Nhân loại đã xây dựng hàng nghìn năm văn minh, không ngừng chiến thắng sự mông muội hoang dã (dã man), khiến “kẻ thù truyền kiếp” ấy lùi xa khỏi cuộc sống của chúng ta. Nhưng thứ ngày nay có thể hủy diệt nhân loại văn minh lại chính là sự “tự hủy” do chính con người văn minh đánh mất đạo đức gây ra.

1. Nguy cơ lớn nhất của văn minh bắt nguồn từ lòng tham của chính con người

Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, Abraham Lincoln, trong một bài diễn thuyết “Lyceum Address” nổi tiếng đã chỉ ra rằng thứ có thể đe dọa nước Mỹ tuyệt nhiên không phải là thế lực bên ngoài. Ông không e sợ quân đội của các quốc gia khác trên thế giới. Ông nói:

“Vậy thì đến thời điểm nào chúng ta sẽ thấy hiểm họa đang đến gần? Nếu để tôi trả lời: nếu hiểm họa có đến, thì nó chỉ có thể phát sinh từ giữa chúng ta. Nó sẽ không đến từ nước ngoài. Nếu diệt vong là số phận của chúng ta, thì chỉ chính chúng ta mới là kẻ khởi đầu và kẻ kết thúc số phận ấy. Là một dân tộc gồm những con người tự do, chúng ta hoặc trường tồn cùng thế gian, hoặc tự hủy diệt chính mình.”

Cùng một đạo lý đó, thứ có thể đe dọa nền văn minh mà nhân loại đã trải qua hàng nghìn năm xây dựng chỉ có thể là khiếm khuyết do chính con người văn minh gây ra.

Khi giá trị tự do chiến thắng giá trị bạo lực

Văn minh nhân loại đến nay đã đi qua năm nghìn năm lịch sử. Ít nhất từ “Thời đại Trục” (Axial Age), con người ở các khu vực khác nhau trên thế giới đã biết dùng phương thức đạo đức để đối đãi với những vấn đề họ gặp phải, đã xây dựng nên một số giá trị chung vượt lên trên các nền văn minh khu vực, những giá trị căn bản như: đốt phá, giết chóc, cướp bóc, lừa gạt là vô đạo đức. Mấy nghìn năm qua, nhân loại chính là thông qua việc kháng cự, tẩy chay, tránh xa những phương thức chiếm đoạt dã man như đốt giết cướp bóc, cưỡng đoạt lừa lọc mà phát triển, học hỏi khái niệm văn minh cùng nội hàm của nó.

Văn minh phương Tây bắt rễ từ văn hóa cộng hòa của thành bang Hy Lạp cổ đại, sau thời Phục Hưng cận đại đã dần xác lập lý niệm mọi người được Thượng Đế tạo ra bình đẳng, đồng thời phát triển nên chế độ công hòa hiện đại để bảo đảm những quyền thuộc về văn minh của con người. Dù vậy, dục vọng của con người đối với lợi ích vẫn lớn đến mức khó lòng từ bỏ phương thức cướp đoạt dã man, đến nỗi xã hội phương Tây, vốn cùng thừa nhận lý niệm tự do nhân quyền, còn phải trải qua hàng trăm năm chiến tranh và hai cuộc thế chiến mới học được cách chung sống theo phương thức văn minh. Trên phạm vi thế giới, cuối cùng mới xuất hiện nhận thức văn minh rằng “giữa các quốc gia tự do khó xảy ra chiến tranh” và niềm hy vọng hòa bình của nhân loại, xuất hiện thế giới tự do phương Tây đại diện cho niềm hy vọng ấy.

Sau đó lại trải qua gần nửa thế kỷ Chiến tranh Lạnh, thế giới tự do phương Tây mới chiến thắng phe chủ nghĩa cộng sản; nhân loại cuối cùng có thể thực hành lý tưởng sản xuất theo phương thức văn minh, thay vì cái gọi là “bạo lực cách mạng”. Quả thực, khi hệ giá trị tự do, nhân quyền, kinh tế tự do chiến thắng chủ nghĩa cộng sản vào thập niên 90 của thế kỷ trước, dường như đã không còn gì có thể ngăn cản nhân loại bước vào một giai đoạn văn minh mới.

Sự xuất hiện của “dã man hào phóng”

Mấy nghìn năm qua, sự kháng cự, tẩy chay của nhân loại đối với dã man, xét cho cùng chủ yếu xuất phát từ nỗi thống khổ và bất cam khi bị nô dịch, cướp bóc, chứ không phải từ sự tự giác vứt bỏ nguyên nhân thật sự đằng sau sự cướp đoạt dã man, vốn chính là lòng tham. Vì thế, khi Trung Cộng, tàn dư của phe cộng sản, xuất hiện dưới dạng một thứ “dã man hào phóng” mà nhân loại chưa từng thấy, nhân loại lại không biết ứng phó thế nào trước sự cám dỗ này.

Cả thế giới đều biết sự dã man của Trung Cộng. Thế nhưng, từ khi Giang Trạch Dân cầm quyền, sự dã man của Trung Cộng không còn giống kiểu dã man của Hitler hay Stalin – dùng vũ lực đe dọa thế giới bên ngoài. Sự dã man của Trung Cộng chỉ nhắm vào bên trong lãnh thổ Trung Quốc. Trung Cộng chẳng những không đe dọa bên ngoài, ngược lại còn rất hào phóng, sẵn lòng đem một phần lợi ích thu được từ việc nô dịch, cướp bóc dưới ách cai trị của nó ra chia sẻ với thế giới. Điều kiện duy nhất cũng chẳng khắc nghiệt gì: chỉ cần không xen miệng vào chuyện nó đốt giết cướp bóc, cưỡng đoạt lừa lọc trong lãnh thổ của nó là được. Phần chia lợi ích dễ dàng có được thì to lớn đến thế, còn nỗi khổ của người khác (người Trung Quốc) thì xa xôi đến thế. Sự lựa chọn ở giữa “thật đơn giản” và “có vẻ vô hại”, đến nỗi không một chính phủ nào của thế giới tự do có thể cưỡng lại được sự cám dỗ của Trung Cộng.

Sự cám dỗ của Trung Cộng thời Giang không phải là phương lược trị quốc hay ngoại giao cao minh gì. Ngược lại là đằng khác, nó là sản phẩm của việc Giang Trạch Dân, đứng trước tình cảnh khốn đốn kép cả trong lẫn ngoài, khi Trung Cộng mất tính chính danh cầm quyền ở trong nước lẫn trên trường quốc tế, còn bản thân ông ta thì hoàn toàn không có năng lực trị quốc lẫn uy tín, vì tư dục cá nhân mà ở trong nước thì buông tay cho tham nhũng để xây dựng nền tảng quyền lực cá nhân, ở quốc tế thì bán rẻ lợi ích quốc gia của Trung Quốc để đổi lấy sự mặc nhận và thỏa hiệp quốc tế.

Điều này nói một cách hình tượng là giống hệt như “đại dâm phụ” được miêu tả trong sách Khải Huyền của Kinh Thánh. Sách Khải Huyền mô tả rằng đại dâm phụ có quan hệ gian dâm với các vua trên mặt đất. Các dân tộc bị ảnh hưởng bởi sự gian dâm của “đại dâm phụ”, trong khi các thương nhân trở nên giàu có nhờ sự xa hoa của nó. Trung Cộng dưới thời Giang quả thật chính là như vậy.

Tranh khắc gỗ của họa sĩ Albrecht Dürer mô tả đại dâm phụ ngồi trên con thú bảy đầu, mê hoặc các vị vua, phía xa là vương quốc đang bốc cháy, trong khi các Thiên Thần xuất hiện trên bầu trời loan báo sự trừng phạt của Thiên Chúa. (Nguồn: Metropolitan Museum of Art, Public Domain)

Màn bi thảm nhất của văn minh nhân loại: Văn minh sùng bái dã man

Vậy thì, phần chia lợi ích với điều kiện chẳng khắc nghiệt, có vẻ vô hại kia, có thật sự vô hại không?

Khi thế giới tự do nhận phần chia lợi ích từ Trung Cộng, họ đối diện thế nào với lịch sử kháng cự, tẩy chay sự dã man của chính mình? Khi thế giới tự do phương Tây vì lợi ích mà đành phải im lặng gật đầu trước hành vi dã man chà đạp nhân quyền của Trung Cộng, họ tự biện giải thế nào với những giá trị cốt lõi đại diện cho lý niệm của thế giới tự do phương Tây? Thế là, văn minh nhân loại xuất hiện màn kịch không thể tưởng tượng nổi mà cũng bi thảm nhất: văn minh ca tụng dã man. Trong những năm qua, những lời tán dương của thế giới tự do phương Tây dành cho đủ loại “tiến bộ” của Trung Cộng xuất hiện không ngớt, thậm chí còn tổng kết thành “mô hình Trung Quốc” để tâng bốc và thèm khát ngưỡng mộ. Rồi lấy “mô hình Trung Quốc” làm căn cứ để phê phán hệ giá trị phương Tây, thậm chí cho rằng “mô hình Trung Quốc” sẽ “thống trị thế giới” (rule the world).

Cùng với sự đổ đài của Bạc Hy Lai và sự vỡ mộng của “mô hình Trùng Khánh”, “mô hình Trung Quốc” đã không còn thị trường gì nữa, bản thân điều này đã đủ chứng minh “mô hình Trung Quốc” chỉ là trò thổi phồng nhất thời, luận điểm của nó thậm chí không chịu nổi thử thách trong thời gian ngắn.

Còn nhìn từ những nội tình được tiết lộ, một trong những nguyên nhân của việc thổi phồng cái gọi là “mô hình Trung Quốc” là Trung Cộng mua chuộc thương nhân, truyền thông phương Tây để tiến hành tuyên truyền lừa dối theo kiểu “xuất khẩu rồi chuyển về tiêu thụ nội địa” cho thứ logic cường đạo “thành tích chứng minh tính chính danh cầm quyền” của nó.

Nhưng điều không thể bỏ qua là việc tâng bốc “mô hình Trung Quốc” đã có tác dụng che đậy sự xấu hổ cho việc thế giới tự do nhận phần chia lợi ích từ Trung Cộng. Hiện tượng này có thể là ngắn ngủi, có thể chỉ do một bộ phận người làm ra, có thể có đủ loại nguyên nhân phức tạp, nhưng nó lạnh lùng nói rõ một sự thật: vì lợi ích, nhân loại văn minh có thể lấy lòng dã man, có thể ca tụng dã man, có thể phủ định giá trị văn minh của chính nhân loại, và tất cả những điều này bắt nguồn từ lòng tham của con người.

Đây chẳng phải là nguy cơ lớn nhất của văn minh sao?

Thể chế mang tính tham nhũng mà họ Giang thi hành khi cầm quyền cùng cuộc đàn áp Pháp Luân Công, thứ “thành tích” ấy đã hủy hoại nền văn minh cổ xưa năm nghìn năm của Trung Quốc trong chốc lát, khiến đạo đức xã hội Trung Quốc sụp đổ đến mức ngay cả văn minh bề ngoài, đạo đức bề ngoài cũng chẳng còn kiêng dè gì nữa. Hậu quả tệ hại ai cũng thấy, hiện trạng khiến người ta kinh tâm động phách. Sự hủy diệt văn minh bằng dã man kiểu này lấy bạo lực và lòng tham làm nền tảng, trực tiếp và trần trụi. Rất nhiều dân chúng của thế giới tự do phương Tây trước việc đạo đức xã hội Trung Quốc sụp đổ đến mức độ ấy vừa kinh ngạc vừa khó hiểu: Chẳng lẽ người Trung Quốc không còn chút kiêng dè nào sao?

Thế nhưng, sự xuống dốc đạo đức trên phạm vi toàn cầu do Trung Cộng thời Giang câu dẫn lòng tham của con người trên trường quốc tế gây ra, sự xói mòn các giá trị căn bản mà nó tạo thành thì vẫn bị lòng tham của con người che mắt, thậm chí bị sự kiêng dè bề ngoài che đậy. Nếu người ta có thể xuyên qua sự kiêng dè bề ngoài để nhìn vào tình trạng đạo đức của thế giới tự do phương Tây, nhìn vào hệ giá trị của xã hội dân chủ phương Tây, nơi vẫn được rất nhiều người Trung Quốc coi là niềm hy vọng tương lai của xã hội Trung Quốc, thì những phá hoại tầng sâu về mọi mặt do sự câu dẫn của Trung Cộng thời Giang và lòng tham của nhân loại gây ra có lẽ còn khiến người ta kinh hãi hơn nữa.

2. Sự sụp đổ đạo đức khi thành tín không còn

Sự bất trung với đạo đức tạo thành tổn thương sâu sắc nhất cho xã hội

Như đã nói ở trên, việc phương Tây tâng bốc và thèm muốn “mô hình Trung Quốc” chỉ là ngắn ngủi, nhưng việc thế giới tự do phương Tây nhận phần chia lợi ích từ Trung Cộng thì xuyên suốt hàng chục năm qua. Trong xã hội phương Tây tự có những nhân vật thông minh, họ không hề ngưỡng mộ sự dã man của Trung Cộng, họ cho rằng mình hoàn toàn hiểu rõ Trung Cộng. Họ tự tin rằng xét theo thực lực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, họ hoàn toàn có thể nắm Trung Cộng trong lòng bàn tay, cho nên chỉ là đang lợi dụng Trung Cộng để mưu lợi cho quốc gia của họ.

Vì cái lợi ích “lớn hơn” là quốc gia, họ chỉ mang tính sách lược mà miễn cưỡng chu toàn với Trung Cộng, tùy nhu cầu mà lúc thì khen ngợi một chút, lúc thì phê bình một chút, chẳng qua là diễn kịch theo hoàn cảnh mà thôi. Nào ngờ, thành tín cũng là giá trị nền tảng tất yếu của văn minh, và sự bất trung với thành tín của những nhân vật thông minh này lại chính là thứ tạo thành tổn thương sâu sắc nhất cho xã hội mà họ đang sống.

Đạo đức đương nhiên có ý nghĩa xã hội của nó, và ở một hình thức nhất định được ngoại hóa thành giá trị, nguyên tắc, pháp luật, chính sách, chuẩn mực hành vi, quy tắc ngành nghề, v.v., vốn là những quy phạm chỉ đạo hành vi của xã hội và cộng đồng. Xét từ bản chất nhất, đạo đức trước hết nhất định phải thể hiện thành tiêu chuẩn tự thân và sự tự ước thúc bên trong của cá thể. “Thận độc” mà sĩ đại phu Trung Quốc cổ đại nói đến, “danh dự thiêng liêng” mà Jefferson viết trong câu cuối cùng của “Tuyên ngôn Độc lập”, đều chỉ tầng bên trong của đạo đức: sự tự ước thúc, tự trung thành. Tầng bên trong của đạo đức quyết định biểu hiện ngoại hóa của đạo đức. Không có tấm lòng của Khổng Tử thì không nói được câu “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn thì đừng làm cho người); không có cảnh giới của Chúa Giê-su thì không nói được câu “muốn người làm cho mình thế nào, hãy làm cho người thế ấy”. Điều “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên cáo là những giá trị mà các vị cha lập quốc Hoa Kỳ thật lòng tuân theo trong nội tâm; còn việc Lincoln khởi thảo và ký “Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ” chính bắt nguồn từ sự trung thành và tín thủ của ông đối với tinh thần lập quốc của nước Mỹ.

Tầng bên trong của đạo đức quyết định rằng đạo đức hoàn mỹ nhất định là tự trung thành với chính mình và tuyệt không tự lừa dối, mà kẻ lừa người thì trước hết ắt phải tự lừa mình. Trong một cộng đồng xã hội, sự trung thành và cống hiến đối với những giá trị được công nhận của nó phản ánh sự thành tín hay không ở tầng đạo đức bên trong của họ. Khi một xã hội mà ngay cả những giá trị, nguyên tắc thuộc tầng bên ngoài của đạo đức cũng không thể hoàn toàn thành tín tuân thủ, thì những giá trị, nguyên tắc ấy ở tầng bên trong đạo đức của họ từ lâu đã chẳng còn gì. Khi họ cần dùng pháp luật, vốn là thứ bên ngoài của đạo đức, để biện minh cho hành vi của mình, thậm chí sửa đổi pháp luật để bảo vệ chính mình, thì thứ họ tin trong lòng từ lâu đã là thứ họ thật sự cần che giấu rồi.

Sự tự lừa dối ở tầng bên trong của đạo đức, sự giả dối đối với giá trị căn bản của thế giới tự do, chính là thứ xuyên suốt những gì thế giới tự do đã làm trong mấy chục năm qua trước sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng. Vết máu thảm sát Thiên An Môn còn chưa khô, chính phủ Mỹ đã bí mật phái đặc sứ đến Bắc Kinh. Dù lời phê bình sự mềm yếu trong chính sách với Trung Cộng của người tiền nhiệm còn văng vẳng bên tai, chính phủ Mỹ đã tách vấn đề nhân quyền của Trung Cộng khỏi thương mại. Để Trung Cộng có thể vào WTO, Đảng Cộng hòa thậm chí phá lệ ra lệnh yêu cầu các thượng, hạ nghị sĩ của mình phối hợp bỏ phiếu với tổng thống Đảng Dân chủ. Bộ Ngoại giao càng thẳng thừng, công khai tuyên bố vấn đề nhân quyền không nên cản trở sự hợp tác giữa Mỹ và Trung Cộng trong những vấn đề “quan trọng hơn”.

Song có thể thấy một hiện tượng rất tương tự: lấy Tổng thống Clinton làm ví dụ, lời phê bình của ông về tình trạng nhân quyền Trung Quốc khi tranh cử là thật, những nỗ lực nhân quyền thời kỳ đầu nhiệm kỳ cũng là thật; việc sau này dưới áp lực của giới thương mại ông không giữ vững được là chuyện về sau. Nhìn rộng ra, dù là Tổng thống Bush con hay Tổng thống Obama, cũng đều có sự suy biến tương tự. Sự chuyển biến bị ép buộc này phản ánh hiện thực của nước Mỹ: đó là bước thụt lùi lịch sử khi lợi ích của các tập đoàn thương mại thay thế đạo nghĩa, khi đạo đức xuống dốc thì lòng tham chiếm thế thượng phong. Những chuyện lợi ích làm thay đổi chính sách, tập đoàn lợi ích chủ đạo chính sách quốc gia, lợi ích thao túng đạo đức cầm quyền và lý tưởng quốc gia như thế, trong lịch sử Hoa Kỳ là hiếm thấy, mà ngày nay lại là thường thấy.

Nếu đã đến mức ngay cả sự kiêng dè bề ngoài cũng chẳng màng, thì tinh thần lập quốc của Hoa Kỳ chẳng còn gì. Tinh thần lập quốc của Hoa Kỳ không còn, thì an ninh quốc gia và lợi ích lâu dài của nước Mỹ cũng sẽ không còn.

Tất cả những điều tự mâu thuẫn này, từ những kẻ lấy danh nghĩa “lợi ích quốc gia” cho đến những kẻ biện hộ bằng việc thúc đẩy dân chủ nhân quyền cho Trung Quốc, lại chưa bao giờ giải thích nghiêm túc với nhân dân Trung Quốc và nhân dân Mỹ rằng cái “lợi ích quốc gia” ấy cụ thể là gì. Họ không thể giải thích hiện thực nhân quyền Trung Quốc ngày càng tồi tệ, càng không thể trả lời trước dân chúng rằng chính sách bao năm qua xuất phát từ cân nhắc “lợi ích quốc gia” đã dẫn đến kết cục lạnh lùng như thế nào: Trung Cộng ngày càng ngang ngược với thế giới tự do, đe dọa chính “lợi ích quốc gia” của thế giới tự do.

Cái luận điệu “một Trung Quốc phát đạt hùng mạnh là có lợi cho thế giới”, thậm chí phải lấy ưu điểm của “mô hình Trung Quốc” để giải thích vì sao thế giới tự do cạnh tranh không lại Trung Cộng dã man, tất cả đều là kiểu che đậy hoặc tự biện minh như vậy.

Ngoại hóa của đạo đức là thể hiện của đạo đức chân thật bên trong

Sự giả dối tinh vi đến đâu cũng không chịu nổi sự phơi bày của thời gian. Tất cả những lời lẽ và hành động của thế giới tự do phương Tây trước sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng, bao gồm cả những phê bình và kiến nghị về nhân quyền mà họ thỉnh thoảng đành phải đưa ra vì sự kiêng dè bề ngoài, sau hơn hai mươi năm mài giũa, thứ duy nhất còn lại trước sau như một chính là: nhận lấy lợi ích kinh tế mà Trung Cộng nhường cho, và nhường lợi ích chính trị cho Trung Cộng.

Những trao đổi lợi ích này đương nhiên từ lâu đã được tính toán rõ ràng, nắm chắc phần thắng. Chỉ có điều, sự bất trung với thành tín thể hiện trên thực tế, sự khiếm khuyết ở tầng bên trong của đạo đức, đồng thời với vẻ đường hoàng ở tầng bên ngoài của đạo đức, lại đang làm tấm gương đạo đức xấu nhất cho xã hội. Đây mới là tổn thương sâu sắc nhất đối với thế giới tự do. Hơn nữa, họ càng làm màu ở hình thức đạo đức bên ngoài thì tổn hại đối với giá trị bên trong của thế giới tự do càng lớn. Đây là điều họ chưa nhận thức được, hoặc không muốn nhận thức.

Không còn sự kiên thủ ở tầng bên trong của đạo đức, mất đi sự ước thúc của tiêu chuẩn đạo đức tự thân, thì hình thức đạo đức bên ngoài không thể lâu bền. Trong thế giới tự do ngày nay, đạo đức xã hội ngày càng xuống dốc đã trở thành vấn đề mọi người công nhận và ngày càng lo ngại, thế nhưng biểu hiện chủ yếu của sự xuống dốc đạo đức, nguyên nhân của sự xuống dốc đạo đức thì chưa ai nói cho rõ ràng.

Kỳ thực, sự tự lừa dối ở tầng bên trong của đạo đức chính là biểu hiện chủ yếu nhất và nguyên nhân căn bản của sự xuống dốc đạo đức. Đương nhiên nguyên nhân dẫn đến sự xuống dốc đạo đức của thế giới tự do là nhiều mặt, nhưng lòng tham bộc lộ ra vì sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng lại đang xói mòn lý niệm giá trị của thế giới tự do một cách tập trung và nhanh chóng nhất, và trong quá trình đó thể hiện sự giả dối đáng kinh ngạc.

Cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Thụy Sĩ Shelby Cullom Davis trong một bài diễn thuyết với chủ đề “Danh dự thiêng liêng” đã chỉ ra: ngày nay ở nước Mỹ, đã không còn tìm được năm mươi sáu con người sẵn lòng lấy sinh mệnh, tài sản ra thề nguyện như những người đã ký bản Tuyên ngôn tự do của nước Mỹ thuở ban đầu nữa. Còn nói đến “danh dự thiêng liêng”, đối với rất nhiều người, điều đó đã xa lạ như thuộc về một thời đại khác, một nền văn hóa khác. Một con người và một xã hội mà với chính mình còn không thể trung thành, thì liệu có còn trung thực với bất kỳ giá trị nào khác, kể cả tín ngưỡng tôn giáo của mình không?

3. Sự chiếm đoạt lợi ích không cần chịu trách nhiệm

Patrick Henry, người nổi tiếng với câu nói “Không có tự do, thà chết”, từ nhỏ đã được người chú là một mục sư dạy nguyên tắc đạo đức Kitô giáo như sau:

“Sống chân thật và công chính trong mọi giao dịch, không nuôi dưỡng ác ý hay thù hận, không trộm cắp hay tham muốn tài sản của người khác, mà phải học tập và lao động chân chính để tự lập, làm tròn bổn phận trong hoàn cảnh sống mà Thiên Chúa đã kêu gọi mình đảm nhận.”

Ai cũng biết, việc thế giới tự do vào cuối thế kỷ 20 có thể chiến thắng chủ nghĩa cộng sản thì có một yếu tố then chốt là thể chế kinh tế thị trường được xây dựng trên nền tảng công bằng, đối đẳng, nhân đạo, minh bạch, công ích, có trách nhiệm, với ưu thế to lớn về phát triển kinh tế và dân sinh; so với sự chuyên chế, nô dịch, áp bức, cường quyền của chủ nghĩa cộng sản. Và tín điều Patrick Henry tâm niệm chính là nền tảng đạo đức cho hoạt động kinh tế của con người trong thế giới tự do.

Trách nhiệm đạo đức và xã hội mà con người phải gánh trong hoạt động kinh tế bị tách rời

…..

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-13-1-long-tham-cua-nhan-loai-su-sup-do-cua-van-minh.html