không phải là tấm bản đồ
chỉ cho ta biết ngày mai sẽ ra sao.
Nó giống như là một tấm ngương hân.
Thời nào xoay thời nào thời ấy thấy mình.
Người hiện xoay vào thấy lời cảnh tĩnh.
Kẻ tham xoay vào thấy cơ hội.
Kẻ cầm quyền xoay vào lại thấy muốn
bẻ cong nó theo hình dáng của chính mình.
Những câu sấm vẫn đang
chờ. Chờ những người đủ tỉnh lặng
để đọc chúng, không phải bằng nỗi
sợ hãi mà bằng một trái tim biết hướng thiện.
Bởi vì nếu có một điều
mà ông Trạng muốn nói với Hậu Thế
qua tất cả những câu chữ bí ẩn ấy
có lẽ đó là điều này.
Thiên cơ thì không ai đổi được
nhưng lòng người thì có thể.
Cảm ơn quý vị đã lắng nghe Ngọc Vi
chia sẻ. Mọi người có suy nghĩ
như thế nào về chủ đề hôm nay
đừng quên để lại ý kiến trong bình luận.
Còn bây giờ Ngọc Vi
xin chào tạm biệt. Hẹn gặp lại
quý vị trong các số kì sau.