Có 1 Cách Bố Thí Phước Rất Lớn Mà Ít Ai Biết - Đức Đalai Lama khai thị
130 Lượt xem video·7 thg 10, 2026
Có 1 Cách Bố Thí Phước Rất Lớn Mà Ít Ai Biết - Đức Đalai Lama khai thị
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIBài giảng nhấn mạnh tầm quan trọng của tâm Bồ Đề và lòng bi mẫn trong tu tập. Tác giả khẳng định giá trị của việc thiện nằm ở tâm thế thương xót chúng sinh thay vì vật chất hay danh tiếng. Bằng cách chuyển dịch tâm điểm từ cái tôi cá nhân sang lợi ích của người khác, hành giả không chỉ đạt được bình an, sức khỏe mà còn tìm thấy con đường giải thoát đích thực cho chính mình.
Một bậc thầy xưa viết,
Nhờ hiểu biết nên không trụ trong luân hồi,
Nhờ lòng thương nên không trụ trong an lạc riêng.
Người chỉ lo tự giải thoát thì cũng tránh được giật bên trái,
Nhưng họ ngồi xuống ở bờ bên phải.
Cái mà con đường lớn phải tránh bằng được
Chính là cái bờ bên phải ấy,
Cái bờ trong rất êm,
Rất dễ ngồi.
Rồi luận nói tới cái liềm,
Luận bảo,
Nếu cái tâm quý báo ấy chưa thực sự nảy sinh trong mình,
Thì dù mình cố gắng làm việc lành bao lâu,
Cũng chẳng gặp được bao nhiêu,
Như người cắt cỏ bằng một cái liềm cùng.
Quý vị ai từng làm ruộng đều hiểu,
Liềm cùng thì cắt cả bụi,
Mồ hôi ướt áo,
Mà đống cỏ vẫn nhỏ,
Tay thì phồng rột,
Liềm bén thì một nhát một nắm,
Việc lành cũng vậy.
Cùng một việc,
Cùng một số tiền bố thí,
Cùng một buổi tụng kinh,
Mà cái tâm phía sau khác nhau thì kết quả khác nhau một trời một dực.
Luận đưa hai ví dụ đứng cạnh nhau mà tôi thấy vô cùng thấm.
Ví dụ thứ nhất,
Một người đã có tâm Bồ Đề Thật,
Thì chỉ ném một mẫu bánh nhỏ cho con quả,
Việc ấy đã là việc của một vị Bồ Tát.
Ví dụ thứ hai,
Một người không có tâm ấy,
Thì dù cũng dường cả một vũ trụ mênh mông đầy châu báo,
Việc ấy cũng không phải việc của Bồ Tát.
Cùng cái tay cho,
Mà bên là mẫu bánh,
Bên là vũ trụ châu báo,
Mẫu bánh lại nặng hơn,
Vì cái nặng nằm ở tâm,
Không nằm ở vật.
Luận còn đi xa hơn,
Luận nói không chỉ bố thí,
Mà cả sáu hành hoàn thiện,
Cả những pháp tu cao như quán tưởng chưa tôn,
Tu các kinh mạch khí lực,
Nếu thiếu cái tâm này thì cũng không được tính là hạnh Bồ Tát,
Nghĩa là mình có thể tu những pháp rất cao,
Rất quyền,
Ngồi rất lâu,
Mà nếu tâm nền thiếu,
Thì tất cả đều là liềm cùng.
Tôi nói điều này để những gì hay chạy theo pháp cao,
Pháp lạ,
Pháp bí mật,
Nhìn lại,
Đừng hỏi pháp nào cao,
Hãy hỏi tâm mình đã đủ nền chưa?
Bây giờ tôi nói về lợi ích,
Vì con người mình phàm,
Phải thấy lợi mới chịu làm,
Lợi thứ nhất là tức thị,
Hôm qua tôi đã nói,
Cái ý muốn làm lợi cho người,
Ngay khi nó khởi lên,
Thì lòng mình đã yên,
Không cần đợi kiếp sau,
Ngay lúc mình thật lòng mong cho một người nào đó bớt khổ,
Trong ngực mình có một cái gì giãn ra,
Một cái gì dẫn lại,
Người có ý muốn ấy trong lòng thì bước ra đường tự nhiên có một sức mạnh,
Không sợ ai,
Không phải phòng thủ ai,
Vì mình không định hại ai thì mình không phải đề phòng bị trả thù,
Ngài Tịch Thiên có một lời nguyện mà tôi đọc mỗi ngày,
Đại ý,
Chừng nào không gian còn,
Chừng nào chúng sinh còn,
Nguyện tôi còn ở lại để xua tan khổ đau cho họ,
Mỗi lần đọc câu ấy,
Tôi thấy một luồng sức mạnh chảy vào tay chân,
Không biết từ đâu,
Cái sức mạnh ấy là lợi ích đầu tiên,
Và nó có ngay,
Có liền,
Lợi thứ hai là thân thể,
Kinh xưa nói tâm Bồ Đề là thuốc chữa mọi bệnh,
Là phương pháp kéo dài tuổi thọ,
Ngày xưa nghe câu ấy người ta tưởng là lối nói qua Mỹ,
Bây giờ thì các thầy thuốc đã nói y như vậy bằng ngôn ngữ của họ,
Họ bảo,
Một người mà trong lòng thường xuyên có ý muốn giúp người,
Thường suy nghĩ về người khác với lòng tốt,
Thì hệ đề kháng của người ấy mạnh hơn,
Chống bệnh tốt hơn,
Ngược lại,
Một người mà lòng thường xuyên có thù ghét,
Ganh tị,
Tính chuyện hơn thua với người này người kia,
Thì đề kháng yếu đi,
Dễ bệnh,
Bệnh lâu khỏi,
Cái này không phải Kinh nói,
Đây là người mặc áo trắng cầm ống nghe nói,
Nên nếu ai đó muốn kéo dài tuổi thọ,
Thay gì đi tìm nghi lễ,
Tìm bùa,
Tìm thuốc,
Thì thứ hiệu nghiệm nhất và rẻ nhất là hãy thay cái tâm mình từ hại người sang giúp người,
Không phải nghi lễ vô ích,
Làm cũng có chút phước,
Nhưng nghi lễ có mà tâm không đổi,
Thì như đắp thuốc lên da mà bệnh nằm trong xương,
Lợi thứ ba là lúc chết,
Người ta thường sợ lúc chết,
Lo tìm người tụng cho,
Lo làm lễ cho,
Lo cầu cho được kiếp sao tốt,
Tôi không chê những việc ấy,
Nhưng nếu trong lòng mình đã có sẵn cái tâm muốn lợi cho người,
Dù chưa phải tâm bồ đề trọn dẹn,
Chỉ là cái ý hướng thôi,
Thì tự cái ý hướng ấy đã là tấm vé cho kiếp sao,
Không cần sinh ai,
Người cả đời gieo hạt lành thì lúc nhắm mắt,
Mảnh ruộng mình đã có sẵn mầm,
Không cần người khác gieo hộ,
Ở đây tôi kể một chuyện để quý vị thấy cái tâm này nó thay đổi hành di thế nào,
Người mình có một câu nói cửa miệng,
Khi ai giận ai lắm,
Họ nói, tôi là người tu đấy,
Chứ không thì tôi cho nó biết tay,
Tôi nghe câu ấy nhiều lần,
Nghe thì có vẻ là người biết giữa giới,
Nhưng quý vị nghĩ kỹ xem,
Câu ấy nói lên cái gì,
Nó nói rằng người ấy không đánh không phải vì thương người kia,
Mà chỉ vì mình mang cái danh người tu,
Sợ mất danh,
Trong lòng người ấy,
Mạng sống của người kia không có giá trị,
Chỉ có cái danh của mình là có giá trị,
Nó là tâm tự coi mình là trung tâm,
Chỉ khoác bên ngoài một lớp áo giới luật,
Còn người có tâm thương,
Họ không đánh vì trong mắt họ mạng người kia quý y như mạng mình,
Thậm chí quý hơn,
Người ta không thể làm hại một thứ mà mình thấy quý,
Hai người cùng không đánh,
Bên ngoài giống hệt,
Mà bên trong thì một bên là liềm cùng,
Một bên là liềm bén,
Không sát hại,
Không nói dối,
Không nói lời đọc,
Không lấy của người,
Tất cả các giới ấy,
Nếu giữ bằng lòng thương thì mỗi giới là một viên kim cương,
Còn giữ bằng nỗi sợ mất mặt thì mỗi giới chỉ là một tờ giấy,
Tới đây thường có người hỏi,
Thưa Thầy, dạy coi người khác quý hơn mình,
Thế thì mình bỏ mình à?
Mình không lo cho mình nữa à?
Tôi phải nói rõ chỗ này,
Vì nhiều người mới học hiểu sai,
Tâm Bồ Đề không hề dạy mình bỏ mình,
Ngược lại,
Muốn thương người thì trước hết phải biết thương mình,
Người không thương nỗi chính mình thì không có cái dốn để thương ai,
Vấn đề chỉ là thương mình cách nào,
Có cách thương mình dạy,
Và có cách thương mình khôn,
Thương mình dạy là nghĩ mình là quan trọng nhất,
Dung vào cho mình,
Kệ mọi người,
Cách ấy dạy,
Vì nó không thấy một sự thật rất giảng dị,
Rằng hạnh phúc của mình sinh ra từ người khác,
Cơm mình ăn có người cấy,
Áo mình mặc có người dợt,
Nhà mình ở có người xây,
Cái thân người quý báu này mình có được cũng nhờ do số nhân duyên với người khác,
Kiếp sao tốt hay xấu cũng do mình đối với người khác thế nào,
Cả sự giải thoát cuối cùng cũng nhờ vào chúng sinh,
Vì không có chúng sinh thì lấy ai để thực hành lòng thương,
Nên Phật quả sinh ra từ chúng sinh,
Ngài Tịch Thiên nói,
Chúng sinh và chư Phật đều là nguồn của mọi thiện lành,
Sao mình kính chư Phật mà không kính chúng sinh,
Thương mình khôn là hiểu điều ấy,
Rồi lo cho người khác vì biết rằng lo cho người là cách lo cho mình chắc chắn nhất,
Tôi hay nói,
Bồ Tát là những người khôn nhất trên đời,
Họ giúp tất cả,
Và cuối cùng người được lợi nhất là chính họ,
Không phải chỉ lợi cho người mà mình thiệt,
Nghĩ như thế là hoàn toàn sai,
Kim cương,
Nhớ không,
Sáng cho người nhìn,
Mà chính duyên kim cương cũng là thứ sáng nhất,
Vậy cái tâm ấy mọc lên từ đâu?
Luận kể bốn duyên,
Bốn nhân,
Bốn sức,
Tôi nói gọn,
Quý vị chỉ cần nhớ cái ý,
Bốn duyên là bốn hoàn cảnh khiến cái tâm khởi lên,
Một là tự mình thấy hoặc nghe kể về năng lực không thể tưởng của chư Phật,
Rồi nghĩ,
Cái giác ngộ mà các ngài đang ở trong đó mạnh biết bao,
Mình cũng muốn tới,
Hai là nghe thầy giảng về phẩm chất của một dị Phật,
Sinh lòng tin,
Rồi tự tin sinh ra muốn,
Ba là nghe kinh,
Thấy con đường ấy rộng lớn,
Khởi lòng ngưỡng mộ,
Bốn là điều mà tôi muốn nói nhiều hơn,
Ấy là nhìn vào thời mình đang sống,
Luận viết từ mấy trăm năm trước mà như viết cho hôm nay,
Luận nói,
Trong thời buổi mà Ngô Si,
Vô liêm sỉ,
Ganh tị,
Keo kiệt tràn lan,
Trong thời buổi mà ngay cả cái tâm nhỏ chỉ lo tự giải thoát cũng khó khởi,
Thì người có mắt nhìn thấy giáo Pháp đang có nguy cơ tàn lụi,
Và không chịu nổi ý nghĩ ấy,
Từ chỗ không chịu nổi ấy mà khởi lên cái tâm muốn thành Phật để giữ ngọn lửa,
Quý vị thử nhìn ra ngoài cửa sổ mà xem,
Có phải cái thời này đúng như luận tả không?
Người ta hằng học nhau trên từng dòng chữ,
Ganh nhau từng chút,
Xấu hổ thì không còn,
Mà tự hào về những cái đáng xấu hổ thì nhiều,
Tất cả những rắc rối trên đời này,
Từ trong nhà ra tới cả thế giới,
Đều từ một nguồn mà ra,
Ấy là những cảm xúc phiền não không được thuần quá,
Người ta để cho giận giận,
Để cho tham giận,
Để cho ganh giận,
Và kết quả là những gì mình thấy trên tin tức mỗi ngày,
Nhìn thấy như vậy mà lòng mình nhói lên,
Không chịu nổi,
Thì cái nhói ấy chính là một hạt kim cương đang muốn mọc,
Bốn nhân thì là dòng giống lành,
Thầy dẫn dắt,
Lòng thương chúng sinh,
Và không nản trước những gian khổ của luân hồi,
Còn bốn sức thì có một điểm tôi muốn nhấn,
Luận phân biệt cái tâm khởi lên từ sức mình,
Tức là tự mình thấy,
Tự mình muốn,
Giữa cái tâm khởi lên từ sức người khác,
Tức là thấy người ta làm thì làm theo,
Thầy bảo phát nguyện thì phát nguyện,
Luận nói thẳng,
Cái tâm khởi từ sức mình và từ nhân duyên sâu thì dữ,
Còn cái tâm khởi từ sức người và từ thói quen bề ngoài thì không dữ,
Nghĩa là,
Nếu mình chỉ lặp lại lòng từ bi vì đó là chữ trong kinh,
Vì mọi người quanh mình đều nói vậy,
Vì tới chùa thì phải tụng câu ấy,
Thì đó là một thứ từ bi mượn,
Gió thổi là bay,
Từ bi thật phải do chính mình nhìn,
Chính mình xét,
Chính mình thấy là đúng,
Rồi mới khởi,
Tin theo đám đông thì dễ,
Mà cái dễ ấy không giữ được mình qua cơn bão nào,
Đến đây tôi lên tầng thứ hai,
Tầng nói về cái gốc,
Kim cương thật thì không mọc từ gốc,
Nhưng kim cương của chúng ta hôm nay là kim cương của tâm,
Nên nó có gốc,
Gốc ấy là lòng bi,
Luận nói lòng bi quan trọng ở ba chỗ,
Ở đầu,
Ở giữa,
Và ở cuối,
Ở đầu,
Vì chỉ khi lòng bi đủ mạnh,
Mình mới dám nhận cái trách nhiệm đưa tất cả chúng sinh thoát khổ,
Lòng bi yếu thì mình sẽ không dám nhận,
Mà không nhận thì chưa phải là người của con đường lớn,
Ở giữa,
Vì khi mình đã bước lên đường rồi,
Mình sẽ thấy chúng sinh thì vô số,
Tính tình thì bướng bỉnh,
Thời gian thì dài không tính được,
Việc phải làm thì khó không kể xiết,
Người bình thường tới đây sẽ nản,
Sẽ muốn bỏ về bờ bên phải,
Ngồi yên một mình,
Chỉ có lòng bi càng ngày càng được nuôi lớn mới giữ được mình không nản,
Ở cuối,
Vì ngay cả khi đã thành Phật rồi,
Chỉ có lòng bi mới khiến các ngài không nghỉ ngơi trong an lạp,
Mà tiếp tục ở lại lo cho chúng sinh chừng nào luân hồi còn,
Không có lòng bi thì Phật chẳng khác gì một người tự giải thoát,
Xong việc là nghỉ,
Ngài Nguyệt xứng dí ba chỗ ấy như một mùa lúa,
Đầu mùa cần hạt giống,
Giữa mùa cần nước,
Cuối mùa cần cái chính,
Lòng bi là hạt giống,
Là nước,
Và là cái chính,
Nên Ngài Nguyệt xứng mở đầu bộ luận lớn của mình không bằng lời kính Phật,
Mà bằng lời kính lòng bi,
Có một bộ kinh kể một chuyện mà tôi rất thích,
Kinh nói,
Bồ Tát không cần học nhiều Pháp,
Nếu Bồ Tát nắm được một Pháp thôi,
Thì tất cả Pháp của chư Phật đã nằm trong lòng bàn tay,
Pháp ấy là gì?
Là Đại Bi,
Kinh dí như bánh xe báo của một dị dưa chuyển luôn,
Thế bánh xe ấy ở đâu thì cả đoàn quân ở đó,
Kinh lại dí như mạng sống,
Thế mạng sống còn thì mắt tay mũi lưỡi đều còn,
Đại Bi ở đâu thì mọi phẩm chất của Phật đều mọc quanh đó,
Nên cái người hay hỏi tôi,
Thưa Thầy,
Thầy dạy nhiều Pháp quá,
Con nhớ không hết,
Cho con một Pháp thôi,
Thì tôi nói,
Được, tôi cho một Pháp,
Tên đó là lòng bi,
Học được cái đó rồi thì những cái khác tự tới,
Có một chuyện kể về Ngài Adesha,
Vì Thầy đem con đường này lên sứa tuyết,
Một học trò của Ngài đi hỏi một người bạn đồng môn rằng đã nhận được lời dạy gì từ Thầy,
Người bạn ấy trả lời,
Thầy chẳng nói gì ngoài hai câu,
Buông thế gian đi,
Và nuôi tâm Bồ Đề,
Người học trò nghe xong thấy tội nghiệp cho bạn,
Tưởng bạn không được Thầy dạy gì sâu,
Về hỏi lại một dị đàn anh,
Dị ấy nói,
Bạn anh đã nhận được lời dạy tột cùng của Thầy rồi đấy,
Còn muốn gì nữa?
Nghĩa là cái mà mình tưởng là sơ đẳng,
Cái mà mình muốn dượt qua cho nhanh để tới Pháp cao,
Lại chính là cái cao nhất,
Ngài Adesha còn có một câu mà tôi thấy vừa buồn cười vừa đau,
Ngài nói,
Ở xứ này tôi gặp những dị tự nhận là Bồ Tát mà không biết tập lòng từ Bi,
Người ta hỏi,
Vậy Bồ Tát phải tập thế nào?
Ngài nói,
Tập từ đầu,
Từng bước một,
Tức là không có đường tắt,
Con đường từng bước ấy,
Dòng truyền thừa của Ngài Adesha gọi là bảy nhân quả,
Tôi nói ngược từ quả về nhân cho dễ nhớ,
Phật quả sinh từ tâm Bồ Đề,
Tâm Bồ Đề sinh từ tâm Tăng Thượng,
Tức là cái quyết tâm tự mình gánh lấy,
Tâm Tăng Thượng sinh từ lòng Bi,
Lòng Bi sinh từ lòng từ,
Lòng từ sinh từ ý muốn đền ơn,
Ý muốn đền ơn sinh từ việc nhớ ơn,
Và nhớ ơn sinh từ việc nhận ra tất cả chúng sinh đều từng là mẹ của mình,
Bảy bật,
Bật dưới đỡ bật trên,
Quý vị thấy điểm xuất phát là gì?
Là mẹ,
Là người gần mình nhất,
Con đường tới lòng thương cả vũ trụ bắt đầu từ lòng thương một người,
Và người ấy là mẹ,
Nhưng trước khi bước lên bật thứ nhất,
Luận nói phải làm một việc chuẩn bị,
Là sang bằng cái tâm,
Tôi giải thích tại sao,
Hiện giờ lòng mình chia người đời ra ba loại,
Loại thứ nhất là người thân,
Thể họ khổ là mình không chịu được,
Loại thứ hai là kẻ mình ghét,
Thể họ khổ là mình thấy hã,
Có khi còn mong họ khổ thêm,
Loại thứ ba là người dân,
Thể họ khổ thì mình dững dưng,
Không mừng không lo,
Tâm chia ba như thế thì lòng vi không thể lớn được,
Vì nó chỉ chảy về một hướng,
Hai hướng kia bị chặn,
Nên phải sang bằng,
Cách sang là tập với người dân trước,
Tập nhìn họ không thương không ghét,
Thấy đó là dễ,
Rồi tập với người thân,
Hạ bớt cái bám,
Rồi mới tập với người mình ghét,
Hạ bớt cái đẩy,
Tại sao lại sang được,
Vì hai lý,
Lý thứ nhất,
Từ phía họ mà nhìn,
Thì ai cũng muốn vui,
Ai cũng sợ khổ,
Y như nhau,
Không ai hơn ai ở điểm ấy,
Lý thứ hai,
Từ phía mình mà nhìn,
Thì trong vô số kiếp,
Không ai chưa từng là thân của mình,
Và người thân hôm nay có thể thành người ghét ngày mai,
Người ghét hôm nay từng là người thân hôm qua,
Có một bộ kinh nói một câu rất mạnh,
Đại ý,
Kiếp trước tôi từng giết các người,
Các người từng chém tôi,
Chúng ta từng là kẻ thù của nhau,
Sao giờ lại bám vào nhau,
Nghe thì lãnh gáy,
Nhưng mục đích chỉ để mình bớt bám,
Bớt ghét,
Thấy cái dạch chia bạn thù là do mình vẽ,
Và mình vẽ được thì mình xóa được,
Xin nhớ,
Cái cần xóa không phải là biết ai là bạn,
Ai là thù,
Cái đó vẫn biết,
Cái cần xóa là cái tâm nghiêng,
Cái tâm bám bên này và đẩy bên kia,
Tới chỗ người mình ghét,
Tôi muốn nói kỹ một chút,
Vì đây là chỗ khó nhất,
Và cũng là chỗ có lợi nhất,
Người ta hay hỏi tôi,
Thầy dạy nhẫn,
Nhưng nhẫn với ai?
Thưa,
Nhẫn không phải để dùng với thầy mình,
Với cha mẹ mình,
Với người thương mình,
Với những người ấy có gì mà phải nhẫn?
Nhẫn là để dùng với người làm mình giận,
Người chống mình,
Người hại mình,
Chỉ có họ mới cho mình cơ hội tập nhẫn,
Cho nên,
Xét cho cùng,
Kẻ thù là người thầy dạy nhẫn duy nhất mình có,
Người nào muốn tu hạnh nhẫn mà không có kẻ thù,
Thì như người muốn tập bơi mà không có nước,
Nhìn theo cách ấy,
Kẻ thù không phải là kẻ hại mình,
Mà là người giúp mình nhiều nhất,
Và mình phải mang ơn,
Nhưng nhẫn không phải là chịu thua,
Nhiều người tưởng nhẫn là ai đánh cũng đưa má,
Ai lấy cũng để lấy,
Ai nói xấu cũng cuối đầu,
Không phải,
Cái cần làm là phân biệt hành di với người làm ra hành di,
Hành di xấu thì phải ngăn,
Phải chặn,
Có cách thì phải dùng,
Không để nó tiếp tục gây hại,
Còn người làm ra hành di ấy thì mình thấy họ là kẻ đang bị phiền não sai khiến,
Đáng thương hơn đáng ghét,
Vì rốt cuộc người gánh hậu quả nặng nhất của một việc ác là chính người làm ra nó,
Chữ dận trong ngôn ngữ xưa gợi ý rằng sự thù địch như từ người kia tỏa ra,
Có sẵn ở họ,
Nhưng thực ra cái vẻ thù địch ấy phần lớn do tâm mình dựng lên,
Cùng một người,
Hôn mình vui thì thấy họ thường,
Hôn mình bực thì thấy họ xấu xa,
Người kia chưa đổi,
Tâm mình đổi,
Cho nên ngăn hành di,
Mà không ghét người,
Đó là nhẫn thật,
Còn có những bậc thầy cao dùng được cả cơn giận vào diệt lành,
Nhưng đó là chuyện của những người đã đi rất xa,
Chúng ta chưa nói tới,
Bây giờ tôi nói về hai loại lòng thương,
Để quý vị hiểu tại sao con đường này phải bắt đầu từ mẹ nhưng không được dừng ở mẹ,
Có một loại lòng thương có sẵn trong thân,
Không cần ai dạy,
Con chim mẹ thương chim con,
Chim con quấn mẹ,
Con chó mẹ liếm con nó,
Không ai giảng đạo cho chúng cả,
Cái thương ấy sinh ra từ nhu cầu sống còn,
Vì con non không có mẹ thì chết,
Nên thân thể của mẹ tự sinh ra lòng thương như tự sinh ra sữa,
Con người cũng vậy,
Đứa bé sinh ra hoàn toàn bất lực,
Phải nhờ mẹ nhiều năm trời,
Nên trong người mẹ có sẵn cái thương ấy,
Và trong đứa bé có sẵn cái quấn mẹ ấy,
Tôi hay đưa ví dụ về rùa biển,
Rùa mẹ lên bãi các đẻ trứng rồi bò về biển,
Không bao giờ gặp lại con,
Rùa con nở ra tự bò xuống nước, tự sống,
Nếu ta bắt rùa mẹ và rùa con nhốt chung một chỗ,
Chúng không hề biết thương nhau,
Vì thân thể chúng không cần cái thương ấy để tồn tại,
Nghĩa là loại lòng thương thứ nhất là chuyện của thân xác,
Người ta gọi là bản năng,
Nó là gốc của mọi tình cảm,
Là cái nền để mọi tôn giáo xây lên,
Và nó quý,
Nhưng nó có ba cái giới hạn,
Giới hạn thứ nhất,
Nó tùy thuộc vào thái độ người kia,
Con ngoan thì mẹ thương nhiều,
Con hổn thì mẹ thương ít đi,
Mẹ chăm thì con quấn,
Mẹ bỏ bê thì con lạnh,
Thứ hai,
Nó thiên dị,
Nó chỉ chảy về phía những người mình quen,
Mình gần,
Mình cùng máu,
Và tự nhiên nó dạy một đường giữa người trong với người ngoài,
Giữa nhà mình với nhà người,
Giữa làng mình với làng bên,
Nhiều xung đột trên đời sinh ra chính từ chỗ ấy,
Thương phe mình quá nên ghét phe kia,
Thứ ba,
Nó không lớn được vô hạn,
Vì nó bị buộc vào thân xác,
Mà thân xác thì có giới hạn,
Còn loại lòng thương thứ hai là lòng thương có lý trí đỡ phía sau,
Nó không dựa vào việc người kia có tốt với mình không,
Nó dựa vào một sự thật,
Là mọi chúng sinh đều muốn vui và sợ khổ y như mình,
Từ sự thật ấy mà suy ra rằng họ đáng được thương ngang mình,
Người tin có đấng tạo quá thì suy theo cách của họ,
Rằng mọi người đều là con của cùng một đấng,
Nên phải thương nhau,
Người theo con đường của chúng ta thì suy theo cách nhân quả,
Rằng ghét người thì hại mình trước,
Thương người thì lợi mình trước,
Nên thương là khôn,
Đường suy khác nhau nhưng tới cùng một chỗ,
Loại lòng thương thứ hai này bắt đầu từ cái nền bản năng,
Tức là lấy cái thương mẹ có sẵn làm hạt,
Rồi dùng lý trí tưới lên,
Nới rộng ra,
Tới khi nó không còn phân biệt trong ngoài,
Vì có lý trí nên nó không tùy vào thái độ người kia,
Không thiên dị,
Và không có giới hạn,
Nó là lý do con đường bảy bước bắt đầu từ mẹ,
Vì mẹ là chỗ cái hạt bản năng nằm sẵn,
Nhưng bảy bước đi tiếp để đưa cái hạt ấy thành cây che cả rừng,
Khoa học bây giờ cũng đã nhìn thấy cái hạt ấy,
Các nhà nghiên cứu não cho tôi biết rằng khi một người khởi lòng bi,
Tức là mong người khác thoát khổ,
Thì trong não có một dùng hoạt động lên,
Và điều lạ là khi chính người ấy khổ,
Cũng dùng ấy hoạt động,
Tôi nghe xong thì nói đùa với họ rằng cái não này ngốc quá,
Người ta khóc khi buồn,
Mà cũng khóc khi vui,
Cùng một dòng nước mắt,
Cùng một cái mũi sụt sịch,
Nếu não khôn thì nó phải sắp xếp cho khóc gì vui thì nước mắt chảy bên mắt phải,
Khóc gì buồn chảy bên mắt trái,
Để người ngoài nhìn vào biết ngay,
Đằng này nó chảy cả hai bên,
Chẳng phân biệt gì,
Các nhà khoa học cười,
Nhưng tôi kể chuyện này để nói một điều nghiêm túc,
Ấy là lòng Bi không phải chuyện tinh thần suôn,
Nó có chỗ ngồi trong thân,
Nó làm cho thân hoạt động,
Và khi lòng Bi ấy đi kèm với việc thấy rằng mình có thể giúp được,
Thì dùng não ấy hoạt động còn mạnh hơn,
Nghĩa là cả thân lẫn tâm đều được thúc lên để làm,
Đó cũng là chỗ để tôi nói về cái đối tượng của lòng Bi,
Lòng Bi không phải là buồn chung chung cho mọi thứ,
Lòng Bi hướng về cái khổ có thể chấm dứt,
Luận dí như thầy thuốc trước một bệnh có thuốc thì gắn chữa,
Còn trước một bệnh không thuốc thì chỉ biết an ủi,
Từ dí thế này,
Có một con sông chảy xiết,
Một người đang chìm,
Nếu mình thấy con dế tới được,
Còn kéo lên được,
Còn đưa qua bờ bên kia được,
Thì mình phải nhảy vào mà kéo,
Không được đứng nhìn,
Còn nếu người ấy đã trôi xa quá,
Không cách nào dưới tới,
Thì ngoài cầu nguyện ra mình không làm gì được nữa,
Chúng sinh đang khổ là người đang chìm,
Nhưng cái khổ của họ sinh ra từ một cái thấy sai,
Cái thấy rằng có một cái tôi có sẵn,
Chắc nịch,
Tự nó có,
Cái thấy sai ấy có thể sửa,
Bệnh ấy có thuốc,
Nên chúng sinh là loại người còn kéo lên được,
Chính vì còn kéo lên được mà mình phải thương,
Và thương tới mức phải nhảy xuống,
Bây giờ tôi vào bậc thứ nhất và thứ hai của bảy bước,
Là nhận ra tất cả chúng sinh từng là mẹ,
Và nhớ ơn mẹ,
Luận nói,
Vì Luân hồi không có điểm đầu,
Nên số kiếp mình đã sinh cũng không có điểm đầu,
Trong vô số kiếp ấy,
Không có thân nào mình chưa từng mang,
Không chỗ nào mình chưa từng sinh ra,
Và không một chúng sinh nào chưa từng là người thân của mình,
Chưa từng là mẹ của mình,
Không chỉ trong quá khứ,
Mà cả tương lai cũng vậy,
Có người không tin chuyện nhiều kiếp,
Tôi không ép,
Nhưng ngay trong một kiếp này thôi,
Chuyện mình được nuôi bằng tay của bao nhiêu người,
Thì ai cũng thấy được,
Rồi Luân dạy cách nhớ ơn,
Và cách ấy rất cụ thể,
Luân nói,
Hãy hình dung mẹ mình rõ ràng trước mặt,
Rồi nghĩ đi nghĩ lại vài lần,
Người này không chỉ là mẹ mình trong kiếp này,
Mà đã là mẹ mình trong vô số kiếp,
Mỗi lần là mẹ mình,
Bà đều che cho mình khỏi mọi tai quả,
Và đem cho mình mọi điều lành,
Riêng kiếp này,
Bà cứ mang mình trong bụng suốt một thời gian dài,
Khi mình sinh ra là một cục thịt đỏ không tự làm được gì,
Bà ôm mình vào lòng,
Đặt mình trên mười đầu ngón tay mà nâng,
Bà cho mình bú bằng thân mình,
Cho mình ăn bằng tay mình,
Lao cho mình những thứ dơ bằng chính tay mình mà không thấy ghê,
Khi mình bệnh,
Bà thà mình bệnh thay còn hơn để mình bệnh,
Bà nhịn ăn cho mình ăn,
Nhịn ngủ cho mình ngủ,
Bà quý mình hơn quý chính bà,
Nghĩ như thế,
Không phải một lần,
Mà cho tới khi trong ngực mình có cái gì ngẹn lên,
Thì đó là nhớ ơn thật,
Có người hỏi,
Thưa thầy,
Con không hợp mẹ,
Mẹ con không như thế,
Con nghĩ không ra,
Tôi hiểu,
Có bộ luận nói tới lòng bi như của cha,
Như của mẹ,
Tức là không nhất thiết là mẹ,
Ai không có mẹ để nhớ,
Thì lấy người đã thương mình nhất mà nhớ,
Bà ngoại,
Bà nội,
Người cha,
Người chị,
Người thầy,
Người dân nào đó đã cứu mình một lần,
Cái cần là cái ngẹn trong ngực,
Chứ không phải là cái tên,
Bậc thứ ba là muốn đền ơn,
Luận nói một câu tôi đọc mà xấu hổ,
Câu ấy nói,
Những chúng sinh đã từng làm mẹ mình đang khổ và không nơi nương tựa,
Thế mà mình lo tìm đường thoát cho riêng mình,
Coi họ như không có,
Bỏ họ lại,
Thì không có gì đáng hổ thẹn hơn,
Một bộ luận khác nói,
Đứa bé nằm trên tay mẹ chẳng làm được gì,
Chỉ biết bú dòng sữa chảy ra từ tình thương,
Còn người mẹ vì tình thương ấy mà chịu bao nhiêu khổ nhọc,
Vậy ngay cả kẻ hàng nhất trên đời có ai muốn bỏ mẹ mình không?
Nếu bỏ mẹ là điều kẻ hàng cũng không làm,
Thì làm sao mình làm được?
Có một câu nói xưa rằng,
Cái nợ ơn chưa đền nặng hơn cả đại dương cộng với ngọn núi lớn nhất,
Đại dương và núi thì tôi gánh được,
Còn cái ơn chưa đền thì tôi gánh không nổi,
Rồi luận đưa một hình ảnh mà tôi không quên được,
Mẹ mình đang buồn,
Đang bất trí vì phiền não,
Đang lão đảo từng bước bên bờ một cái dược sâu,
Và chính mình là đứa con đứng đó có mắt sáng,
Nếu bà không trông cậy vào con thì trông cậy vào ai?
Nếu đứa con không đưa tay ra thì ai đưa?
Chúng sinh là người mẹ mù ấy,
Họ mất tự chủ vì phiền não sai khiến,
Họ không có mắt để thấy đâu là đường lên đâu là đường xuống,
Họ không có thầy dẫn,
Họ dắt từng bước vì việc xấu tự họ làm trói chân họ,
Và cái dược họ đang tiến tới là những cõi khổ,
Nhìn thế thì đền ơn không còn là chuyện gửi cho mẹ một ít tiền,
Nấu cho mẹ một bữa ăn,
Đền ơn là dứt khoát đưa họ ra khỏi cái bờ dược ấy,
Mà đưa ra được thì chỉ có một cách,
Là chính mình phải trở thành người có mắt sáng nhất,
Tức là thành Phật.
Bật thứ tư là từ,
Tức là mong cho chúng sinh có vui,
Đối tượng là những người đang thiếu vui,
Cách nghĩ có ba nất,
Nất một là ước gì họ được vui,
Nất hai là nguyện cho họ được vui,
Nất ba là chính tôi sẽ làm cho họ được vui,
Ba nất ấy nhớ kỹ,
Vì lát nữa quý vị sẽ thấy nó là chìa khóa của cả con đường,
Về lợi ích của lòng từ,
Kinh nói những điều nghe khó tin,
Kinh nói,
Đem lễ dật nhiều như số hạt các đi cúng dường các bậc cao quý suốt bao nhiêu kiếp,
Phước ấy không bằng một phần nhỏ của một phút tâm từ,
Ngài Long Thọ nói,
Mỗi ngày ba lần đem ba trăm nồi cơm bố thí,
Phước ấy không bằng một chút của một khoảnh khắc lòng từ,
Rồi Ngài kể tám lợi ích của lòng từ ngay trong đời này,
Trời và người quý mình,
Họ che chở cho mình,
Lòng mình vui,
Thân mình khỏe,
Độc và vũ khí không hại được mình,
Việc mình muốn thành tựu không phải gắn sức,
Già chết rồi sinh về cõi lành,
Ngài nói người có lòng từ thì người khác tự nhiên kéo về,
Không cần mời,
Ngài Đức Phật cũng dùng sức mạnh của lòng từ mà thắng đạo quân của ma,
Nên lòng từ là người bảo vệ tốt nhất,
Luận kết một câu,
Rằng lòng từ khó khởi,
Nhưng phải gắn,
Tại sao khó,
Vì lòng mình từ vô thủy tới nay đã ngấm phiền não,
Có một bậc thầy dí như một cái cây to,
Thân gỗ đắng,
Đã ngấm nước đắng suốt bao nhiêu năm,
Bây giờ mình nhỏ vào gốc nó một giọt nước mía ngọt,
Rồi hỏi sao cây chưa ngọt,
Một giọt thì làm gì được với cả một thân gỗ đắng,
Phải nhỏ mỗi ngày,
Năm này qua năm khác,
Thì cây mới dần đổi,
Tâm cũng thế,
Mình ngồi thiền tự bi được hai buổi,
Thấy chưa thay đổi gì,
Ở,
Đó là chuyện của một giọt nước mía,
Không phải Pháp không hiệu nghiệm,
Mà là mình rót chưa đủ,
Nên luận nói phải làm liên tục,
Không chỉ trong giờ ngồi thiền,
Mà trong lúc đi,
Lúc ăn,
Lúc nói chuyện,
Lúc nằm,
Cái ý muốn cho người khác vui cứ phải mang theo như mang cái áo trên người,
Bật thứ năm là Bi,
Mong cho chúng sinh thoát khổ,
Cũng ba nất như từ,
Ước gì,
Nguyện cho,
Và chính tôi sẽ làm,
Cách tập thì tập với người thân trước,
Rồi người dân,
Rồi người mình ghép,
Khi nào lòng Bi với người mình ghép bằng với người thân,
Thì mở ra mười phương,
Ở đây luận nhấn một điểm về phương pháp mà tôi thấy rất đúng,
Luận nói,
Nếu mình tập từ Bi bằng cách nghĩ chung chung về tất cả chúng sinh,
Không chọn từng người cụ thể,
Thì mình sẽ có cảm giác là mình đã có từ Bi rồi,
Mà tới lúc gặp một người cụ thể thì lại chẳng khởi được gì,
Còn nếu mình tập với từng người một,
Cho tới khi lòng mình thật sự chuyển với một người,
Rồi thêm người thứ hai,
Thứ ba,
Thì tới lúc mở ra cho tất cả,
Cái từ Bi ấy mới là thật,
Từ Bi chung chung là từ Bi trên giấy,
Từ Bi với một người cụ thể mới là từ Bi trong ngực,
Giả thước đo là gì,
Luận nói,
Khi nào lòng Bi của mình với tất cả chúng sinh tự khởi lên,
Không cần cố,
Mạnh như lòng người mẹ nhìn đứa con nhỏ đang ốm chỉ muốn giật cái đau ra khỏi người nó,
Thì lúc ấy lòng Bi mới gọi là Đại Bi,
Chưa tới mức đó thì chưa gọi là xong,
Chỉ gọi là đang tập.
Bật thứ sáu là tâm tăng thượng,
Và đây là chỗ nhiều người hỏi tại sao phải có,
Có lòng Bi rồi thì phát tâm thành Phật luôn,
Chèn thêm một bật làm gì,
Luận trả lời bằng một chuyện trong Kinh,
Có một người cha giàu,
Chỉ có một đứa con trai,
Đứa con xinh đẹp,
Được cả nhà cưng,
Đứa bé ham chơi,
Ngã xuống một cái hố phân,
Mẹ nó,
Dì nó,
Họ hàng nó chạy tới,
Thấy con dưới hố,
Kêu khóc,
Thang trời,
Giật giả,
Nhưng không ai nhảy xuống,
Người cha về,
Thấy con dưới hố,
Không kêu,
Không khóc,
Không ghê,
Nhảy thẳng xuống hố,
Bé con lên,
Kinh giải thích,
Cái hố là luân hồi,
Đứa bé là chúng sinh,
Mẹ và họ hàng là những người chỉ lo tự giải thoát,
Họ có lòng thương thật,
Họ thấy chúng sinh khổ thật,
Họ đau thật,
Nhưng họ không nhảy,
Người cha là Bồ Tát,
Cái khác giữa mẹ và cha trong chuyện này không phải là ai thương hơn,
Cái khác là ai dẫn lấy việc ấy về mình,
Thương mà đứng trên bờ thang khóc,
Và thương mà nhảy xuống,
Là hai thứ khác nhau,
Tâm Tăng Thượng là cái nhảy,
Là nất thứ ba trong ba nất lúc nãy,
Chính tôi sẽ làm,
Không phải ước gì ai đó làm,
Không phải nguyện cho có ai làm,
Mà tôi sẽ làm,
Tôi gánh.
Bật thứ bảy là Tâm Bồ Đề,
Khi mình đã quyết gánh rồi,
Mình nhìn lại chính mình và thấy,
Với sức hiện giờ,
Mình chưa lo trọn được cho dù chỉ một người,
Rồi mình nhìn xa hơn,
Thấy ngay cả khi mình đạt tới Bật Thánh Tự Giải Thoát,
Mình cũng chỉ giúp được một số ít người thoát khổ,
Chứ không đưa được họ tới cái thế trọn dạng,
Vậy ai lo được cho vô số chúng sinh cả cái lợi trước mắt lẫn cái lợi cuối cùng,
Chỉ có một dì Phật,
Cho nên muốn gánh cho trọn thì phải thành Phật,
Cái muốn thành Phật sinh ra từ cái muốn gánh,
Cái muốn gánh sinh ra từ lòng bi,
Và cứ thế lần ngược lại tới mẹ,
Đó là bảy nhân quả,
Mà một điều tôi nhắc thêm,
Muốn thành Phật thì cũng phải hiểu Phật là gì,
Nên phải nuôi lòng tin bằng cách nghĩ về phẩm chất thân khẩu ý và hạnh của một dì Phật,
Cái đó đã giảng ở phần huy rồi,
Bây giờ tôi lên tầng thứ ba,
Tầng Mài Kim Cương,
Và đây là cách của Ngài Tịch Thiên,
Trước hết nói thẳng tại sao có hai cách,
Vì người ta khác nhau,
Có người nghĩ về mẹ là khóc,
Nên bảy bước với họ rất hợp,
Có người tính lý trí,
Nói mẹ nói ơn thì họ gật đầu mà lòng không động,
Nhưng nói tới lời hại thì họ tính ngay,
Với họ thì cách của Ngài Tịch Thiên hợp hơn,
Cách ấy gọi là đổi chỗ mình và người,
Ngài viết trong bộ luận về hạnh Bồ Tát một đoạn mà tôi coi là đoạn mạnh nhất từng được viết về đề tài này,
Ngài nói,
Ai muốn mau chống cứu cả mình lẫn người,
Thì hãy đổi chỗ mình và người,
Đó là bí mật tối thượng,
Rồi Ngài nói tiếp một câu chỉ có vài chữ mà tôi ngẫm cả đời chưa hết,
Mọi niềm vui trên đời đều sinh ra từ mong người khác vui,
Mọi nỗi khổ trên đời đều sinh ra từ mong chính mình vui,
Ngài bảo,
Nói thêm làm gì nữa,
Cứ nhìn thì thấy,
Kẻ phàm lo cho mình,
Bậc thánh lo cho người,
Xem hai bên đi tới đâu,
Tôi muốn quý vị nhìn thật kỹ câu ấy,
Đừng tin dội,
Đem đời mình ra thử,
Lần nào mình khổ nhất,
Có phải là lần mình muốn cho mình nhiều nhất không?
Ganh vì người ta hơn mình,
Tuổi vì người ta không coi trọng mình,
Lo vì sợ mình mất,
Giận vì người ta không làm theo ý mình,
Chữ mình ở đâu thì cái khổ ở đó,
Còn những lúc mình nhẹ nhất,
Có phải là những lúc mình quên mình đi vì lo cho ai đó không?
Ngồi bên giường mẹ ốm,
Mình quên cả mình đói,
Chạy đi cứu đứa bé,
Mình quên cả mình sợ,
Cái quên mình ấy chính là lúc nhẹ nhất,
Ngài Tịch Thiên nói,
Coi mình là trung tâm là cửa dạo của mọi khổ,
Coi người là trung tâm là nền của mọi điều tốt đẹp,
Không phải chuyện luân lý,
Chuyện nên hay không nên,
Chuyện lợi hại thuần túy,
Ai muốn hết khổ thì bỏ cái trung tâm ấy đi,
Người ta hỏi,
Đổi được không?
Quen lo cho mình từ vô thủy rồi,
Làm sao đổi?
Ngài trả lời bằng thói quen,
Ngài nói,
Hãy nhìn một kẻ thù của mình trước kia,
Lúc đầu nghe tên là sợ,
Là ghét,
Rồi đời đưa đẩy,
Hòa giải,
Thành bạn,
Thân tới mức giắn nó một ngày là buồn,
Người ấy không đổi,
Cái nhìn của mình đổi,
Và cái nhìn đổi được là nhờ quen dần,
Cái tâm cũng vậy,
Nếu quen nhìn mình như hiện giờ mình đang nhìn người khác,
Thì sẽ đổi được,
Ngài còn đưa một lý lẽ về cái thân này,
Thân này từ đâu ra?
Từ một giọt của cha và một giọt của mẹ,
Tức là từ thân người khác,
Một chút chất của người khác,
Mà vì quen,
Mình ôm lấy,
Gọi là tôi,
Quý nó hơn tất cả,
Vậy thì nếu quen quý thân người khác như mình đang quý cái khối này,
Sao lại không quý được?
Cái tôi mà mình bám không có sẵn ở đó,
Nó là do quen mà thành,
Mà cái gì do quen mà thành thì đổi thói quen là đổi được,
Rồi Ngài phá một cái cớ mà ai cũng đưa ra,
Cớ ấy là,
Khổ của người khác đâu có làm tôi đau,
Sao tôi phải lo?
Ngài trả lời,
Vậy tuổi già của anh đâu có làm tuổi trẻ của anh đau,
Sao lúc trẻ anh lại lo tích cóp cho lúc già?
Rồi Ngài nói,
Tay thì việc gì phải rút cái gai ở chân,
Chân có phải tay đâu,
Nhưng tay vẫn rút,
Vì tay và chân là một thân,
Trẻ và già là một dòng,
Tay và chân là một khối,
Còn mình và người thì là hai dòng hai khối,
Khác chứ?
Ngài trả lời tới cùng,
Dòng và khối chỉ là những cái tên đặt lên một chuỗi khoảnh khắc và một nhóm phần tử,
Không có cái gì tự nó là một dòng,
Tự nó là một khối,
Cái tôi của mình và cái tôi của người cũng chỉ là tên gọi đặt lên như thế,
Cho nên mình và người không phải hai thứ được chia sẵn bởi một cái danh tự nhiên,
Cái danh ấy do tâm dẻ,
Chỉ vì tự vô thủy mình quen thấy khổ của mình là không chịu nổi,
Nên mình lo cho mình,
Nếu quen thấy khổ của người là không chịu nổi,
Thì mình sẽ lo cho người,
Y như tay lo cho chân,
Tôi nói thêm một chút ở đây,
Cái thấy này chính là chỗ tầng ba nối vào trí tuệ tánh không,
Vì cái răng mình người mà thấy là không có sẵn,
Thì cái tâm bám vào mình cũng mất chỗ đứng,
Mình và người,
Nhìn cho kỹ,
Không hề tồn tại một cách tự nó có,
Mà cái tâm coi mình là trung tâm thì luôn đi kèm với cái tưởng rằng mọi thứ tự nó có,
Phá được cái tưởng ấy là phá được cả hai,
Cách tập của Ngài Tịch Thiên thì thẳng tay,
Ngài bảo nhìn thẳng vào cái tâm tự coi mình là trung tâm,
Và nói với nó như nói với một tên gian tế bị lộ mặt,
Ngài viết,
Đại Ý,
Ngươi hại ta trong bao nhiêu kiếp rồi,
Ta đã thấy ngươi,
Giờ ngươi chạy đâu?
Ngươi bảo ta còn có lợi của riêng ta,
Nhưng ta đã đem hết lợi ấy bán cho chúng sinh rồi,
Ngươi đừng oán,
Hãy làm việc đi,
Nếu ta bất cẩn không đem ngươi trao cho chúng sinh,
Thì chính ngươi sẽ đem ta trao cho những cõi khổ,
Nghe thì dữ dội,
Nhưng quý vị thấy chỗ đáng chú ý là Ngài không đánh cái tôi,
Ngài đánh cái tâm bám vào tôi,
Cái tâm mà từ vô thủy tới nay khiến mình bỏ ra vô số công sức để lo cho mình mà chẳng lo được gì,
Chỉ toàn gạt khổ,
Ngài lý luận rất đơn giản,
Nếu từ xưa mình đã đổi cái lo cho mình thành lo cho người,
Thì mình đã thành Phật từ lâu rồi,
Và tự nhiên lợi của mình cũng trọn,
Mình chưa thành,
Chứng tỏ mình chưa đổi,
Còn phía ngược lại,
Ngài bảo nhìn chúng sinh như người nông dân nhìn ruộng tốt,
Người nông dân biết ruộng này gieo là gạt,
Nên họ quý mảnh ruộng ấy,
Chăm mảnh ruộng ấy,
Chúng sinh là mảnh ruộng mà gieo bố thí xuống,
Gieo nhẫn xuống,
Gieo lòng thương xuống,
Thì mọi lợi trước mắt và cuối cùng đều từ đó gạt lên,
Ai biết như thế thì tự nhiên quý chúng sinh,
Không cần ai bắt,
Ngài Long Thọ trong bài luận về tâm bồ đề cũng nói,
Mọi vui buồn trong các cõi đều sinh từ việc mình giúp hay hại chúng sinh,
Mà tới cả Phật quả cũng nương vào chúng sinh,
Thì có gì lạ khi cả những kẻ quyền lực nhất thế gian cũng chỉ nhờ giúp chúng sinh mà có được vị trí,
Đã hiểu như thế,
Ngài nói,
Thì đừng bám vào lợi riêng dù chỉ một khoảnh khắc,
Tới đây tôi kể chuyện đời tôi một chút,
Như đã hứa,
Về cái thế tánh không,
Tôi đã gắn suốt hơn ba mươi năm,
Và bây giờ tôi có được một hình dung tương đối rõ,
Không dám nói là chứng,
Chỉ nói là có một bức tranh khá rõ,
Còn về tâm bồ đề,
Hồi trẻ tôi thấy nó xa dời lắm,
Thấy đó là chuyện của các bậc thánh,
Không phải chuyện của một người còn giận còn tham như tôi,
Rồi khoảng năm tôi ba mươi mấy tuổi,
Tôi được một dì thầy truyền cho bộ luận về hạnh Bồ Tát của Ngài Tịch Thiên,
Từ hôm ấy, tôi có một mối liên hệ rất riêng với bộ luận này,
Tôi đọc nó không biết bao nhiêu lần,
Và mỗi lần đọc lại thấy nó khác,
Cái quý nhất của bộ luận là nó không bắt mình tin,
Nó lý luận,
Nó bày ra trước mặt mình tất cả cái hại của tâm coi mình là trung tâm,
Và tất cả cái lợi của tâm coi người là trung tâm,
Bày rõ tới mức mình không cãi được,
Nhiều điều trong đạo mình khó chứng minh bằng lý,
Nhưng điều này thì chứng minh được,
Và bộ luận ấy đã chứng minh,
Bộ luận được viết từ hơn nghìn năm trước,
Và từ đó tới nay,
Ở xứ gốc của nó cũng như ở xứ tuyết,
Mọi dòng,
Mọi phái,
Ai tu tâm Bồ Đề cũng dựa vào nó,
Tôi nói điều này không phải để ca ngợi một cuốn sách,
Tôi nói để quý vị biết rằng có một cách rèn cái tâm này,
Được thử qua hơn nghìn năm,
Trên hàng dạng con người,
Và nó có hiệu quả,
Không phải mình tự mò,
Nói thật với quý vị,
Hai cách,
Bảy bước và đổi chỗ,
Thực ra phải đi chung,
Người hợp bảy bước thì bắt đầu từ mẹ,
Đi tới lòng bi,
Tới quyết tâm gánh,
Rồi tới lúc thấy cái tâm bám mình còn cản,
Thì dùng cách đổi chỗ để nhổ nó,
Người hợp đổi chỗ thì bắt đầu từ tính lợi hại,
Thấy rõ lợi của lo cho người,
Rồi tới lúc lòng cần được làm mềm,
Thì mượn hình ảnh mẹ để làm mềm,
Hai cách như hai tay,
Không ai làm việc bằng một tay cả,
Và tôi kết tầng 3 bằng 3 câu nói của các bậc thầy xưa,
Câu thứ nhất của một hiền giả ở Sứ Tiết,
Ông nói,
Tôi có 18 kế của người và một kế của ngựa,
Cộng là 19,
Kế của người thì đơn giản,
Là phát tâm bồ đề rồi làm mọi việc vì chúng sinh,
Còn kế của ngựa,
Vì cái tâm bám mình nó ngăn không cho tâm bồ đề sinh,
Đã sinh thì nó phá cho tan,
Nên phải rèn bằng cách giữ cái tâm bám mình cách xa,
Có cơ hội nào hại được nó thì hại,
Mà quý chúng sinh,
Có cơ hội nào giúp được thì giúp,
Câu thứ 2 là chuyện một người tu khoe với một dì thầy,
Rằng mình đã đạt được thứ định này thứ định kia,
Khí lực điều hòa thế này thế kia,
Dì thầy nói,
Dù anh có định sâu tới mức đánh trống lớn bên tai cũng không lây,
Mà anh không có tự bi,
Không có tâm bồ đề,
Thì anh vẫn sẽ sinh vào chỗ mà anh phải ngồi sám hối ngày đêm để tránh,
Câu thứ 3 là của dì thầy ấy nói chung cho tất cả,
Ông nói,
Cách anh có giao được cái rễ của con đường lớn hay không,
Có thật sự bước vào con đường lớn hay không,
Hoàn toàn tùy vào cái tâm này,
Nên lúc nào cũng phải hỏi mình làm gì để cái tâm ấy sinh,
Mà sinh rồi thì phải hỏi làm gì để nó lớn,
Có nói là không có gì phải tiếc nữa,
Bây giờ, như đã hứa,
Tôi hướng dẫn một bài quán ngắn,
Ai cũng làm được,
Không cần bồ đoàn,
Không cần chu mỏ,
Ngồi ghế cũng được,
Nằm cũng được,
Miễn còn tỉnh,
Trước hết,
Quý vị hãy để lưng thẳng vừa phải,
Đừng gồng,
Hai bàn tay đặt lên đùi,
Mắt nhắm hờ hoặc nhìn xuống một chỗ trên sàn,
Thở ra dài một hơi,
Cho bụng xẹp hẳn,
Rồi để hơi thở tự vào,
Không điều khiển,
Làm ba hơi như thế,
Để cái ồn của buổi sáng lắng xuống,
Bây giờ,
Hãy mời một người vào tâm trí,
Người ấy là người đã thương mình nhiều nhất trong đời,
Giới đa số là mẹ,
Giới người khác có thể là cha,
Là bà,
Là chị,
Là một người dân đã cứu mình,
Hãy để gương mặt người ấy hiện ra trước mặt,
Cách mình chừng một sải tay,
Ở đúng cái tuổi mà mình nhớ họ rõ nhất,
Đừng dẻ đẹp lên,
Cứ để họ như họ đã là,
Giới nếp nhăn,
Giới cái gián hơi cồng,
Giới đôi tay thô ráp nếu tay họ thô ráp,
Rồi nghĩ chậm,
Từng ý một,
Người này đã mang mình trong bụng hoặc đã ẩm mình khi mình chưa biết gì,
Người này đã ăn ít để mình ăn nhiều,
Người này đã thức khi mình bệnh,
Người này đã lao những thứ dơ trên người mình bằng tay không mà không thấy ghê,
Người này đã đứng chờ mình về nhiều buổi chiều,
Người này đã lo cho mình cả những lúc mình quên mất họ đang lo,
Nghĩ tới đâu,
Hãy để ngực mình phản ứng tới đó,
Nếu nghẹn thì để nghẹn,
Nếu nước mắt ướt thì để ướt,
Nhớ rằng cái não này khóc vui khóc buồn cùng một chỗ,
Chẳng cần giấu ai,
Khi cái nghẹn ấy có rồi,
Hãy giữ nó một chút,
Đừng dội qua bước sau,
Rồi nói thầm trong lòng ba câu,
Mỗi câu nói xong dừng lại một hơi thở,
Ước gì người này được vui,
Nguyện cho người này được vui,
Con sẽ làm cho người này được vui,
Nói xong câu thứ ba,
Hãy nghĩ xem ngày hôm nay có một việc nhỏ nào,
Thật nhỏ,
Mình có thể làm để câu ấy không phải là lời suôn,
Một cuộc gọi,
Một bữa ăn,
Một câu xin lỗi mình nợ từ lâu,
Nếu người ấy đã mất rồi,
Thì việc nhỏ ấy làm cho một người còn sống thay cho họ,
Bây giờ mới là chỗ bài quán này khác với việc chỉ nhớ mẹ,
Hãy để người ấy hơi lùi sang một bên,
Và mời một người thứ hai tới,
Một người dưng,
Người bán rau mình mua mỗi sáng,
Người quét đường trước ngõ,
Người ngồi cạnh mình trên xe,
Hãy nhìn họ và nghĩ,
Người này cũng có một người mẹ,
Cũng từng là một cục thịt đỏ được ai đó nâng trên mười đầu ngón tay,
Cũng muốn vui,
Cũng sợ khổ,
Y như mẹ mình,
Y như mình,
Rồi nói ba câu ấy với họ,
Ước gì,
Nguyện cho,
Tôi sẽ,
Nếu nói tới câu thứ ba mà lòng còn lạnh,
Không sao,
Cứ nói,
Nhớ chuyện giọt nước mía,
Rồi,
Nếu hôm nay đủ can đảm,
Mời người thứ ba tới,
Là người mình đang giận,
Đừng chọn người giận nhất,
Chọn người giận vừa vừa thôi,
Tập cho quen đã,
Nhìn họ và nhớ rằng người này cũng từng là con của một người mẹ,
Cũng đang bị phiền não sai khiến,
Cũng đang lão đảo bên bờ giựt như mẹ mù,
Và cũng là người thầy duy nhất đang dạy mình bài học nhẫn,
Rồi nói ba câu ấy,
Chậm,
Dù chỉ nói được câu đầu cũng đã là một giọt nước mía,
Cuối cùng,
Để cả ba người tan vào một biển người,
Trong đó có tất cả những ai đang thở,
Đang khổ,
Đang mong,
Và nói ba câu ấy lần cuối cho tất cả,
Rồi mở mắt,
Cả bài quán ấy làm chậm thì chừng 15 phút,
Làm nhanh thì 5 phút,
Sáng thức dậy làm một lần,
Trước khi ngủ làm một lần,
Còn trong ngày,
Mỗi khi gặp bất cứ ai,
Thử nói thầm câu đầu tiên,
Ước gì người này được vui,
Chỉ một câu thôi,
Chưa cần câu sao,
Làm được như thế một tháng,
Quý vị hãy tự xem ngực mình có khác không,
Không khác thì tới nói với tôi,
Còn nếu khác thì đó là mảnh kim cương đang bắt đầu sáng,
Sắp hết giờ rồi,
Tôi xin nói vài lời cuối,
Sáng nay tôi bắt đầu bằng chuyện quên một câu kể,
Tôi muốn kết bằng chuyện tôi chưa xong,
Tôi ngồi trên cái ghế cao này,
Người ta gọi tôi là thầy,
Người ta chờ tôi giảng,
Nhưng thật tình,
Cái tâm mà tôi giảng cả buổi hôm nay,
Tôi cũng đang tập từng ngày như quý vị,
Có ngày tôi đọc lời nguyện của Ngài Tịch Thiên
Mà thấy lòng mở ra thật rộng,
Có ngày tôi đọc mà đầu nghĩ chuyện khác,
Có ngày ai đó làm tôi bực,
Tôi thấy cái tên giang tế ấy trong tôi ngóc đầu dậy,
Và tôi phải nhìn nó,
Nói với nó,
Ta thấy ngươi rồi,
Hơn 30 năm với tánh không,
Gần 50 năm với bộ luận ấy,
Và tôi vẫn là người đang tập,
Tôi kể ra không phải để khiêm tốn cho có,
Tôi kể để quý vị biết rằng nếu tôi còn đang tập
Thì quý vị chưa bắt đầu cũng không muộn,
Và nếu quý vị thấy mình tập mãi chưa xong
Thì đó là điều bình thường,
Tôi cũng vậy,
Nhưng có một điều tôi biết chắc,
Biết bằng chính đời tôi chứ không phải bằng sách,
Thấy là từ ngày cái ý muốn lợi cho người bắt đầu có mặt trong lòng,
Dù còn yếu,
Dù còn hay bị che,
Thì đời tôi khác hẳn,
Đi đâu tôi cũng thấy người,
Không thấy kẻ thù,
Gặp ai tôi cũng thấy mình có việc để làm với họ,
Dù chỉ là một nụ cười,
Sợ thì ít đi,
Vì mình không định hại ai thì có gì mà đề phòng,
Mình thì vẫn có,
Tuổi già thì vẫn tới,
Câu kệ thì vẫn quên,
Nhưng cái lõi bên trong thì yên,
Đó chính là mảnh kim cương mà Kinh nói,
Nó mẻ,
Nó nhỏ,
Nó chưa được mài,
Nhưng nó sáng,
Và cái sáng ấy đủ để soi đường cho một đời người,
Vậy xin quý vị đem về ba điều,
Điều thứ nhất,
Tâm Bồ Đề là cửa duy nhất,
Và cửa ấy mở ngay khi cái ý muốn lợi cho người thật sự nảy trong lòng,
Không cần chờ mình hoàn hảo,
Điều thứ hai,
Cái gốc nuôi nó là lòng Bi,
Và lòng Bi lớn lên từ một người cụ thể,
Bắt đầu từ mẹ,
Rồi từ người một,
Chứ không lớn lên từ những câu chung chung,
Điều thứ ba,
Kẻ thù thật của mình không ở ngoài,
Nó là cái tâm coi mình là trung tâm,
Và người khôn nhất trên đời,
Là người biết đổi chỗ cái trung tâm ấy sang phía chúng sinh,
Bao nhiêu điều lành sinh ra từ buổi nói chuyện hôm nay,
Từ việc quý vị ngồi nghe,
Từ việc tôi gắn nói,
Từ việc ai đó về nhà gọi cho mẹ một cuộc,
Tôi xin đem tất cả gửi về cho hết thải chúng sinh,
Cho những người mẹ tôi,
