[FULL] KHANG HY – Lên ngôi 8 TUỔI, trị vì 61 NĂM | Trọn bộ 53 phút

Đình Sự
540 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AICâu chuyện chi tiết về cuộc đời Hoàng đế Khang Hy, từ khi lên ngôi năm 8 tuổi cho đến khi trở thành vị vua trị vì lâu nhất lịch sử Trung Hoa. Nội dung làm nổi bật hành trình vượt qua các quyền thần, dẹp loạn Tam Phiên, mở rộng lãnh thổ và những mâu thuẫn nội tâm giữa một minh quân quyết đoán với một người cha thất bại trong việc giữ hòa khí gia đình.
Tám tuổi, một cậu bé mà trên mặt còn lầm tấm những vết dỗ nhỏ bước lên ngai vàng của đế quốc lớn nhất phương Đông.
Cậu không được chọn vì là con trưởng, cũng không vì thông minh nhất mà vì một lý do nghe thật lạ lùng.
Cậu đã từng mắc bệnh đậu mùa và cậu đã sống sót.
Những vết dỗ ấy chính là tấm giấy thông hành đưa cậu lên ngôi.
Nhưng cậu bé được chọn nhờ một căn bệnh ấy về sau chỉ vì 61 năm,
lâu nhất trong lịch sử các khoảng đế Trung Hoa.
Cậu dẹp loạn phương Nam, thu Đài Loan, đánh lùi quân Nga, tự học hành học của người phương Tây.
Và cũng chính cậu, khi về già, phải bất lực nhìn các con trai mình rằng xé nhau vì trước nai ấy.
Một đứa trẻ 8 tuổi, cha vừa mất, đứng giữa một chiều đình đầy lão tướng.
Vì sao cậu không bị nuốt trứng?
Để hiểu điều đó, phải quay về những năm cái chết lặng lẽ đi qua từng cung điện ở Bắc Kinh.
Đây là Vĩ Nhân Ký.
Cậu bé tên là Huyền Diệp, con trai thứ ba của Hoàng đế Thuận Trị,
vị vua đầu tiên của nhà Thanh ngồi trên Ngai Vàng ở Bắc Kinh.
Người Mãn Châu, từ vùng rưng núi phía Đông Bắc tiến vào Trung Nguyên mới gần 20 năm.
Họ đánh bại được nhà Minh, nhưng có một kẻ thù họ không sao thắng đổi.
Bệnh đậu mùa với người Mãn Châu, đậu mùa là nỗi tinh hoàng.
Họ quen sống ở vùng lạnh phía Bắc, cơ thể chưa từng gặp loại dịch này, nên hễ mắc là rất khó qua khỏi.
Chiều đình có hẳn một lệ riêng, hoàng tử nào chưa lên đậu thì phải đưa ra khỏi cung, tránh xa chỗ đông người.
Huyền Diệp vì thế lớn lên bên ngoài hoàng cung, trong vòng tay các vú nuôi, rất ít khi được gặp cha mẹ.
Khoảng 2 tuổi, cậu vẫn mắc bệnh, sốt cao, mụn mọc khắp người, không ai dám chắc đưa bé qua khỏi.
Nhưng cậu qua khỏi, bệnh lui đi, để lại trên mặt những vết rỗ nhỏ theo cậu suốt đời.
Và từ đó cậu mang trong mình thứ mà cả chiều đình thèm muốn, một cơ thể không còn sợ đậu mùa.
Căn bệnh suýt giết cậu, hóa thành lá bùa hộ mệnh.
Nhiều năm sau, khi đã làm vua, chính ông cho phổ biến phép trùng đậu trong hoàng tộc và trong quân
để con cháu không phải đánh cực mạng sống như ông từng phải đánh cực.
Năm cậu 8 tuổi, đậu mùa quay lại, lần này vào tận từ Cấm Thành.
Hoàng đế thuận trị mắc bệnh, ông mới ngoài 20 tuổi, chỉ vài ngày sau ông qua đời.
Trước lúc nhắm mắt, câu hỏi lớn nhất đặt ra là ai sẽ nối ngôi?
Thuận trị của mấy người con trai đều còn nhỏ.
Tương truyền, trong số những người được hỏi ý,
có cả một giáo sĩ phương Tây làm quang coi lịch pháp trong chiều, tên là Thang Nhược Vọng.
Ông khuyên nên chọn hoàng tử đã lên đậu, vì đứa trẻ ấy sẽ không chết trong trận dịch kế tiếp.
Chuyện này chủ yếu chép trong tư liệu giáo sĩ, xử thanh không vì rõ.
Nhưng có một điều chắc chắn,
trong một triều đình vừa chứng kiến nhà vua chết vì đậu mùa,
một hoàng tử đã sống sót qua đậu mùa là lựa chọn an toàn nhất.
Và người có tin nói quyết định là bà nội của cậu, Hiếu Trang,
người đàn bà từng đứng sau ngai vàng của chính con trai mình.
Đầu năm ấy, Huyền Diệp lên ngôi,
lấy nhân hiệu khang hy một đứa trẻ 8 tuổi không thể tự cai trị.
Theo di chiếu của thuận trị,
việc chiều chính giao cho 4 phụ chính đại thần,
đều là lão thần Mãn Châu từng theo các đời vua trước trình chiến.
Đứng đầu là Sách Ni, gia nhất và có uy tín nhất.
Kế đến là Tô Khắc Tát Cáp và Át Tát Lòng.
Người đứng cuối danh sách là Ngao Bái.
Ngao Bái là một vọ tướng lễ lường,
lập vô số chiến công trong những năm quân thành tiến vào Trung Nguyên,
được người đời gọi là Dũng sĩ số 1 của Mãn Châu.
Ông đứng cuối danh sách,
nhưng lại là người có tham vọng lớn nhất.
Sách Ni già yếu, Át Tát Lòng nhu nhược,
thường ngả theo Ngao Bái.
Chỉ có Tô Khắc Tát Cáp dám cãi lại,
nhưng ông đứng một mình.
Từng ngày một, quyền hành trong chiều
dồn dần về tay người vọ tướng ấy.
Còn vị Hoàng đế nhỏ tuổi ngồi trên ngai,
mỗi buổi trầu chỉ lặng lẽ nhìn xuống và ghi nhớ
cậu bé không có ai để dựa vào ngoài bà nội.
Hai năm sau, cha, mẹ cậu cũng qua đời.
Hiếu Trang trở thành người thầy lớn nhất đời cậu.
Bà không ra mặt tranh quyền với các phụ chính.
Bà dạy cháu cách nhẫn nhịn,
cách quan sát, cách nhìn người.
Ngao Bái lấn đứt đến đâu,
bà cũng chỉ khuyên chưa phải lúc.
Bà còn đi trước một nước cờ,
cưới cho cháu, cô cháu nội của Sách Ni,
để kéo dòng họ quyền thế nhất chiều
về phía nhà vua.
Còn cậu bé thì học.
Cậu tập cưỡi ngựa, bắn cung,
đọc kinh sử của người Hán,
học cả tiếng mãn lẫn tiếng Hán.
Bề ngoài, đó chỉ là một đứa trẻ chăm học,
chẳng có gì đáng lo.
Ngao Bái cũng nghĩ vậy
và chính sự coi thường ấy
sẽ là sai lầm lớn nhất đời ông.
Bởi vài năm sau,
khi Ngao Bái ép nhà vua phải sử tử một phụ chính khác,
cậu bé ấy bắt đầu chọn cho mình
những người bạn chơi rất đặc biệt.
15 tuổi, vị hoàng đế trẻ ra lệnh
bắt người quyền lực nhất chiều đình.
Ngay giữa hoàng cung,
bằng tay không của một đám thiếu niên,
không một đội cấm quân nào được điều động,
không một giọt máu nào đổ xuống.
Người bị bắt là Ngao Bái,
dũng sĩ số một của Mãn Châu,
người từng song pha trăm trận.
Những kẻ bắt ông là đám cậu trai
mà cả chiều tưởng chỉ đang chơi trò đấu vật.
Nghe như chuyện không thể có thật.
Một võ tướng quen xa trường,
quyền niêng chiều chính,
vây cánh khắp các bộ,
lại bị hạ gục bởi một đám trẻ.
Nhưng chính vì không ai tin điều đó có thể xảy ra,
nên nó đã xảy ra.
Suốt nhiều tháng, vị vua trẻ
nuôi đội quân nhỏ ấy
ngay dưới mắt Ngao Bái,
và Ngao Bái chỉ bật cười.
Để hiểu vì sao một thiếu niên
phải đi nước cờ liều lĩnh đến vậy,
phải nhìn xem Ngao Bái
đã lớn tới mức nào.
Nằm khang hy 13 tuổi,
người phụ chính già Sách Ni qua đời.
Cán cân quyền lực trong chiều
mất đi quả cân cuối cùng.
Trước khi mất, Sách Ni kịp làm một việc.
Dân sớ xin cho nhà vua
tự mình chấp chính.
Từ đó, trên giành nghĩa,
hoàng đế đã cầm quyền.
Nhưng trên thực tế,
mọi tấu trương vẫn phải đi qua tay Ngao Bái xì trước.
Ngao Bái không chỉ nắm quyền,
ông còn dùng quyền để trả thu riêng.
Ông đòi đổi đất giữa các kỳ binh Mạng Châu,
lấy ruộng tốt về cho kỳ của mình,
đẩy vô số nông dân ra khỏi đất cày.
Ruộng bỏ hoang,
dân chạy loạn khắp vùng quanh tình thành.
Ba vị đại thần lên tiếng phản đối.
Ngao Bái đòi xử tự cả ba.
Nhà vua không đồng ý.
Ngao Bái cứ thế làm theo ý mình,
rồi báo lên như chuyện đã rồi.
Nhà vua mới 12 tuổi,
chỉ biết đứng nhìn,
ý mình bị gạt sang một bên.
Năm sau,
đến lượt Tô Khắc Tát Cáp,
người phụ chính duy nhất dám cãi lại.
Ngao Bái vù cho ông 24 tội,
đòi xử cực hình cả nhà.
Nhà vua trẻ nhất định không phê.
Xử chép,
Ngao Bái sắn tay áo,
đứng ngay trước ngự tọa,
mà lớn tiếng tranh cãi nhiều ngày liền,
cho tới khi nhà vua đành nhượng bộ.
Tô Khắc Tát Cáp vẫn phải chết.
Một hoàng đế mà không cứu nổi người mình muốn cứu,
Khang Hi hiểu ra,
đâu lý với Ngao Bái là vô ích.
Vậy là cậu chọn một con đường khác.
Về Mãn Châu,
có môn vật truyền thống gọi là Bố Khố.
Trong cung,
con em quý tộc vẫn thường vật nhau cho vui.
Khang Hi chọn một nhóm cậu trai khỏe mạnh,
con em các thị vẹ tin cẩn,
cho vào cung tập vật hàng ngày,
và chính nhà vua cũng xuống sân vật cùng họ.
Cậu tự mình thử sức từng người,
và chỉ giữ lại những ai thật sự trung thành.
Ngao Bái vào chầu,
thấy vua lăn lộn với đám trẻ trên bãi cát,
chỉ nghĩ đó là một cậu bé ham chơi.
Một ông vua mải chơi thì càng dễ sai khiến.
Đó chính là điều Khang Hi muốn ông nghĩ.
Trong lúc ấy,
nhà vua lặng lẽ điều những thân tín của Ngao Bái đi làm việc ở xa,
và kéo về phía mình những người có thể tin được.
Người quan trọng nhất là Sách Ngạch Đồ,
con trai của Sách Ni, chú ruột của Hàng Hậu.
Cuộc khôn nhân bà nội sắp đặt năm xưa,
giờ mới cho thấy giá trị mùa hè năm Khang Hi 15 tuổi.
Mọi thứ đã sẵn sàng,
nhà vua cho gọi Ngao Bái vào cung
như một buổi ý kiến bình thường.
Trước đó, những thân tín cuối cùng của ông
đã được kheo léo phái ra khỏi tinh thành.
Người vọ tướng bước vào,
không mang theo hộ vẹ,
vì ai lại đi đề phòng một cậu bé
và đám bạn chơi của nó.
Chỉ một hiệu lệnh,
đám thiếu niên ùa ra từ hai bên.
Giả sử kể nhiều chi tiết ly kỳ.
Trước ghế bị cưa chân,
chén trà nóng làm tay ông chuột đi.
Những chi tiết ấy khó kiểm chứng.
Chỉ biết rằng,
người dũng sĩ số một của Mãn Châu
vùng vẫy dữ dội,
nhưng chừng ấy cánh tay,
chè khỏe cùng đè xuống.
Ông không sao thát được.
Người từng khiến cả chiều run sợ,
giờ bị đè chặt dưới tay một đám trẻ con.
Ngao Bái bị chói, dải đi.
Không cấm quân,
không đao kiếm,
không bình biến.
Chỉ có một buổi ý kiến kết thúc khác thường.
Ngay sau đó,
triều đình kể ra 30 tội của Ngao Bái.
Theo luật, tội ấy đang chết.
Nhưng Khang Hy làm một việc
khiến cả triều bất ngờ.
Tương truyền,
Ngao Bái xin được cởi áo
để lộ những vết sẹo cũ
từ bao trận đánh vì nhà Thanh.
Nhà vua nhìn những vết sẹo ấy
và tha chết,
chỉ giam cấm suốt đời.
Chẳng bao lâu sau,
Ngao Bái qua đời trong ngục.
Vây cánh của ông bị thanh trừng.
Nhưng những người bị ép đi theo
thì được tha.
Nhà vua không muốn một cuộc thanh trừng
chàn lan,
làm triều đình rối loạn thêm.
Ra tay dứt khoáp,
rồi dừng đúng lúc.
15 tuổi,
Khang Hy thật sự trở thành hoàng đế.
Nhưng ở phương Nam xa xôi,
có ba vị vương người Hán
cai quản những vùng đất rộng
như một nước riêng.
Có quân đội riêng,
thu thuế riêng.
Và vị vua trẻ
vừa thắng một nước cờ liều.
Sắp đi một nước cờ
còn liều hơn nước 19 tuổi.
Khang Hy đưa ra quyết định
liều lĩnh nhất đời mình.
Và gần như cả triều đình
đứng về phía phản đối.
Ông ra lệnh
bãi bỏ ba phiên vương
ở phương Nam.
Chỉ vài tháng sau,
phương Nam bùng cháy.
Chiến tranh kéo dài suốt 8 năm.
Và có lúc,
nhà thanh tưởng như
sắp mất nửa Giang Sơn.
Người đứng đầu cuộc nổi loạn
là Ngô Tam Quế.
Và đó mới là chỗ nghịch lý.
30 năm trước,
chính Ngô Tam Quế
là người mở cửa Sơn Hải Quan
đưa quân thanh vào đất Trung Nguyên.
Người đã giúp dựng nên Triều Đại
giờ quay lại muốn lạch đổ nó.
Vậy vì sao
một vị vua 19 tuổi
vừa mới nắm quyền
lại tự tay châm ngòi
trong một cuộc chiến như thế?
Để hiểu,
phải nhìn xem
ba phiên vương ấy
đã lớn tới mức nào.
Để bình định phương Nam,
nhà thanh phong vương
cho các tướng người Hán có công.
Ngô Tam Quế
chấn giữ vân Nam.
Thượng Khả Hỷ
chấn giữ Quảng Đông.
Cảnh Tinh Trung
chấn giữ Phúc Kiến.
Người đời
gọi là tam phiên.
Mỗi phiên
có quân đội riêng
tự đặc quan
tự thu thuế.
Chiêu đinh
còn phải gửi tiền nuôi quân của họ
tốn gần nửa ngân khố cả nước.
Đó không còn là những vị vương.
Đó là những quốc gia
nằm ngay trong lòng đế quốc.
Khang Hy từng kể rằng
từ khi mới chấp chính
ông đã ghi ba việc lớn
treo lên cột cung điện
để ngày nào cũng nhìn thấy
tam phiên,
việc trị sông
và việc trở lương
theo cành đào.
Cơ hội đến vào năm ông 19 tuổi
Thượng Khả Hỷ đã già
dâng sớ xin về quê
ở Liêu Đông Dưỡng Lão
để con trai ở lại
nối giữ Quảng Đông.
Khang Hy cho ông về
nhưng không cho con trai nối phiên.
Nghe tin ấy
Ngô Tam Quế
và Cảnh Tinh Trung
cũng dâng sớ xin bãi phiên
như một cách thử lòng chiêu đình.
Họ tin nhà vua
sẽ khẩn khoản giữ lại.
Họ đã giữ đất ấy gần 30 năm
và không tin một vị vua 19 tuổi
dám động vào.
Cả chiều bàn cãi
phần đông đại thần
xin giữ nguyên hiện trạng
vì động vào Ngô Tam Quế
là động vào lửa.
Khang Hy đáp một câu
mà về sau được chép lại
bãi thì cũng phản
không bãi thì cũng phản
chi bằng ra tay trước.
Ông phê chuẩn
bãi cả ba phiên.
Cuối năm ấy
ở Côn Minh
Ngô Tam Quế giấy binh
ông giết viên tuần phủ chiêu đình
bỏ bím tóc kiểu mãn
khôi phục y phục người Hán
tự xưng là nguyên xoái
phỏ nhà Minh.
Quân Vân Nam tràn qua Quý Châu
tiến vào Hồ Nam
tứ xuyên Quảng Tây
theo nhau hưởng ứng.
Cảnh Tinh Trung
nổi dậy ở Phúc Kiến
rồi đến Thiểm Tây
ở phía Tây Bắc
và cuối cùng
cả con trai Thượng Khả Hỷ
ở Quảng Đông.
Có nơi
Chỉ trong ít năm
gần nửa đất nước
không còn nghe lệnh Bắc Kinh.
Trong Quyền Thành
người ta bắt đầu thu dọn đồ đạc
tin đồn lan khắp nơi rằng
nhà Thanh sắp phải rút về quán ngoại.
Con trai Ngô Tam Quế
đang ở Bắc Kinh
bị sử tử
cắt đứt mọi đường thường lượng.
Có đại thần
xin chém đầu những người
từng ủng hộ bãi phiên
để cầu hòa.
Khang Hi từ chối.
Ông nói
việc ấy
là do chính ông quyết
không ai
phải chịu tội thay.
Rồi
ông làm một việc
khiến người ta yên lòng.
Vẫn đi săn
vẫn ra ngoại thành
như thường ngày
để cả Kinh Thành thấy
nhà vua
không hề hoảng sợ.
Khang Hi hiểu một điều
mà Ngô Tam Quế không hiểu.
Cuộc chiến này
sẽ thắng
bằng lòng người
nhiều hơn bằng binh lực.
Ông trọng dụng các tướng người Hán
trong Đạo Lục Doanh
trao cho họ quyền chỉ huy
mà trước đây
chỉ người Mãn mới có.
Ông ra lệnh
ai bỏ phản quân quay về
thì được tha
giữ nguyên chức tước.
Từng người
từng người
các tướng dưới chướng phản quân
bắt đầu quay giáo.
Trong khi đó
phản quân
mỗi phe một ý
không ai chịu nghe ai.
Cảnh tinh trung đầu hàng
con trai thượng Khả Hi
cũng đầu hàng.
Ngô Tam Quế
thì chọn một con đường khác.
Năm 67 tuổi
ông lên môi hoàng đế ở Hành Châu
đặt quốc hiệu là Chu.
Người từng hô hào phò nhà Minh
rốt cuộc
lại muốn tự mình làm vua.
Nhưng
chỉ vài tháng sau khi xưng đế
ông lâm bệnh và qua đời.
Người đã từng phản nhà Minh
rồi lại phản nhà Thanh.
Cuối cùng
chết trên một chiếc ngai dựng vội
mất Ngô Tam Quế
phản quân như rắn mất đầu.
Cháu nội ông là Ngô Thế Phan
lên thay
lui dần về Vân Nam.
Năm Khang Hi 27 tuổi
quân Thanh vây quân Minh
Ngô Thế Phan tự vẫn
thành mở cửa đầu hàng.
Tám năm chiến tranh kết thúc
nửa đất nước tan hoang sau khói lửa
nhưng ngai vàng nhà Thanh
đã đứng vững.
Về sau
nhìn lại
chính Khang Hi thừa nhận
quyết định năm 19 tuổi ấy
suýt làm sục đổ cả cương nghiệp tổ tiên
và
ông không đổ lỗi cho ai
ngoài bản thân.
Một vị vua
dám quyết
và
dám nhận.
Tám năm ấy
biến chàng trai 19 tuổi
thành một vị hoàng đế thật sự.
Tam phiên không còn
từ đây
Phương Nam thật sự
thuộc về Bắc Kinh.
Nhưng
ở ngoài khơi phía Đông Nam
vẫn còn một hòn đảo
chưa bao giờ
cúi đầu trước nhà Thanh
nơi một dòng họ
đã cát cứ
suốt ba đời.
Để lấy Đài Loan
Khang Hi trao toàn bộ hạm đội Phương Nam
cho một người
từng là tướng của chính kẻ thù.
Cả chiều
sợ người ấy sẽ trở giáo
giữa biển khơi
ông ta mang về cả hòn đảo.
Người đó
tên là Thi Lan.
Và người mà ông ta đánh bại
là cháu nội của chủ tướng cũ
người đã giết cha
và em trai ông năm xưa.
Một hàng tướng
mang mối thù máu
đứng đầu hạm đội
đi đánh chính gia tập mình từng thờ.
Nghe như một canh bạc điên rồ
nhưng
chính canh bạc ấy
lần đầu tiên
đưa Đài Loan
vào bản đồ
của một triều đình
trên đất liền.
Vì sao Khang Hi dám tin
một người
mà ai cũng nghi ngờ.
Để hiểu
phải biết hòn đảo ấy
đã khiến nhà Thanh
mất ăn mất ngủ
suốt hơn 20 năm.
Khi nhà Minh sụp đổ
có một người
không chịu cuối đầu.
Đó là Trịnh Thành Công
con trai một thương nhân
kiêm hải tạc
giàu có ở Phúc Kiến.
Ông Dương Cờ Phò Minh
là phạm đội
hùng mạnh nhất vùng biển phía đông.
Nằm Khang Hi vừa lên ngôi
Trịnh Thành Công
vượt eo biển
đánh đuổi người Hà Lan
đang chiếm giữ Đài Loan
biến hòn đảo
thành cân cứ chống Thanh.
Ông mất ngay năm sau.
Con trai ông
là Trịnh Kinh lên thay
rồi đến cháu nội
Trịnh Khắc Sảng.
Ba đời họ Trịnh giữ đảo
vẫn dùng nhiên hiệu nhà Minh
vẫn búi tóc kiểu người Hán
không cạo đầu tiết bím
không có thể quân đủ mạnh
để vượt biển.
Nhà Thanh
chọn một cách tàn nhẫn.
Họ ra lệnh
rời toàn bộ cư dân ven biển
từ Sơn Đông
tới Quảng Đông
vào sâu trong đất liền
cách bờ nhiều dặm
để họ Trịnh
không mua được lương
không tìm được người.
Làng trai bị bỏ hoang
ruộng ven biển
thành đất trống.
Vô số gia đình
mất kế sinh nhai.
Để bóc nghẹt một hòn đảo
triều đình chấp nhận
làm khổ chính dân mình
suốt hơn 20 năm.
Suốt những năm loạn Tam Phiên
Trịnh Kinh
còn đem quân đổ bộ
lên đất liền
chiếm mấy vùng
ở Phúc Kiến.
Đến khi Tam Phiên bị dẹp
họ Trịnh lại rút về đảo.
Rồi Trịnh Kinh qua đời
trong phủ
nổ ra một cuộc trình biến.
Người con trưởng bị giết
một cậu bé 12 tuổi
là Trịnh Khắc Sảng
được đưa lên nằm chủ.
Con quyền hành
rơi vào tay các đại thần.
Họ Trịnh chia rẽ
lòng người trên đảo
dối như tơ vò.
Với khang hy
đó là thời cơ.
Thời cơ cần một người
và người ấy
đã chờ sẵn hơn 30 năm.
Thì Lang
từng là một tướng thủy quân
dưới chướng Trịnh Thành Công.
Hai người bất hòa
Trịnh Thành Công
bắt giữ cả nhà ông
rồi giết cha
và em trai ông.
Thì Lang trốn thoát
về hàng nhà Thanh.
Từ đó
mối thù với họ Trịnh
theo ông suốt nửa đời người.
Nhưng triều đình không tin ông.
Một hàng tướng
thì luôn có thể quay về chủ cũ.
Nhiều năm liền
Thì Lang bị gọi về Kinh
mồi không là một chức quan nhàn.
Ông chờ
năm này qua năm khác.
Đến khi đại học sĩ
Lý Quang Địa
hết lời tiến cử
Khang Hy quyết định dùng ông.
Nhà vua
gác ngoài tai
mọi loài can rán.
Phòng Thì Lang
làm thủy sư
đề đốc Phúc Kiến
rồi trao hành quyền
tự quyết định
thời điểm xuất quân.
Thì Lang về Phúc Kiến
đóng thuyền
luyện binh suốt hai năm.
Ông thuộc
từng dòng hải lưu
từng con gió
của vùng biển ấy
vì chính ông
từng chiến đấu ở đó
dưới cờ họ Trịnh.
Mùa hè
năm Khang Hy 29 tuổi
hạm đội của Thì Lang
vượt biển
tới quần đảo Bành Hồ
cửa ngõ của Đài Loan.
Cha ông ở đó
là Lưu Quốc Hiên
danh tướng giỏi nhất
còn lại
của họ Trịnh.
Trận đầu
quân Thành bất lợi
thuyền của Thì Lang
bị vây.
Tương truyền
chính ông bị thương
ở mắt
mà vẫn đứng trên
bong chỉ huy.
Mấy ngày sau
ông chia hạm đội
thành nhiều mũi
lợi dụng gió nam
thổi mạnh
đồng loạt sông vào.
Pháo nổ vang trời
lửa bốc
trên mặt biển.
Chỉ trong một ngày
hạm đội họ Trịnh
gần như bị xóa sổ.
Lưu Quốc Hiên
chạy thoát về Đài Loan
trên một chiếc thuyền nhỏ.
Mất Bành Hồ
Đài Loan không còn gì che chắn.
Vài tháng sau
Trịnh Khắc Sảng
dâng biểu xin hàng.
Thì Lang dẫn quân vào đảo
mà gần như
không gặp kháng cự.
Trịnh Khắc Sảng
cạo đầu
tết bím
theo lệ nhà Thành.
Rồi triều đình cãi nhau
một chuyện lạ.
Có nên giữ Đài Loan không?
Nhiều người cho rằng
đảo xa
tốn kém
chỉ cần rời dân về đất liền
rồi bỏ trống là xong.
Thì Lang dâng sớ
phản đối cước liệt.
Bỏ đảo
thì người nước ngoài
sẽ chiếm lại
và bờ biển phía đông nam
sẽ không bao giờ yên.
Ông còn nói
đảo đất đai màu mỡ
sản vật dồi dào
bỏ đi
là trao cho người khác
một thứ vô giá.
Kháng Hi nghe theo
năm sau
Đài Loan chính thức
trở thành một phủ
thuộc tỉnh Phúc Kiến.
Lệnh rời dân ven biển
cũng được bãi bỏ.
Còn Thi Lang
người mang mối thủ
với họ trịnh suốt 30 năm
lại không trả thù.
Tương truyền
ông còn đến tế
ở đền thờ trịnh Thành Công.
Kháng Hi phong tước
cho trịnh khách sạn
cho cậu sống yên ổn
ở Bắc Kinh.
Biển đông nam đã yên
nhưng ở tận cùng phương Bắc
bên dòng Hắc Long Giang
những người lạ mặt
đến từ phía Tây
đã dựng pháo đài gỗ
trên đất nhà Thanh.
Quân Thanh vây chặt
pháo đài của người Nga
bên bờ Hắc Long Giang.
Bên trong
quân giữ Thành đói rét
chết dần qua mùa đông
chỉ còn lại vài chục người.
Chỉ cần thêm ít tuần nữa
là Thành sẽ mở cửa.
Đúng lúc ấy
Kháng Hi ra lệnh ngừng vây.
Nhiều tướng lĩnh không hiểu nổi
Thắng đến nơi rồi
vì sao phải dừng?
Ba năm sau
câu trả lời hiện ra
ở một thị trấn nhỏ
tên là Nhi Bố Sở.
Ở đó
nhà Thanh và nước Nga
ký một hòa ước
mà nhiều sử ra
xem là hiệp ước đầu tiên
Trung Hoa ký
với một nước châu Âu.
Trên tư thế ngang hàng
không ai quỳ lại ai
không ai là trư hầu của ai.
Hai đế quốc lớn nhất châu Á
ngồi đối diện nhau
vạch một đường biên
rồi giữ hòa bình
suốt hơn 100 năm.
Chỗ đáng nói
là người chọn dừng tay lại
chính là kẻ đáng thắng.
Một vị vua
từng liêu lĩnh với Tam Phiên
giờ lại tỏ ra
biết lúc nào nên thôi.
Vì sao?
Để hiểu
phải quay về
những năm người Nga
lần đầu xuất hiện
ở tận củng phương Bắc.
Trong khi nhà Thanh
con mại đánh nhau
ở phương Nam
những đoàn người cô giác
từ Sibia
đã vượt núi
xuôi theo các dòng sông
tới vùng Hắc Long Giang.
Họ săn thú lấy ra
thu công phẩm
của các bộ tộc bản địa
dựng lên những pháo đài bằng gỗ.
Pháo đài lớn nhất
là Nhã Khắc Tát
nằm ngay trên đất
mà người Mãn Châu
coi là quê hương Tổ Tiên.
Với nhà Thanh
đó không chỉ là chuyện biên giới
vùng Đông Bắc
là cái nôi của người Mãn Châu
nơi có lăng mộ Tổ Tiên họ.
Khi tàng phiên
còn chưa dẹp xong
Khang Hy đánh nhẫn nhịn
nhưng vừa dẹp xong phương Nam
ông quay lên phương Bắc này.
Ông không vội đánh
ông cho người đi dò đường trước
tướng lãng đảm
được phái lên phía Bắc
giả làm đoán đi săn hiu
lặng lẽ đò đường xá
sông Ngòi
thăm dò pháo đài của người Nga.
Rồi Khang Hy
cho lập lồn trại
đắp đường
đóng thuyền trên sông
rời quân tới gần
chuẩn bị lương thảo
suốt mấy năm.
Ông còn sai
giáo sĩ Nam Hoài Nhân
đúc thêm những khẩu pháo đồng
kiểu phương Tây
cho quân đội.
Nước cờ nào
cũng tính kỹ
trước khi đi.
Khắc hẳn
chàng trai 19 tuổi
năm nào
năm Khang Hy
31 tuổi
quân Thanh
do Bành Xuân chỉ huy
kéo tới vây nhã khắc táp
pháo bắn
vào tường gỗ
lửa bốc lên
quân Nga
không chống nổi
xin hàng.
Điều bất ngờ là
Khang Hy ra lệnh cho họ
ra đi an toàn
mang theo cả
ra quyến
và tài sản.
Quân Thanh
đốt pháo đài
rồi rút về.
Nhưng
ngay mùa thu năm ấy
người Nga quay lại
dựng lại pháo đài
trên đống cho cũ.
Lần này
tường dài hơn
kiên cố hơn.
Năm sau
quân Thanh
vây lần thứ hai.
Lần này
họ không đánh vội
mà vây chặt
đào hao
chặn mọi đường kếp tế.
Mùa đông đến
bên trong pháo đài
quân Nga
đói rét
bệnh tật hoành hành
viên chỉ huy
tử trận.
Từ khoảng
tám trăm người
chỉ còn lại
mấy chục người sống sót.
Đúng lúc ấy
Sứ giả
của Sa Hoàng
tới Bắc Kinh
xin ngừng chiến
để đàm phán.
Khăng Hy
đồng ý ngay
ra lệnh giải vây.
Tương truyền
ông còn cho gửi
thầy thuốc
và lương thực
vào cho quân Nga.
Ba năm sau
hai phái đoàn
gặp nhau
ở Ni Bố Sở.
Phía Thanh
do sách nạch đồ
dẫn đầu
phía Nga
do sứ thần
Golovin.
Nhưng
hai bên
không có chung
một ngôn ngữ.
Người mãn
không biết tiếng Nga
người Nga
không biết tiếng mãn.
Thế là
cả hai đế quốc
phải cậy vào
hai giáo sĩ
dòng tên người châu Âu
theo phái đoàn nhà Thanh
Trương Thành
và Tử Nhật Thăng.
Mọi điều khoản
được bàn
bằng tiếng Latin.
Cuộc đàm phán
nhiều lần suýt đổ vỡ.
Phía Nga
dẫn theo quân
phía Thanh
cũng dẫn theo quân
hai doanh trại
đóng đối diện nhau
bên bờ sông.
Sách nạch đồ
ban đầu
muốn đòi đất
tới tận hồ Bai Can
nhưng Khang Hi
gửi mất chỉ.
Có thể
nhường nghi bố sở
cho người Nga
miễn là giữ được
vùng khắc Long Giang
và có được hòa bình.
Cuối cùng
hai bên
chốt đường biên
theo sông
Ngạch Nhĩ Cổ Nạp
và dãy núi
Ngoại Hưng An Lĩnh.
Nhã Khắc Tát
bị phá bỏ.
Thường nhân
hai nước
được qua lại buôn bán.
Người đời sau
hay hỏi
vì sao Khang Hi
không đánh tới cùng?
Câu trả lời
nằm ở phía Tây.
Khi hai phái đoàn
còn đang ngồi ở
nị bố sở
trên thẳng nguyên Mông Cổ
đã nổi lên
một thế lực mới
đáng sợ hơn
người Nga nhiều.
Khang Hi hiểu rằng
không đế quốc nào
đánh được
hai mặt trận
cùng lúc.
Nhưng một ít đất
ở phương Bắc
để đổi lấy
một biên giới yên ổn
rồi dồn toàn lực
cho mối họa
lớn hơn.
Thắng mà không tham
biết đủ
và biết rừng.
Năm ấy
ông 35 tuổi
từ trang trai
liều mạng
bãi tam phiên
ông đã trở thành
một người
biết cân
từng bước đi
của đế quốc.
Hòa ước nị bố sở
giữ yên
biên giới phía Bắc
suốt hơn
một thế kỷ rưỡi.
Còn mối họa
phía Tây kia
có một cái tên
Cát Nhĩ Đàn
vị hãn
của người
chuẩn Cát Nhĩ
kẻ sắp kéo
quân tới
chỉ cách Bắc Kinh
vài ngày đường
hoài 40 tuổi.
Vị Hoàng đế
cai trị đế quốc
giàu có nhất phương Đông
rời bỏ cung điện
dẫn quân
băng qua
sa mạc Vô Bi.
Ông ngủ
trong liều bạt
uống nước giếng
đào vội
giữa cát
và có những ngày
chỉ ăn một bữa
vì lương thảo
không đủ
và ông không muốn
ăn no
khi binh lính
còn đói.
Không một ai
bắt ông phải đi
các đại thần
quý xin ông
ở lại Kinh Thành
tướng lĩnh
thì có sẵn
quân đội
thì hùng mạnh
thế nhưng
trong hai năm
ông đích thân
cầm quân ra trận
tới ba lần
chỉ để đuổi theo
một người
người ấy
là Cát Nhĩ Đan
vị hãn
của người chuẩn
Cát Nhĩ
một bộ tộc
Mông Cổ
ở phía Tây.
Vì sao
một hoàng đế
đã có tất cả
lại chọn cuộc sống
của một người lính
và vì sao
Cát Nhĩ Đan
lại đáng sợ
đến mức ấy?
Để hiểu
phải biết
người Mông Cổ
từng là gì
với Trung Nguyên
400 năm trước
từ chính Thảo Nguyên ấy
thành Cát Tư Hãn
và con cháu ông
đã tràn xuống
trình phục cả Trung Hoa
giấc mơ khôi phục
đế quốc Mông Cổ
chưa bao giờ tắt
và vào thời Khăng Hy
có một người đủ tài
để biến giấc mơ ấy
thành hiện thực
Cát Nhĩ Đan
từng xuất ra học đạo
ở Tây Tạng
rồi trở về Thảo Nguyên
giành lấy ngôi hãn
thống nhất các bộ chuẩn Cát Nhĩ
Ông có kỵ binh thiện chiến
có súng hỏa mai
mua từ người Nga
và có tham vọng
thống nhất toàn bộ Mông Cổ
dưới một ngọn cờ
năm Khăng Hy 34 tuổi
Cát Nhĩ Đan
đánh vào đất của người Mông Cổ
khách nhị khách
ở phía bắc sa mạc
hàng chục vạn người khách nhị khách
phải bỏ quê
dắt theo gia súc
chạy xuống phía nam
xin nhà thanh che trở
Khăng Hy nhận họ
cấp lương thực
cho đất chăn nuôi
nhưng như thế
là đứng hẳn về một phía
hai năm sau
Cát Nhĩ Đan
kéo quân xuống tận
Âu Lan Bố Thông
chỉ cách Bắc Kinh
chừng 700 dặm
Khăng Hy thân chinh lần đầu
nhưng dọc đường
ông lên cơn suốt nặng
buộc phải quay về
quân thành do người Anh của vua
là Phúc Toàn chỉ huy
Cát Nhĩ Đan
dựng một bức tường lạ lùng
cho hàng vạn con lạc đà
nằm xuống
buộc chân lại
phủ chân ra ướt lên lưng
làm thành một bức thành sống
quân thành dùng pháo
phá được bức tường ấy
nhưng Cát Nhĩ Đan
thoát chạy trong đêm
Khăng Hy hiểu rằng
không thể đánh một đối thủ
như vậy bằng nửa vời
6 năm sau
ông mở chiến dịch
lớn nhất đời mình
ba đạo quân
chia ba ngã
vượt sa mạc
hẹn gặp nhau
ở sông Khắc Lỗ Luân
chính ông dẫn đạo trung quân
sa mạc không có nước
không có cỏ
ngựa chết dọc đường
lương thảo phải trở
trên lưng lạc đà
qua hàng nghìn dặm cát
có lúc
quân tiên phong báo về rằng
phía trước nguy hiểm
các đại thần
lại quỳ xin nhà vua quay lại
Khăng Hy nổi giận
ông nói
nếu vua lui
quân sĩ
sẽ mất tinh thần
còn đạo quân phía tây
sẽ bị bỏ lại một mình
ông tiếp tục tiến
mỗi đêm
trong liều bạt
ông vẫn viết thư
về cho thái tử
ở kinh thành
kể chuyện nước uống
chuyện cỏ ngựa
chuyện trời gió
những lá thư ấy
còn lưu đến ngày nay
cho thấy
một người cha
giữa sa mạc
nhớ con
nghe tin chính hoàng đế
dẫn quân tới
các nhị đan hoảng hốt
bỏ doanh trại
rút về phía tây
nhưng ông không biết rằng
ở hướng ấy
đạo quân của tướng
Phí Dương Cổ
đang chờ sẵn
tại triều Mạc Đa
bên một con sông
giữa đồi núi
hai bên giáp trận
Phí Dương Cổ
chiếm lấy ngọn đồi
đặt pháo
và súng hỏa mai trên cao
rồi cho kỹ binh
chuẩn các nhị sông lên
trận đánh kéo dài
từ chiều tới tối
khi quân chuẩn các nhị
đã kiệt sức
quân thanh
từ hai cánh ấp xuống
đạo quân của các nhị đan
tàn vỡ
và ông tử trận
doanh trại
gia súc
vũ khí
tất cả rơi vào tay quân thanh
các nhị đan
chỉ còn vài chục kỹ binh theo sau
chạy trốn vào vùng núi phía tây
trận triều Mạc Đa
bẻ gãy sức mạnh
của người chuẩn các nhị
và cũng chấm dứt sức mơ
của vị hãn
muốn làm thành cát
từ hãn thứ hai
nhưng găng hy vẫn chưa dừng
ngay mùa thu năm ấy
ông lại thân chinh lần thứ hai
tới vùng ngạc nhị Đa Tư
mùa xuân năm sau
lần thứ ba
tới tận Ninh Hạ
ông muốn các nhị đan
không còn chỗ nào để quay về
và rồi
tin đến
các nhị đan đã chết
giữa lúc cùng đường
bộ hạ bỏ đi gần hết
xử nhà thanh chép
ông uống thuốc độc tự vẫn
có tư liệu khác
nói ông chết vì bệnh
khang hy khải hoàn
vùng mông cổ phía bắc sa mạc
từ đây
thuộc hẳn về nhà thanh
biên giới phía bắc Trung Hoa
chưa bao giờ yên ổt như thế
ba lần thân chinh
vượt sa mạc
ngủ lêu bạt
ăn lương khô
ông làm điều
mà hiếm vị hoàng đế nào
sau thời lập quốc còn làm
nhưng chiến trận chưa bao giờ
là mối lo lớn nhất của ông
mối lo ấy
nằm ở phương Nam
trên dòng sông
ba người xưa
gọi là nỗi đau của Trung Hoa
sông Hoàng Hà
một hoàng đế
mùi học hình học mỗi ngày
với các giáo sĩ phương Tây
có khi liền mấy canh giờ
một hoàng đế
đứng trên mặt đê lầy lội
tự tay dựng máy đo
tự tính độ cao
của mực nước sông
một hoàng đế
ra lệnh đo vẽ toàn bộ lãnh thổ của mình
bằng phương pháp khoa học
để rồi
có trong tay
tấm bản đồ chính xác nhất
châu Á thời bấy giờ
tất cả
là cùng một người
Khang Hy
ở thế kỷ 17
đó là điều gần như không tưởng
với giới sĩ phu Trung Hoa
đạo lý
nằm trong tinh sách của Thánh Hiền
còn đo đạc
tính toán
là việc của thợ
vậy mà
vị thiên tử
mồi trên đỉnh cao nhất
của trật tự ấy
lại cúi xuống
học những thứ
mà chính giới sĩ phu coi thường
vì sao?
câu trả lời
bắt đầu từ một vụ tranh cãi
về cuốn lịch
khi ông mới 14 tuổi
và nó kéo dài
suốt cả đời ông
trên những con đê
của dòng sông
khó trị nhất Trung Hoa
ba việc lớn
Khang Hy
từng ghi lên
cuộc cung điện năm xưa
có một việc
cả đời ông
không dám lơi tay
trị Hoàng Hà
dòng sông ấy
mang theo phủ xa
từ cao nguyên đất vàng
bồi lấp lòng sông
rồi vỡ đê
đổi dòng
nhấn chìm
hàng trăm làng mạc
nước lũ
còn chan vào kênh đào
chở lương
từ Giang Nam
lên Bắc Kinh
kinh tắc
lương không về
kinh thành đói
trị sông
là giữ mạng sống
của đế quốc
để trị sông
Khang Hy chọn Cận Phụ
làm tổng đốc Hà Đạo
Cận Phụ
cùng người phụ tá
là Trần Hoàng
đẩy ra một cách làm mới
thu hẹp lòng sông
đắp đê cao
để chính dòng nước chảy xiết
tự cuốn phủ xa ra biển
công trình kéo dài
hàng chục năm
tốn kém khổng lồ
bị chế trách không ngớt
nhưng Khang Hy
không chỉ ngồi trong cung
nghe báo cáo
suốt hơn hai mươi năm
ông sáu lần tuần du
xuống phương Nam
người đời gọi là
sáu lần nam tuần
mỗi lần đi
ông xuống tận
các bạn đê sung yếu
ông lội bùn
đứng trên mặt đê
hỏi từng người thợ đắp đê
ông muốn biết
đất chỗ nào mềm
nước chỗ nào xoáy
chứ không chỉ nghe
những tấu trương bóng bẩy
có lần
ông tự tay dựng
máy đo mực nước
tính ra rằng
lòng sông
đã cao hơn mặt ruộng
hai bên
rồi chỉ ra chỗ sai
trong cách làm
của các quan Hà Đạo
các quan đứng sau nhà vua
không ai dám nói gì
vì sao một hoàng đế
lại biết dùng máy đo
phải quay lại
năm ông mới 14 tuổi
khi ấy
trong chiều nổ ra
một vụ tranh cãi
về lịch pháp
một bên
là quan người Hán
Dương Quang Tiên
một bên
là giáo sĩ Nam Hoài Nhân
người Bỉ
mỗi bên
nói lịch của mình
mới đúng
không đại thần nào
đủ hiểu biết
để phân xử
cậu vua trẻ
đặt ra một khép thử
hai bên
cùng tính trước
bóng nắng giữa trưa
của một cây cột
đo sẽ dài bao nhiêu
rồi ra tận nơi
mà xem
Nam Hoài Nhân
tính đúng
tới từng chút
Dương Quang Tiên
tính sai
cả chiều im lặng
một cậu bé
14 tuổi
vừa phân xử
xong cuộc tranh cãi
mà các bậc lão thần
đành bỏ tay
về sau
Khang Hy
kể lại rằng
chính vụ ấy
khiến ông quyết tâm
tự học
ông tự nhủ
mình không hiểu
thì làm sao
phân xử đúng sai
một vị vua
không thể để
người khác
quyết thay mình
chỉ vì
mình không biết
và ông đã học thật
các giáo sĩ
dòng tên người Pháp
như Trương Thành
và Bạch Tấn
được gọi vào cung
rằng hành học
của Ơc Lít
đại số
thiên văn
cả giải phẫu học
sách được dịch
sang tiếng mãn
để nhà vô đọc
có thời gian
ngày nào
ông cũng học
mấy canh giờ
tự làm bài
tự tính toán
tự dùng thước
và compa
ông còn tự
quan sát thiên văn
rồi đem những điều học được
ra hỏi vạn
chính các quan coi lịch
một lần
ông bị sốt dết nặng
thuốc của Thái Y
không khỏi
các giáo sĩ
dâng lên một thứ
bột vỏ cây
mang từ châu Mỹ về
này gọi là
ký ninh
ông uống
và khỏi bệnh
từ đó
ông càng tin vào
thứ kiến thức
từ bên kia đại dương
về già
ông giao cho
các giáo sĩ
cùng quan lại
đi khắp đế quốc
đo đạc
từng vùng núi sông
bằng phương pháp tạm giác
10 năm sau
Tấm Hoàng Dư
Toàn Lám Đồ
hoàn thành
chính xác hơn
mọi bản đồ
châu Á
đường thời
nhưng có một câu hỏi
mà các sử gia
vẫn dây dứt
khăng hi
học Tây học
cho riêng mình
và cho triều đình của mình
ông không mở
trường dạy toán
cho sĩ tử
không đưa hình học
vào khoa cử
tấm bản đồ
quý giá
được cất trong cùng
kiến thức ấy
dừng lại
trong tay nhà vua
và một nhóm nhỏ
quanh ông
cùng thời điểm ấy
ở châu Âu
khoa học
đang lan ra
khắp các trường đại học
và hội học thuật
Newton
vừa công bố
những định luật
về chuyển động
một vị vua
ham học
bậc nhất
lịch sử Trung Hoa
nhưng lại không để
cả đất nước học cùng
có người cho rằng
ông sợ
trí thức lan ra
thì khó kiểm soát
có người nói
ông chỉ coi đó
là công cụ chỉ nước
chứ không phải
con đường của thiên hạ
và chính nỗi sợ
kiểm soát ấy
khi rơi vào
những trang sách
của người Hán
sẽ để lại
mặt tôi lớn nhất
trong sự nghiệp của ông
cùng một vị hoàng đế
cho soạn bộ từ điển
đầu sổ nhất
lịch sử Trung Hoa
gần 5 vạn chữ
và bộ bách khoa
lớn nhất
thời bấy giờ
và cũng chính
vị hoàng đế ấy
phê chuẩn
sử tử một học giả
chỉ vì
trong cuốn sách của ông
có mấy chữ
niên hiệu
của một triều đại đã mất
một người yêu sách đến thế
sao lại có thể
giết người vì sách
đó là mặt tối
của khang hy
và nó
có một cái tên
văn tự ngục
tức những vụ án
giết người
vì con chữ
nó không bắt đầu
từ ông
và cũng không dừng lại
ở ông
nhưng dưới
thời ông
nó trở thành
một công cụ cai trị
để rồi
con trai
và cháu nội ông
dùng nó
tàn khốc
gấp nhiều lần
để hiểu
phải nhớ
nhà Thanh là ai
trong mắt người Hán
người Mãn Châu
chỉ là một dân tộc nhỏ
cai trị
hàng trăm triệu
người Hán
họ bắt
người Hán
cạo đầu
tết bím
nhiều sĩ phu
vẫn nhớ nhà Minh
vẫn coi
người Mãn
là ngoại tộc
súng gươm
có thể dẹp
được khởi nghĩa
nhưng lòng người
thì nằm
trong sách vở
trong thơ văn
trong những trang sử
tư nhân
chép lại chuyện cũ
và một triều đại
luôn lo sợ
về tính
chính danh của mình
thì sẽ luôn
sợ
những trang giấy
vụ án lớn
đầu tiên xảy ra
khi Khang Hi
mới liên ngôi
dưới tay
các phụ chính
đại thần
vụ án cuối cùng
và nổi tiếng nhất
lại chính tay
ông Phê Chuẩn
khi ông
đã gần 60 tuổi
ở Hồ Châu
vùng Giang Nam
có một phú hỏ
họ trang
người con trai
tên Trang Định Long
bị mù
nhưng muốn để lại
một sự nghiệp
như bậc sử gia mù
thời cổ
ông mua lại
bản thảo
một bộ sử nhà minh
chưa hoàn thành
thuê nhiều văn nhân
bổ sung
rồi cho khắc in
trong sách
vẫn dùng liên hiệu
của các vua Nam Minh
vẫn gọi
tổ tiên người mạng
bằng những cái tên
thẳng thần
với một triều đại mới
đó không phải
chuyện chữ nghĩa
mà là lời
phủ nhận
quyền làm vua
của họ
Trang Định Long
mất trước khi sách
bị tổ giác
nhưng triều đình không tha
năm khăn hy thứ 2
dưới quyền
các phụ chính
vụ án
minh sử kết thúc
khoảng 70 người
bị sử tử
từ người viết
người hiệu đính
người khắt bản
người bán sách
cho tới
người chỉ mua
về đọc
hàng trăm người khác
bị lưu đầy
cả vùng Giang Nam
rung sợ
nhiều nhà
đem sách cũ ra đốt
chỉ vì
sợ trong đó
có một chữ nào đó
không đúng
khi khăn hy
tự minh cấm quyền
ông chọn
một con đường khác hẳn
thu phục sĩ phu
bằng chính văn hóa
của họ
ông học
kinh sách no ra
chăm chỉ hơn cả
nhiều học giả
ông mở khoa thi
đặc biệt
mời những bậc đại nho
từng không chịu ra
làm quan với nhà thanh
ông cho soạn
bộ minh sử
chính thức
mời người Hán
cùng chấp bút
ông cho biên soạn
khăng hy tự điển
rồi cổ kim
đầu thư tập thành
những công trình
đầu sộ
thu hút
hàng trăm học giả
ông còn đích thân
tới Tế Lăng Chu Nguyên Trương
vị vua
khai sáng nhà minh
để tỏ lòng
tôn trọng
triều đại cũ
nhiều người cho rằng
đó là một
nước cờ khôn ngoan
giữa các sĩ phu
bận rộn
với sách vở
của triều đình
thì họ
sẽ không viết
thứ sách vở
chống lại triều đình
suốt mấy chục năm
dường như khăng hy
đã thành công
giới sĩ phu
dần chấp nhận
nhà thanh
nhưng dưới lớp vỏ ấy
nỗi sợ
vẫn có
năm khăng hy thứ 50
có một vị Hán Lâm
tên là
Đới Danh Thế
học vấn
uyên bác
đỗ bảng nhãn
khi đã ngoài 50
nhiều năm trước
ông từng y một tập văn
tên là
Nam Sơn Tập
trong đó
khi chép chuyện
cuối đời minh
ông dùng niên hiệu
của các vua nam minh
những người đã
chống lại nhà thanh
một viên ngữ sử
dâng sớ tố giác
bộ hình nghi án
theo luật đại nghịch
Đới Danh Thế
bị xử tội nặng nhất
họ hàng
đều bị liên lụy
cả những người
viết lời tựa
người khắc bản
theo bản án ấy
hàng trăm người
sẽ phải chết
hoặc bị lưu đẩy
Khang Hy
xem xét
suốt gần 2 năm
cuối cùng
ông giảm nhẹ
cho phần lớn
người liên quan
chỉ riêng Đới Danh Thế
vẫn bị xử tự
người viết lời tựa
là Phương Bao
đã bị kết án
nhưng Khang Hy
tiếc tài
tha tội
đưa ông vào
làm việc trong cùng
về sau
Phương Bao
trở thành một
trong những nhà văn
lớn nhất đời thành
10 đời sau
nhiệm vụ án ấy
từ 2 phía
có người nói
Khang Hy đã khoan dung
vì so với
bản án của bộ hình
ông tha cho
hàng trăm người
so với những gì
con trai ông
là ung chính
và cháu nội Cán Long
làm sau này
với hàng trăm vụ
văn tự mục
ông quả là nhẹ tay
nhưng cũng có người nói
điều ngược lại
chính ông đã cho thấy
chỉ vài chữ
trong một cuốn sách cũ
cũng đủ
để mất đầu
và từ đó
giới sĩ phu
học cách im lặng
người ta không còn
dám chép sử tư
người ta viết
chú giải kinh sách
khảo cứu chữ nghĩa
tránh xa
mọi chuyện đương thời
một vị vua yêu sách
đã dạy cả
một thế hệ học giả
biết sợ sách
nhưng nỗi sợ
lớn nhất
cuối đời Khang Hy
không nằm trong sách vợ
nó nằm
ngay trong nhà ông
giữa chính
những người con trai
của ông
người đã bắt được Ngao Bái
dẹp được Tam Phiên
thu được Đài Loan
đánh lôi quân Nga
đuổi Cát Nghĩ Đàn
tới chết
nhưng
có một cuộc chiến
mà ông không bao giờ
thắng được
đó là cuộc chiến
giữa chính
các con trai ông
hai lần lập thái tử
hai lần phế bỏ
có lúc
trước mặt quần thần
vị Hoàng Vế Già
khóc đến ngã quỵ
xuống đất
người đời sau
gọi cuộc tranh giành ấy
bằng bốn chữ
cử tử đoạt đích
9 người con trai
giành ngôi thái tử
không ai trong số họ
cầm gươm
giết anh em
khi cha còn sống
nhưng
họ hãm hại nhau
bằng những thứ
đáng sợ không kém
bé đảng
tố giác
vù cáo
cả bồ chú
vì sao
người cha thành công
bậc nhất lịch sử Trung Hoa
lại không giữ được
hòa khí
trong chính nhà mình
để hiểu
phải quay về
một cái chết
và một lời hứa
khẳng hì
có hơn 30 người con trai
nhưng
người con ông thương nhất
là Dận Nhưng
mẹ của Dận Nhưng
là Hoàng Hậu Hách Xa Lý
người vợ đầu tiên của ông
cô cháu nội
của Sách Ni
mà bà nội Hiếu Trang
đã chọn cho ông năm xưa
bà qua đời
ngay trong ngày sinh ra Dận Nhưng
khi mới 22 tuổi
khẳng hì đau đớn
và chỉ hơn một năm sau
giữa lúc loạn tàm phiên
đang cháy bỏng
ông lập đứa con trai
chưa đầy 2 tuổi ấy
làm Hoàng Thái Tử
cậu bé ấy
sẽ là vị Thái Tử duy nhất
được lập công khai
trong suốt lịch sử nhà thanh
khẳng hì tự tay
dạy dỗ Dận Nhưng
ông dạy con đọc kinh sách
cưỡi ngựa
bắn cung
ông chọn những bậc đại nho
giỏi nhất làm thầy
khi thân trinh đánh cắt nhị đan
ông giao cho Thái Tử
ở lại Kinh Thành Giám Quốc
và đêm nào
cũng viết thư về cho con
Dận Nhưng lớn lên thông minh
giỏi văn
giỏi võ
nghì lễ
dành cho Thái Tử
được nâng lên
gần ngang với Hoàng Đế
nhưng làm Thái Tử
suốt mấy chục năm
người ta dễ mất kiên nhẫn
quanh Thái Tử
dần hình thành một bé đạng
đứng đầu
là Sách Nạch Đồ
người chú
của Hoàng Hậu
năm xưa
cũng chính là người
từng giúp Khang Hy
bắt ngao bái
có người
bắt đầu thì thầm rằng
Thái Tử
chờ đợi đã quá lâu
Khang Hy nghe hết
ông cho bắt
Sách Nạch Đồ
giam cho tới chết
người từng giúp ông
giành lại Ngai Vàng
năm mười lăm tuổi
giờ chết trong ngục
vì chính
trước Ngai ấy
người cha
bắt đầu nhìn
con trai mình
bằng con mắt khác
năm Khang Hy
năm mươi tư tuổi
trong một chuyến
đi săn mùa thu
ở vùng săn Mộc Lan
phía Bắc
người con trai
thứ mười tám của ông
lâm bệnh qua đời
Khang Hy đau lòng
nhưng ông thấy giận nhưng
dường như
chẳng mấy sót thương em
rồi có người báo rằng
ban đêm
Thái Tử
lén đến gần lèo của vua
vé mắt
nhìn qua khe lèo
với một vị vua
từng trải qua bao âm mưu
đó
là điều không thể tha thứ
ngay tại doanh trại
trước mặt
các vương công đại thần
Khang Hy tuyên bố
phế Thái Tử
ông vừa nói vừa khóc
rồi
ngã quỵ xuống đất
trong chiếu phế
ông viết rằng
mình không biết hôm nay
có bị đầu độc
hay
ngày mai
có bị ám hại
33 năm làm Thái Tử
của giận nhưng
kết thúc
trong một đêm
nhưng
chiếc ghế trống ấy
không làm chiều đình yên
nó
chỉ mở màn
cho một cuộc chiến
lớn hơn
người con trưởng là giận đề
lập tức đề nghị
giết giận nhưng
để trừ hậu họa
Khang Hy
kinh hoàng
ông bắn người con trưởng
là kẻ bắt nhân
vì chỉ kẻ bắt nhân
mới đòi giết
em ruột của mình
rồi người con thứ 3
tố giác chính giận đề
đã mời lạc ma
làm bùa chú
hại Thái Tử
giận đề bị giam suốt đời
người con thứ 8
là giận tự
hiền hòa
khéo léo
được lòng quần thần
khi vua cho các đại thần
tiến cử người kế vị
gần như cả chiều
nêu tên giận tự
Khang Hy nổi giận
ông thấy con trai mình
đã có bè đảng
mạnh hơn cả ý vua
rồi ông quay lại
với người con cũ
ông nói
giận nhưng trước kia
làm điều sai
là do bị bùa chú
làm cho mê muộn
năm sau
giận nhưng được lập lại
làm Thái Tử
nhưng chỉ 3 năm sau
bè đảng quanh Thái Tử
lại nổi lên
lần này
Khang Hy phế con lần thứ 2
và giam cấm suốt đời
từ đó
Khang Hy không lập Thái Tử nữa
ai dừng xớ
xin lập người kế vị
đều bị trách phạt
các hoàng tử
chia bè kết phái
giận tự
cùng các em giận đường
giận ngã
lập thành một phe
người con thứ 14
được phong đại tướng quân
dẫn quân đi Tây Tạng
giành tiếng nổ như cồn
còn người con thứ 4
là giận chân
thì lặng lẽ
tỏ ra
không mang quyền lực
tụng kinh nghiệm Phật
chăm lo việc được giao
không ai biết
người cha giả đang nghĩ gì
Khang Hy từng nói rằng
ông không mong gì hơn
là các con được yên ổn
nhưng chính ông
người trị vì quá lâu
có quá nhiều con trai
và từng lập Thái Tử quá sớm
đã vô tình dựng nên cuộc chiến ấy
lỗi đau lớn nhất
của ông vua thành công nhất
không đến từ kẻ thù
và rồi
vào một đêm mùa đông
ở vườn Sướng Xuân
câu hỏi
ai sẽ nối ngôi
phải có lời giải đáp
một đêm mùa đông
ở vườn Sướng Xuân
ngoại ô Bắc Kinh
vị hoàng đế trị vì
lâu nhất lịch sử Trung Hoa
chút hơi thở cuối cùng
61 năm trên ngày vàng
và cho tới đêm ấy
ông vẫn chưa công khai
ai sẽ nối ngôi
sáng hôm sau
cả triều đình
nghe tên người kế vị
hoàng tử thứ tư
giận chân
người lắng lẽ nhất
trong các anh em
người mà
nhiều kẻ không hề để ý tới
Ngày lập tức
loài đồn nổi lên
người ta thì thầm rằng
bản di chiếu đã bị sửa
rằng vua cha
vốn muốn truyền ngôi
cho người con thứ 14
đang cầm quân
ở Tây Tạng xa xôi
rằng chỉ cần thêm
một nét bút
cả số phận
của một đế quốc
đã đổi khác
Loài đồn ấy
sống dài suốt 300 năm
nó đi vào giã sử
vào tiểu thuyết
vào phi mạnh
vậy chuyện gì
đã thật sự xảy ra
trong đêm ấy
và sau 61 năm
rốt cuộc Khang Hi
là một thánh quân
hay một người cha
thất bại
để trả lời
phải quay về
những ngày cuối cùng
của ông
mùa đông năm ấy
Khang Hi đã 68 tuổi
ông vẫn giữ thói quen cũ
đi săn ở Nam Ưển
ngoại ô Kinh Thành
giữa chuyến đi
ông cảm lạnh
rồi được đưa về
nghỉ ở vườn Sướng Xuân
không ai nghĩ
đó là cơn bệnh cuối cùng
một người cưỡi ngựa
bắn cung
vượt sa mạc
suốt cả đời
cuối cùng
ngã xuống
vì một trận cảm lạnh mùa đông
mấy ngày trước khi mất
Khang Hi say hoàng tử thứ 4
giận chân
thay mình tới đàn thiên đàn
làm lễ tế trời
vào tiết đồng chí
đó là một trong những nghi lễ
trọng đại nhất của thiên tử
nhiều sử gia coi đó
là một dấu hiệu
những năm cuối
Khang Hi
cũng giao cho giận chân
nhiều việc khó
từ cha xét kho lương
tới thay vua đi tế lễ
rồi bệnh trở nặng
đêm ấy
các hoàng tử
được gọi tới bên giường bệnh
người công bố di mệnh
là Long Khoa Da
chỉ huy quân canh giữ Kinh Thành
cũng là cậu của giận chân
theo vai vế trong hoàng tộc
theo lời ông
nhà vua đã nói
hoàng tử thứ 4
nhân phẩm quý trọng
rất giống trẫm
át có thể kế thừa đại thống
Khang Hi qua đời trong đêm
giận chân lên ngôi
lấy niên hiệu
ung chính
người con thứ 14
đang ở tận Tây Tạng
khi nhận tin về
tới Kinh Thành
thì mọi việc đã xong
ông quỷ trước linh cựu cha
rồi bị giữ lại
không bao giờ
được cầm quần nữa
chuyện Sứa Di Chiếu
nổi tiếng nhất
kể rằng
trong chiếu
vốn viết
truyền ngôi cho hoàng tử thứ 14
chỉ cần sửa chữ thập
tức là 10
thành chữ vu
nghĩa là cho
câu chiếu
lên thành
truyền ngôi
cho hoàng tử thứ 4
nghe rất hợp lý
nhưng các sử gia
đã chỉ ra
nhiều chỗ không ổn
chiếu chỉ nhà Thanh
luôn phải ghi 2 chữ
hoàng tử
trước thứ bậc
sửa một nét
không đủ
chữ vu
trong văn bản chính thức
thời ấy
viết theo lối khác
không thể sửa
từ chữ thập mà ra
và quan trọng hơn
chiếu chỉ
được viết song song
bằng cả chữ mãn
mà chữ mãn
thì không sửa
theo cách ấy được
bản Di Chiếu
còn lưu giữ đến nay
được soạn
sau khi vua mất
sự thật
có lẽ
vẫn nằm trong
những lời nói cuối cùng
mà chỉ vài người
được nè
nhưng câu chuyện sửa chữ
nhiều khả năng
chỉ là giã sửa
dù thế nào
những gì xảy ra sau đó
còn đáng nói hơn
ủng chính lên ngôi
và xử lý
các anh em
từng tranh giành với mình
người em thứ 8
giận tự
và thứ 9
giận đường
bị giam cấm
bị đổi tên
thành những cái tên
nhục mạ
rồi chết trong ngục
người em thứ 14
bị đưa đi
giữ làng mộ
vua cha
thái tử cũ
giận nhưng
qua đời
trong nơi giam cấm
cuộc chiến
mà Khang Hi
không dẹp được
lúc sinh thời
đã kết thúc
theo cách tàn nhẫn nhất
rồi
ủng chính
là một việc
để ngăn bi kịch lặp lại
ông viết tên người kế vị
niềm phong
trong một chiếc hộp
đặt trên xà cao
phía sau tấm biển lớn
trong viện khán thành
chỉ khi vua mất
mới được mở ra
không còn thái tử công khai
không còn bé đảng
vây quanh một người
bài học đầu đớn nhất
của Khang Hi
đã trở thành luật
của nhà thành
vậy Khang Hi
là thánh quân
hay người cha thất bại
có lẽ
là cả hai
ông nhận
một đế quốc
non trẻ
dối ghen
và để lại
một đế quốc
rộng lớn
yên ổn
giàu có
mở đầu
thời thịnh trị
mà người đời sau
gọi là Khang Cản
thịnh thế
ông dám quyết
dám nhận sai
biết thắng
và biết rừng
nhưng chính ông
cũng giết người
vì con chữ
giữ trí thức
phương Tây
cho riêng mình
và không giữ được
hòa khí
trong chính nhà mình
Cuối đời
ông còn cấm thuyền
buôn ra biển phương Nam
và trục xuất
phần lớn giáo sĩ
khép dần cánh cửa
mà chính ông
từng hé mở
Người cháu nội Càn Long
khi làm vua
được 60 năm
đã tự thoái vị
vì không dám trị
vì lâu hơn ông nội
61 năm ấy
vẫn là con số
chưa ai vượt qua
một cậu bé sông sót
nhờ căn bệnh đậu mùa
đã trở thành vị hoàng đế
định hình Trung Hoa
cho tới tận ngày nay
