TRUMP TUNG ĐÒN PHẢN CÔNG NGAY SÂN SAU TRUNG QUỐC, LẬT NGƯỢC BÀN CỜ CHÂU Á

Tri Thức Mới
2.1K người theo dõi
822 Lượt xem video·28 thg 10, 2025
Chào mừng quý vị trở lại với Chí Thức Mới, tôi là Lê Minh.
Thưa quý vị, Ngày 25 tháng 10, truyền thông đã đồng lật đưa tin về chuyến công du của Tổng thống
Mỹ Donald Trump tới châu Á, và điểm dừng chân của ông đầu tiên là Kuala Lumpur vào ngày 26 tháng 10.
Ngày 27 tháng 10 thì ông đã rời Kuala Lumpur để mà tham dự hội nghị thượng đỉnh các
nhà lãnh đạo ASEAN. Sau đó thì tới Nhật Bản để gặp Tân Thủ tướng Nhật Bản là bà Sanae Takachi.
Đứng dưới góc độ của một nhà phân tích chiến lược và địa chính trị thì chúng ta không khỏi thắc mắc là tại
sao ông ấy lại chọn điểm dừng chân đầu tiên của mình là Malaysia và mục đích chiến lược của ông Trump là gì?
Thì hôm nay chúng ta sẽ cùng giải mãi câu chuyện đó các quý vị nhé.
Ta biết là Malaysia nó nằm ngay ở cửa ngõ eo biển Malacca, nơi được xem là huyết mạch hàng hải
của châu Á. Mỗi năm có khoảng 1 phần tư thương mại toàn cầu đi qua tuyến đường đó.
Và Trung Quốc thì phụ thuộc nặng nề vào nó để nhập khẩu dầu mỏ từ Trung Đông cũng như
là xuất khẩu hàng hóa sang phương Tây. Đó cũng là con đường buôn bán huyết mạch của Trung Quốc đó.
Chính vì thế, trong tư duy chiến lược của Hoa Kỳ thì Malacca nó là một cái điểm ngẹn vàng. Và nếu nắm
được ảnh hưởng ở đây thì họ có thể kiểm soát nhịp thở của chuỗi cung ứng khu vực,
và đặc biệt là có thể xiết cổ Trung Quốc bất cứ lúc nào.
Việc mà Trump đến Kuala Lumpur mang thông điệp rằng là Washington muốn hợp tác với Malaysia như là
một đối tác chủ chốt chứ không phải là áp đặt hiện diện. Khác với Singapore, vốn đã thân phương Tây,
thì Malaysia là một đất quốc gia trung lập chiến lược, theo đuổi cái chính sách đi dây giữa Hoa Kỳ
và Trung Quốc lâu nay. Vì vậy, nếu Hoa Kỳ có thể lôi kéo được họ về phía mình,
mà không làm họ mất mặt, thì đó là một cái thắng lợi ngoại giao rất tinh tế.
Trong các cuộc gặp với Thủ tướng Anwar Ibrahim thì ông Trump không nói nhiều về quân sự,
mà tập trung vào hợp tác thương mại, công nghệ cũng như là chuỗi cung ứng.
Đôi bên đã ký các thỏa thuận mở rộng sản xuất chiếc bắn dẫn, năng lược sạch và thiết bị y tế,
những lĩnh vực mà giúp cho Malaysia giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc. Đây là cách mà Hoa Kỳ họ
gỡ dần từng mắt xích trong cái chuỗi ảnh hưởng kinh tế của Bắc Kinh tại Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, ông Trump cũng đã khéo léo gắn chuyến thăm với các sự kiện khu vực như là hội nghị
ASEAN-Mỹ, qua đó nhấn mạnh rằng Washington tôn trọng vai trò trung tâm của ASEAN,
chứ không muốn chia rẽ khu vực. Điều này giúp Hoa Kỳ xây dựng được một cái hình ảnh đối tác
đáng tin thay vì một cái thế lực muốn can thiệp. Nó trái ngược với hình ảnh của Trung Quốc.
Đối với Mỹ thì lợi ích nó là rõ ràng rồi. Họ đã mở được cánh cửa vào Malacca,
mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á và có thêm đòn bẩy nếu cạnh tranh Mỹ-Trung leo thang.
Tuy nhiên nếu Mỹ đi quá xa, đặc biệt là biến Malacca thành một cái điểm quân sự,
thì họ có thể đụng vào giới hạn chủ quyền của các nước trong khu vực, khiến cho ASEAN cảnh giác.
Bởi vì ta biết ASEAN cũng là một cái tổ chức mà đang đi dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Về phía Malacca thì nước này cũng hưởng lợi khi mà có thêm được đầu tư công nghệ cũng như là vị
thế chính trị mới. Nhưng mà họ cũng phải đối mặt với sức ép từ Trung Quốc, đặc biệt là trong vấn đề
Biển Đông, nơi mà Bắc Kinh thường xuyên sử dụng các chiến thuật vùng sám để mà đe dọa
hoạt động khai thác dầu khí của Malaysia. Vì vậy, Huala Lumpur phải duy trì thế cân bằng
tinh tế để không biến mình thành một cái chiến trường của hai siêu cửa.
Lý do mà ông Trump chọn Malaysia thay vì chọn Singapore hay là Indonesia là bởi là
việc chọn Malaysia ấy, nó giúp ông Trump đạt được hiệu quả chính trị và chiến lược cũ lúc.
Singapore thì đã là một cái đồng minh cũ rồi, còn Indonesia thì quy mô lớn nhưng mà khó đoán về chính
sách, thậm chí họ lại còn ngả nghiêng hơn cả Malay. Malay thì có vị trí chiến lược ảnh hưởng
trong ASEAN và là quốc gia Hồi giáo ôn hòa, rất phù hợp để Hoa Kỳ thể hiện thông điệp tôn trọng
đa dạng và hợp tác bình đặc của mình. Ngoài ra thì Malay cũng là một trong những quốc gia
mà tham gia trực tiếp vào cơ chế tuần tra an ninh ở eo biển Malacca. Hợp tác với họ giúp Hoa Kỳ
chạm tay vào huyết mạch thương mại của khu vực mà không cần đưa tàu chiến đến,
tránh tạo ra hình ảnh đối đầu và căng thẳng.
Cho nên ta thấy là cái chuyến đi của ông Trump đến Malay là một cái bước tiến chiến lược mang tính
biểu tượng cao. Thông qua thương mại, chuỗi cung ứng và hợp tác khu vực thì ông ấy đang mở lại
một cái mặt trận mới trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung, không phải bằng đối đầu trực diện mà là bằng
ngoại giao ảnh hưởng và kiểm soát gián tiếp các điểm nghẽn chiến lược như là eo biển Malacca.
Và nếu như chúng ta xem châu Á là một cái bàn cờ thì Malay chính là cái ô trung tâm giữa hai thể lực.
Và ông Trump bằng cách chọn bước vào cái ô đó đầu tiên đang cho thấy rằng mình không chỉ quay lại châu Á
mà đang đặt lại cái thế trận ở ngay cái nơi mà Trung Quốc từng nghĩ rằng là họ đã chiếm ưu thế.
Và đó chính là cái cách, là cái chiến thuật đánh vào sân sau, vào vùng ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực
của Mỹ. Chúng ta cũng đã từng nói với nhau rất nhiều lần về cái việc Trung Quốc khởi động cuộc chiến đất hiếm
với Hoa Kỳ với cái hy vọng là giành chiến thắng tuyệt đối trước Washington, bởi vì họ chính là cái
nhà cung cấp độc quyền của thế giới trong cái lĩnh vực này.
Tuy nhiên thì cái cán cân nó đang lại một lần nữa đảo chiều có lợi cho Mỹ hậu thỏa thuận đất hiếm với Úc.
Chúng tôi đang đề cập đến cái việc Hoa Kỳ đã đạt được các thỏa thuận thương mại với bốn quốc gia Đông Nam Á
để mà giải quyết vấn đề khoáng sản đất hiếm quan trọng, cũng như là mất cân bằng thương mại nói chung.
Khi còn đang ở Kuala Lumpur để mà tham dự hội nghị thượng đỉnh thương mại với ASEAN,
thì ông Trump đã ký các cái thỏa thuận với Malay và Campuchia, cũng như một thỏa thuận không với Thái Lan,
cam kết là cả hai sẽ hợp tác giải quyết các vấn đề thương mại.
Theo thỏa thuận, cả ba nước sẽ tiếp tục phải chịu mức thuế quan 19% của Hoa Kỳ,
trong khi một số cái hàng hóa được miễn thuế sẽ được hưởng mức thuế xuất 0%.
Tòa Bài giốc trước đó cũng đã công bố một cái thỏa thuận tương tự với Việt Nam,
theo đó sẽ áp dụng mức thuế 20% đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Việt Nam cũng hứa sẽ tăng đáng kể lượng hàng mua từ Hoa Kỳ để giúp thu hẹp thâm hụt thương mại
123 tỷ đô la với cái siêu thường này. Điều quan trọng là tại Kuala Lumpur,
ông Trump đã ký hai hiệp định song phương với Malay và Campuchia, cùng một cái thỏa thuận
không hợp tác thương mại với Thái Lan. Bên cạnh đó, một thỏa thuận riêng với Việt Nam
cũng đã được công bố trước đó. Và khi mà chúng tôi tìm hiểu các văn bản này thì nó có hai cái điểm
muốn chốt thưa quý vị. Thứ nhất là các nước họ vẫn duy trì cái mức thuế cơ bản,
19% với Malay, Campuchia, Thái Lan và 20% với Việt Nam. Nhưng một số mặt hàng thì được miễn
thuế hoàn toàn, và nó mở đường cho hàng hóa 2 triệu lưu thông thuận lợi hơn. Có nghĩa không
phải là cấm vận hoàn toàn, không phải là đánh thuế hoàn toàn, mà vẫn có những ngoại lệ.
Thứ hai và cũng là cái phần quan trọng nhất đó là cam kết hợp tác về khoáng sản quan trọng,
trong đó có đất hiếm. Đáng chú ý là Malay đồng ý không cấm xuất khẩu vật liệu đất hiếm sang Mỹ,
và nó sẽ giúp chấm dứt nguy cơ Mỹ bị cắt đất nguồn cung trong cái trường hợp mà Trung Quốc họ
đã áp lệnh hạn chế toàn cầu. Và đây chính là cái mảnh ghép còn thiếu trong chiến lược bẻ gãy sự
độc quyền đất hiếm của Bắc Kinh. Malay không đơn thuần chỉ là cái nút trung chuyển quan trọng tại eo biển
Malacca, mà nó còn là cái trung tâm tinh luyện đất hiếm duy nhất ngoài Trung Quốc,
thông qua nhà máy của Linas, Úc đặt tại Pahang. Vì thế, khi bóng Trump tuyên bố là Malay sẽ mở
cửa xuất khẩu đất hiếm sang Mỹ, thì điều đó đồng nghĩa với việc là Washington đã khóa chặt
được một cái mắt xích chiến lược mà Bắc Kinh khó có thể tháo túng được. Với riêng Malay thì
cái thỏa thuận này nó cũng đem lại lợi ích lớn cho họ đấy. Họ thu hút được đầu tư và công nghệ
chế biến, vẫn giữ quyền kiểm soát quạng thô trong nước để mà tăng giá trị gia tăng,
đầu thời tránh bị cuốn vào cái thế đối đầu trực diện giữa hai siêu cường. Và nói cách khác thì
Kuala Lumpur đang DJ cực kỳ khéo léo, vừa hưởng lợi từ Mỹ, lại vừa không làm phật lòng Trung Quốc.
Và nếu ghép lại trong một bức tranh rộng lớn hơn thì ta sẽ thấy rằng là Hoa Kỳ họ đang cố gắng
xây dựng một cái chuỗi cung ứng đất hiếm mới, gồm qua ba tầng. Úc sẽ là nơi cung cấp quạng và
tinh quạng. Đông Nam Á có Malay, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia sẽ đảm nhận cái khâu chế biến,
tinh luyện và lắp ráp trung gian. Còn Hoa Kỳ sẽ là tiêu thụ đầu cuối, đồng thời cung cấp công nghệ,
tài chính và tiêu chuẩn môi trường. Cái chuỗi này nó không chỉ phục vụ kinh tế mà còn tạo ra một cái lớp
lá chắn chiến lược giúp cho Hoa Kỳ tự chủ hơn về năng lượng sạch, công nghệ quốc phòng và sản xuất chip.
Các thỏa thuận này chắc chắn nó sẽ khiến Bắc Kinh phản ứng, bởi đây là cái dấu hiệu rõ ràng nhất
cho thấy là Mỹ đang dần gỡ cái vòng kim cô mà Trung Quốc từng nắm trong ngày đất hiếm.
Bắc Kinh có thể đáp trả bằng cái việc là thắt chặt xuất khẩu công nghệ, tinh luyện hoặc là siết
kiểm soát thị trường nguyên liệu đầu vào. Nhưng mà những cái sự đáp trả như vậy nó cũng chưa chắc
mang lại lợi thế cho họ. Về phía Đông Nam Á thì cái bài toán lớn nhất nó không phải là ký kết mà là thực thi.
Khu vực này còn hạn chế về công nghệ chế biến, tiêu chuẩn môi trường và nhân lực kỹ thuật. Nếu không có đầu tư
và chuyển giao công nghệ thực chất từ Mỹ thì cái chuỗi cung ứng mới vẫn có nguy cơ kẹt ở giữa. Như vậy,
những gì diễn ra tại Kuala Lumpur nó không chỉ là cái chuyện giảm thuế hay là mở rộng thương mại mà là một
phần trong cái chiến lược tái thiết chuỗi cung ứng toàn cầu Hoa Kỳ.
Ông Trump đã đặt ra một cái ván bài chiến lược rất là ổn ở đây, đã đặt một cái chân vững chắc vào
trung tâm Đông Nam Á, biến Malay và các nước lân cận thành một cái vành đai an toàn cho cái chiến lược
kinh tế công nghệ của Mỹ và cũng vô hiệu hóa dần lợi thế độc quyền đất hiếm của Trung Quốc, bẻ gãy cái nành vuốt
của Trung Quốc. Có thể nói đây là một cái nước cơ phản công toàn diện, mềm mại nhưng mà lại cực kỳ hiệu quả,
giúp cho Washington không chỉ giành lại thế chủ động về tài nguyên chiến lược mà còn củng cố cái mạng lưới
đồng minh kinh tế trong khu vực đang ngày càng quan trọng trong cái thế kỷ 21 này. Và với những cái bước đi gần đây
của Mỹ thì ta thấy rằng là họ đang chuyển mình từ phòng ngự sang chủ động, thậm chí là tấn công,
đa dạng hóa nguồn cung khoáng sản, thắt chặt liên minh thương mại với các nước Đông Nam Á và đồng thời
tạo cái đòn bẩy để mà đàm phán lại với Trung Quốc. Một cái nước cờ cực kỳ cao tay của Trump chỉ trong
một chuyến đi. Có lẽ chúng ta phải thừa nhận với nhau như vậy. Và điều gì đến cũng đã phải đến. Sáng ngày 27 tháng 10
người truyền thông đã đưa tin rằng là Hoa Kỳ và Trung Quốc đạt được thỏa thuận sơ bộ nhằm giảm căng thẳng
thương mại. Đây là kết quả của việc ông Trump mở hai cái chiến lược song song. Tại hội nghị và chuyến công du
châu Á của ông Trump thì Mỹ ta biết là họ đã ký kết một loạt thỏa thuận với các nước Đông Nam về thương mại,
khoáng sản và chuỗi cung ứng. Rồi song song với đó thì Mỹ và Trung Quốc đã triển khai đàm phán bên lề
các cái hội nghị khu vực và công bố rằng là đôi bên họ đã đạt được một cái khung thỏa thuận sơ bộ như sau.
Mỹ sẽ tạm hoãn việc áp thế 100% trên hà hoa Trung Quốc từ ngày 1 tháng 11. Còn ở chiều ngược lại thì
Trung Quốc sẽ hoãn thực hiện các quy định mới về xuất khẩu đất hiếm và nam châm từ khoáng sản chiến lược
khoảng một năm để mà tái xét. Các bên đồng ý rằng là trong cuộc gặp giữa ông Trump và ông Tập Cận Bình
sắp tới tại Hàn Quốc thì sẽ chốt các cái nội dung trí tiết hơn như là thương mại nông sản,
độ nành của Mỹ này và kiểm soát thuế. Như vậy là ta có thể nhìn thấy rằng là cái việc ông Trump mở
rộng quan hệ tại Đông Nam Á với các nước như là Malay, Campuchia, Thái Lan hay Việt Nam,
nó không đơn thuần là hoạt động song phương mà còn mang cái hàm ý mở rộng sân chơi,
tăng đòn bẩy của Hoa Kỳ trước cái bàn nàm phán với Trung Quốc.
Khi Washington cho thấy rằng là họ có các cái đường thay thế, ví dụ như là những cái chuỗi
cung cứng khoáng sản đất hiếm với Đông Nam Á và Úc thì Bắc Kinh sẽ phải cân nhắc. Nếu tiếp tục tăng độ
căng thẳng thì họ sẽ mất vị thế chiến lược. Như vậy, chuyến đi này của ông Trump nó tạo nền tảng
chiến lược để Hoa Kỳ nói với Trung Quốc rằng là, chúng tôi có lựa chọn vì vậy hãy ngồi lại đàm phán đi.
Và cái việc công bố khung thỏa thuận tại Kuala Lumpur, nó chính là cái mương chính cụ thể cho việc đó.
Như chúng ta đã thấy thì Trung Quốc họ đang đối mặt với việc Hoa Kỳ và đồng minh xây dựng các
cái mạng lưới thay thế về khoáng sản chiến lược. Nếu họ cứng rắn quá mất, khả năng bị cắt
nguồn cung hoặc mất khách hàng đó là hiện hữu. Cái việc mà Hoa Kỳ đe dọa áp thuế 100% và đã dọn
sẵn các cái đường lui cho mình qua các thỏa thuận với Đông Nam Á khiến cho Bắc Kinh mất phần
lớn quyền kiểm soát đơn phương nếu muốn thao túng cái chuỗi cung cưng toàn cầu.
Tiếp tục căng thẳng có thể dẫn đến gián đoạn chuỗi cung cưng công nghệ cao,
ảnh hưởng không chỉ đến Mỹ mà cả Trung Quốc nữa, đặc biệt khi mà nhiều công ty Trung Quốc
phụ thuộc vào nguyên liệu và linh kiện từ bên ngoài. Và trong nước thì tăng trường cũng bị ảnh hưởng,
sẽ làm Bắc Kinh phải đánh đồ nhiều hơn. Đây không phải là lập luận thiên kiến mà chính
cựu chuyên gia Kinh tế trưởng của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF là ông Kenneth Rogoff đã nói rằng là
trong bức cảnh chiến tranh thương mại với Hoa Kỳ, Trung Quốc sẽ rất may mắn nếu nền
kinh tế của họ có thể đạt mức tăng trường từ 2-3% trong vài năm tới.
Rogoff không bi quan theo cảm tính đâu, mà ông ý dựa trên thực tế là động cơ cũ của nền
kinh tế Trung Quốc như là bất động sản, đầu tư công đã mòn rồi. Động cơ mới của họ là tiêu
dùng dịch vụ, đổi mới tư nhân thì chưa đạt được đủ sức mạnh, chưa được trao đủ không gian.
Trong khi nợ địa phương giảm phát và dân số già cùng lúc ghi kéo.
Vì vậy, câu của ông ấy là may mắn nếu đạt 2-3% thì nên hiểu là cái chần tăng trường tiềm năng
đang thấp xuống, trừ khi là Bắc Kinh họ chấp nhận cải cách sâu. Ví dụ như là xử lý dứt cái nợ
địa phương này, để khu vực tư nhân và dịch vụ có vai trò lớn hơn, cải tổ an sinh xã hội để người
dân bớt tích lũy phòng thủ và chịu chi tiêu hơn. Nếu không thì cái mức 2-3% hoàn toàn là khả dĩ,
nhất là trong bối cảnh thương mại quốc tế không thuận và thậm chí là còn thấp hơn nữa.
Do vậy, ta thấy là có động lực rất lớn để mà Bắc Kinh xuống thang chiến thuật,
tham gia vào cái khung hợp tác thương mại có đi có lại, hơn là gây chấn động toàn bộ bằng
những sự tranh chiếm của họ. Tuy nhiên cũng cần nhấn mặn rằng đây chưa phải là một hiệp định hoàn
trình mà chỉ là một khung sơ bộ thôi. Đôi bên họ vẫn phải hoàn thiện bản ghi nhớ,
phê duyệt nội bộ và ký kết chính thức, còn rất nhiều bước nữa. Những điều khoản chi tiết như là
danh mục hàng hóa được miễn thuế, mức thuế cụ thể, cách thức kiểm soát xuất khẩu đất hiếm
vẫn chưa được công bố đầy đủ. Và cả đôi bên họ vẫn đang giữ cái vũ khí đàm phán của mình.
Hoa Kỳ vẫn có thể áp thuế nếu đàm phán thất bại, trong khi Trung Quốc vẫn có thể thay đổi quy định
xuất khẩu nếu như là cảm thấy cần thiết. Do đó, mặc dù có bước tiến, thì chúng ta cũng không thể
xác định ngay cái việc căng thẳng sẽ sớm hoàn toàn chấm dứt mà thận trọng mà nói thì đây chỉ là
một bước hạ nhiệt tạm thời của đôi bên thôi, để chuẩn bị cho một thỏa thuận lớn hơn và cũng có thể là
chuẩn bị cho một hiệp đấu lớn hơn. Nói thế đây thì có lẽ có một số khán thính giả cho rằng là
chúng tôi cứ nhìn tiêu cực với nền kinh tế Trung Quốc quá. Chẳng phải hôm 27 tháng 10 chính cái
truyền thông phương Tây đã phải thừa nhận rằng là lợi nhuận công nghiệp của Trung Quốc đã tăng vọt 21,6% trong
tháng 9 là cái mức tăng lớn nhất trong gần 2 năm sau. Thì số liệu kinh tế mới từ Bắc Kinh nó khiến
nhiều người chú ý, đó là lợi nhuận công nghiệp của họ trong tháng 9 tăng vọt 21,6% so với cùng kỳ năm
trước là mức tăng mạnh nhất trong gần 2 năm qua. Nghe qua thì con số này nó rất dễ cho người ta cảm giác
rằng là kinh tế Trung Quốc đang bật dậy mạnh mẽ. Nhưng mà nếu đi sâu phân tích một chút thì ta sẽ thấy
đằng sau cái cú nhảy đó là nhiều yếu tố ngắn hạn và nó cũng chưa đủ để mà kết luận là nền kinh tế
của họ đã thực sự khởi sắc. Có 3 nguyên nhật chính. Thứ nhất, khi hiệu ứng nền thấp, nghĩa là năm ngoái
cùng kỳ, lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm rất mạnh vì bất động sản lao dốc, xuất khẩu yếu và giá hàng hóa
giảm sâu. Vì vậy, chỉ cần năm nay lợi nhuận ngừng rơi thì cái con số so sánh theo năm nó lập tức bật
cao. Có nghĩa là vì năm trước giảm nhiều quá rồi cho nên bây giờ cái mức tăng 21,6% nó cũng thực sự là
nó không lớn. Nó chỉ là lớn so với cái mức mà thảm họa thôi. Thứ 2 là giảm phát tại nhà máy đã
giữ lại. Nói nôm na đó là giá bán từ cổng nhà máy, PPI, nó không còn giảm mạnh như trước. Khi giá đầu
ra ổn định hơn, biên lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là trong các ngành thiết bị công nghệ
cao cũng mở rộng trở lại. Và thứ 3 là cấu trúc doanh nghiệp nó thay đổi. Lợi nhuận tăng chủ yếu đến
từ doanh nghiệp tư nhân và có cái vốn nước ngoài trong khi doanh nghiệp nhà nước thì vẫn tăng rất chậm,
thậm chí là còn giảm nhẹ cơ. Điều này cho thấy là cái đà hồi phục đang diễn ra không đồng đều. Khu vực
năng động hơn thì hưởng lợi trước, còn các cái lĩnh vực phụ thuộc đầu tư công thì vẫn rất ý ảnh.
Cho nên là tăng trưởng lợi nhuận lận này của công nghiệp Trung Quốc phần lớn là nó đến từ các
yếu tố kỹ thuật, chứ không phải đến từ sự bùng nổ của nhu cầu trong nước. Tiêu dùng vẫn chậm chạp,
người dân vẫn tiết kiệm nhiều bởi vì lo lắng rủi ro. Còn bất động sản, cái lĩnh vực từng chiếm tới 25-30%
GDP của họ thì vẫn đang chìm trong tình trạng đóng băng cục bộ. Hệ thống ngân sách địa phương thì ngập nợ,
khiến chính quyền các tỉnh khó mở rộng đầu tư công như trước nữa. Ngoài ra sự hồi phục mang tính 2
tốc độ, nhóm công nghệ và chế tạo xuất khẩu có lãi có cái nhóm gắn với xây dựng,
vật liệu hay là sản xuất tiêu dùng thì vẫn yếu. Một nền kinh tế khỏe mạnh thì cần cả cung lẫn cầu
cùng đi lên chứ không chỉ là con số lợi nhuận của vài ngành công nghiệp mũi nhọn.
Bởi vậy nếu muốn biết là Trung Quốc có thật sự thoát khỏi cái giai đoạn ảm đạm hay chưa thì
ta cần nhìn vào 3 yếu tố thưa quý vị. Thứ nhất đó là cái độ lan tỏa của lợi nhuận,
tức là xem tăng trưởng có mở rộng ra các ngành khác hay không hay là chỉ tập trung vào vài nhóm thôi.
Thứ 2 là diễn biến của giá sản xuất PPI. Nếu như PPI trở lại dương trong 3-6 tháng liên tiếp,
có nghĩa là các doanh nghiệp đã thật sự có khả năng định giá lại sản phẩm.
Thứ 3 đó là sức cầu nội địa, tiêu dùng. Bán lẻ và đơn hàng nội địa nó phải tăng song song,
nếu không lợi nhuận, nó chỉ là một cái cú bật kỹ thuật rồi nó sẽ lại chức lạng thôi.
Do đó, ta nói rằng con số 21% vừa rồi, 21,6% ấy, nó là một cái tiến hiệu tích cực,
thể hiện rằng là kinh tế Trung Quốc có thể đã qua đáy nhưng mà chưa thể coi là phục hồi bền vững được.
Đây là cái bước hồi phục tạm thời giống như là một cái cơn gió ấm đầu mùa vậy,
nó chưa đủ để chứng minh là mùa xuân kinh tế đã đến. Và điều này là cái lý do cho thái độ của Trung Quốc
trong việc hạ nhiệt leo thang thương chiến với Hoa Kỳ đấy. Mặc dù là những tiến hiệu ban đầu,
nhưng mà nó cho thấy là Bắc Kinh cũng đang dè chừng những ý cú đòn sau.
Ta cũng đã nói với nhau rằng là Hoa Kỳ sẽ không đến châu Á để mà lôi kéo bất kỳ một
cái quốc gia đơn lẻ nào, mà họ sẽ thiết lập một cái thế trận ở đó đối thủ bục tiêu và trọng tâm là
Trung Quốc sẽ phải liệu sức mà đánh. Chúng tôi đang đề cập đến cái việc mà Tổng thống Hoa Kỳ
Donald Trump đến gặp tân thủ tướng Nhật Takaichi, người mà vừa lên nắm quyền trong cái bối cảnh
mà Triều Tiên bắn tên lửa vào vùng biển của Nhật. Nó không phải ngẫu nhiên đâu.
Nó được tính toán như là một cái đòn phản lực chiến lược vừa củng cố cái trục Mỹ-Nhật,
lại vừa gửi thông điệp trực tiếp đến Bắc Kinh, Bình Nhưỡng và cả Moscow nữa.
Cái việc ông Trump gặp bà Takaichi, nó không phải là cái câu chuyện là song phương đâu.
Nó còn là cái bài toán đa phương này. Bởi vì là Hoa Kỳ hiểu là trong cái bàn cờ châu Á thì
Nhật không chỉ là đồng minh cũ mà còn là điểm tựa cấu trúc của cái hệ thống kiềm chế Trung Quốc.
Nếu ví Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là chiếc cung thì Nhật Bản chính là mũi tên.
Khi mà Trump chọn gặp Takaichi đầu tiên thì ông ấy không chỉ gửi lời chúc mừng mà còn ấn định
hướng đi chiến lược, củng cố cái mặt trận phía Bắc của trục đồng minh từ Nhật-Hàn kéo xuống
Philippines rồi nối liền mạng lưới chuỗi cung ứng và quân sự ở Đông Nam Á.
Triều Tiên tưởng rằng là bằng cái việc phóng tên lửa thì họ có thể làm tân thủ tướng Nhật e rè,
nhưng kết quả thì hoàn toàn ngược lại. Cú bắn đó trên thực tế là món quà chính trị cho bà Takachi.
Nó hợp thức hóa ngay lập tức cái đường lối an ninh cứng rắn của bà và tạo điều kiện
cho ông Trump xuất hiện trong vai người bảo trợ chiến lược. Từ đó đôi bên họ khép tay nhanh hơn,
ký các thỏa thuận quốc phòng và công nghệ then chốt, và cùng tuyên bố nâng cấp liên minh chiến lược Mỹ-Nhật.
Trước đây thì Trung Quốc hy vọng duy trì một khoảng mờ chiến lược với Nhật Bản,
tức là vừa cạnh tranh, vừa hợp tác trong chuỗi công nghiệp. Nhưng mà một khi Nhật công khai
chọn Hoa Kỳ là trục chính trị và an ninh, thì Bắc Kinh sẽ tự bị đẩy vào cái thế phải đối đầu rõ nét hơn.
Đặc biệt là Nhật không chỉ là nơi mà các căn cứ quân sự Mỹ đóng ở đây, mà còn kiểm soát các
khâu mấu chốt trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu, chip bán dẫn,
linh kiện quang học và nguyên vật liệu tinh khiết. Cái việc Tokyo đứng về phía Washington
đồng nghĩa là Trung Quốc mất đi một cái mắt xích quan trọng để mà trung hòa các cái lệnh kiểm soát công nghệ.
Với Triều Tiên thì hành động khiêu khích lại dẫn đến phản tác dụng. Thay vì làm Nhật sợ thì nó khiến
Tokyo hợp pháp hóa chính sách tái vũ trang, gia tăng tri tiêu quốc phòng và triển khai hệ thống
phòng thủ tên lửa song song với Mỹ. Còn Nga, vốn trông chờ vào việc chia rẽ đồng minh Mỹ
ở châu Á, giờ lại thấy một cái liên minh được xếp chặt, khiến cái cửa ảnh hưởng ở vùng Viễn Đông
gần như nó khép lại. Và nhìn ở tầng cao hơn thì chiến lược của Trump là dệt lại mạng lưới đồng
minh bằng một sợi chỉ thống nhất, đó là chuỗi công ngưỡng an toàn và phòng thủ thích hợp.
Malay và Đông Nam Á trở thành nguồn khoáng sản đất hiếm và chuỗi sản xuất thay thế Trung Quốc. Nhật
Bản là đầu tàu công nghệ và quân sự, Hàn Quốc là hậu cần công nghiệp và trí tuệ nhân tạo,
Philippines và Úc đóng vai trò là các trạm chung chuyển chiến lược ở Nam Thái Bình Dương.
Khi những hạt này đối lại thành một chuỗi hạt chiến lược thì Washington gần như bao vây Trung Quốc,
mà không cần dùng đến tàu chiến, chỉ cần dùng đến mạng lưới kinh tế, an ninh, công nghệ thôi.
Dưới thời bà Takachi, Nhật đang chuyển từ vai đối tác phòng thủ sang trụ cột tự
chủ trong hệ thống đồng minh với Hoa Kỳ, và điều đó khiến Washington có thể được chia sẻ
cánh nặng và tạo nên một bộ đôi hạt nhân chiến lược mới ở châu Á, tương tự như mô hình Anh-Mỹ
tại Đại Tây Dương sau Thế Chiến II. Nói khi mà Nhật nâng cấp quan hệ với Mỹ lên nữa,
thì nó cũng kéo theo tác động lan tỏa thế Hàn Quốc, một tác động ngầm đến Hàn Quốc, Đài Loan và Sean,
khiến toàn bộ khu vực phải nghiêng nhẹ về phía Liên minh Dân Chủ.
Như vậy, có thể thấy là chúng ta không nên đơn thuần chỉ nhìn vào những gì mà Trump đã ký với
bất kỳ một quốc gia nào mà chúng ta cần phải nhìn sâu vào chiến lược, cũng như là sự dịch truyền của
những quân cờ trên bàn cờ địa chính trị. Để từ đó ta thấy rằng là, những người chơi kỳ cựu như
là Trump, Tập Cận Bình hay Putin, thì họ đều là những cao thủ, và họ đi nước cờ nào cũng không
đơn thuần nhìn được trên bề mặt, và nhìn được ở những văn kiện, thỏa thuận.
Trump không chỉ đang đi qua châu Á, mà vậy đang dựng lại khung sức mạnh khu vực sau gần một thập kỷ
bị Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng và chiếm lĩnh. Cuộc gặp với bạn Takashi, rồi vụ tên lửa phóng
của Triều Tiên, rồi phản ứng của Tokyo, nó không phải là những sự kiện rời rạc,
mà là những mảnh ghép của một cái bản nổ địa chiến lược. Một cú đòn vô tình của Bình
Nhưỡng cũng là một cái cơ hội được Washington nắm bắt và là một sự thức tỉnh chiến lược của Tokyo.
Từ đó ta thấy là Liên minh Mỹ-Nhật được tái định nghĩa lại, không chỉ để bảo vệ Nhật,
mà để định hình lại cán cân quy lực tại Ấn Độ-Thái Bình Dương. Nếu ví khu vực này là bàn cờ,
thì Tokyo vừa chính thức trở thành quân xe, di chuyển theo đường thẳng, mở thế tấn công và che chắn
cho Washington. Với Trung Quốc, thì đó là một cái thế cờ đau đớn ấy, bởi vì nó chứng minh rằng
là mọi bước leo thang áp lực từ đất hiếm cho đến tên lửa đều đang khiến cái vòng kiềm chế
quanh họ khép chặt hơn. Và cũng có một cái thông tin cực kỳ đáng chú ý đó là ngày 27 tháng 10,
Ipotham đưa tin rằng là trực thăng và máy bay chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ đã rơi ở Biển Đông.
Điều đáng nói là không có thương vọng, toàn bộ phi công đều được cứu sống và nguyên nhân hiện
vẫn đang được điều tra. Về mặt kỹ thật thì đây có thể là cái tai nạn trong quá trình huấn luyện
hoặc là bận hành, nhưng về mặt địa chính trị, thời điểm và bối cảnh của nó khiến cái vụ
việc nó trở thành một cái tín hiệu chiến lược có sức nặng trong khu vực.
Vụ rơi máy bay nó diễn ra đúng lúc căng thẳng Mỹ-Trung tại đây nó leo thang, tại Biển Đông,
sau hàng loạt các hành động va chạm, đe dọa và quấy rối của lực lượng hải cảnh Trung Quốc
đối với tàu Philippines gần bãi cạn Scarborough. Đồng thời, Tổng thống Trump thì đang trong
cái chuyến công du châu Á, vừa rơi qua La Lampa để mà tới Nhật Bản. Tức là tâm điểm chú ý
của thế giới nó đang hướng về khu vực này. Trong không khí ấy, bất kỳ một cái sự cố quân sự nào
của Mỹ ở Biển Đông dù là tai nạn kỹ thuật cũng đều ngay lập tức bị chính trị hóa và được xem
là một cái tín hiệu răn đe hoặc là va chạm tiềm tài. Từ phía Hoa Kỳ thì Ngũ Giác Đài khẳng định
đây là một cái sự cố không phải do đối phương gây ra. Các cuộc điều tra kỹ thuật đang diễn ra bình thường,
nhưng Washington vẫn công bố nhanh, minh bạch và đầy đủ, và đó là một cách xử lý có chủ ý.
Khi công khai như vậy thì Mỹ muốn giữ thế chủ động thông tin, đồng thời đặt Bắc Kinh và thấy bị động,
vì Trung Quốc vốn thường chọn cách giấu thông tin hoặc đổ lỗi trong những vụ va chạm tương tự.
Nói cách khác thì cái sự minh bạch của Hoa Kỳ chính là một cái đòn truyền thông chiến lược cho thấy là
chúng tôi ở đây, chúng tôi hoạt động thường xuyên và ngay cả khi mà có sự cố thì chúng tôi vẫn kiểm soát được tình hình.
Dù không có bằng chứng cho thấy là Trung Quốc có liên quan, nhưng bối cảnh chính trị nó khiến dư luận
quốc tế ngay lập tức liên hệ vụ việc này với những hành vi hung hăng và quyết đoán của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Truyền thông phương Tây cũng đồng loạt đặt câu hỏi là liệu đây có phải là kết quả
của những hoạt động nguy hiểm mà Bắc Kinh đã gây ra trong vùng tranh chấp hay không?
Kết quả là dù không bị cáo buộc trực tiếp nhưng mà Trung Quốc vẫn bị đưa vào tầm ngắm của dư luận,
bị soi kỹ hơn trong mọi hành vi trên biển. Đó là một cái thế thua của họ đấy,
vì họ bị gắn cái hình ảnh bên gây mất an toàn hàng hải,
trong khi Hoa Kỳ lại tỏ ra là cái bên kiểm soát tình hình và hành xử chuyên nghiệp.
Với Philippines, vụ việc lại củng cố điểm tin rằng Mỹ hiện diện thật sự và sẵn sàng
phản ứng, chứ không chỉ dừng lại ở lời nói. Khi một nhóm phi công Mỹ gặp nạn mà vẫn được cứu an toàn
trong phạm vi hoạt động ở Biển Đông, thì Manila đã đọc ra thông điệp rất rõ đó là
lực lượng Mỹ đang ở đây, hoạt động liên tục và họ sẽ không rút lui vì những rủi ro kỹ thuật.
Với các nước ASEAN khác thì điều này nó cũng củng cố quan điểm rằng Hoa Kỳ đang neo hiện diện
ở Biển Đông bất chấp những sức ép. Nói cách khác thì Biển Đông đã đang dần trở thành vùng biển
của cạnh tranh ảnh hưởng lâu dài chứ không còn là cái nơi mà Trung Quốc có thể áp đặt sự kiểm soát
đơn phương nữa rồi. Ngày càng có nhiều quốc gia đặt chân vào Biển Đông rồi. Rất nhiều cường quốc
phương Tây họ cũng để ý đến Biển Đông, để ý đến cái vùng này, vùng Đông Nam Á này,
cái nơi mà nằm giữa tâm điểm của cái cuộc cạnh tranh thế kỷ tới, Ấn Độ Dương, Thái Bỉ Dương.
Trong quân sự hiện đại, điều quan trọng không phải là tránh tai nạn mà là cách một cái cường quốc
xử lý tai nạn. Hoa Kỳ đã biến một sự cố bình thường thành minh chứng của khả năng kiểm soát và độ
chuyên nghiệp, còn Trung Quốc thì sẽ bị đẩy vào cái thế phải phòng thủ về mặt hình ảnh.
Nói một cách ví von thì nếu đây là ván cờ thì Mỹ không bất quân mà họ chủ động đi một
nước gài thế khiến đối thủ khó phản ứng mà không tự mắc bẫy.
Vâng thưa quý vị, nếu chúng ta nhìn lại cái chuyến thăm công du châu Á của ông Trump,
thì ta thấy là nó là một sự mở màn cho một tru kỳ tái cấu trúc quyền lực khu vực. Biển Đông,
Tokyo, Kuala Lumpur và cả những bầu trời nơi mà máy bay Mỹ gặp nạn,
tất cả những sự kiện đó nó cùng kể một đi câu chuyện chung đó là quyền lực đang dịch chuyển,
trật tựa đang tái lập và Trung Quốc sau nhiều năm bành trướng đang dần bị ép vào
không gian chế lược hẹp hơn bao giờ hết. Hoa Kỳ với mạng lưới đồng minh được kích hoạt trở lại,
đang không cần đánh mà vẫn thắng, bằng cách là siết chặt chu vi ảnh hưởng,
nắm giữ điểm nghẽn kinh tế và điều phối thế trận khu vực bằng sức mạnh mềm của mình,
cũng như là công nghệ và ngoại giao chủ động. Và có thể nói rằng là lịch sử địa chính trị châu
Á nó đang bước sang một trang mới, nơi mà quyền lực không nằm ở tiếng súng mà nằm ở khả năng
định hình thể lại thế giới xung quanh mà không cần nổ súng. Và ở cái ván cơ đó thì Hoa Kỳ
vẫn là người cầm thế chủ động, còn Trung Quốc dù vẫn mạnh nhưng mà đang phải co cụm lại,
đối diện với vòng vây ngày càng siết chặt từ mọi hướng. Một chuyến đi của ông Trump nhưng nó lại
mang đến một bức ngoặt làm việc. Một vùng biển nhưng lại là tấm gương phản chiếu lại thế giới,
và trong tấm gương đó thì trật tự cũ đang dần phai tàn, có một trật tự mới, với tâm điểm là Hoa Kỳ
và đồng minh thì đang hình thành rõ nét từng ngày. Ở thế cờ này, Trung Quốc sẽ điều chỉnh chế lược như
thế nào để mà lật ngược tình thế? Chúng ta chỉ có thể chờ xem.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay của Chuyên thức Mới cũng xin phép được tạm dừng.
Chúng tôi rất mong nhận được thêm nhiều bình luận sâu sắc của quý vị và các bạn.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại.
