TRỤ CỘT KINH TẾ GÃY ĐỔ, TRUNG QUỐC VẪN CHO 100 TÀU CHIẾN THỊ UY ĐE DỌA LÁNG GIỀNG

Tri Thức Mới
2.1K Người theo dõi
600 Lượt xem video·6 thg 12, 2025
Chào mừng quý vị trở lại với Chi Thức Mới, tôi là Lê Minh.
Thưa quý vị, cứ mỗi dịp tháng 12 thì Trung Quốc lại có một cuộc họp kinh tế rất quan trọng,
đó là Hội nghị Công tác Kinh tế Trung ược. Đây là nơi mà ban lãnh đạo chốt lại bức tranh
kinh tế của năm đang diễn ra và đề ra đường hướng cho năm sau.
Thế nhưng trước khi hội nghị năm nay thì một chỉ báo đã bật đèn đỏ rất rõ đó là đầu tư tài
sản cố định, tức là tiền đổ vào xây dựng nhà cửa, nhà máy, hạ tầng, thiết bị đang lao dốc.
Theo số liệu của chính truyền thông nhà nước Trung Quốc công bố thì từ tháng 1 đến tháng 9,
đầu tư tài sản cố định đã giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Đến khi cộng thêm tháng 10 thì
mức giảm nó đã là 1,7% rồi. Điều đó có nghĩa là chỉ riêng tháng 10 đầu tư đã rơi rất mạnh,
ước tính khoảng 11,7% so với cùng kỳ. Đây là mức giảm bất thường, không còn là giao động kỹ
thuật mà là tín hiệu cho thấy cái máy đầu tư đang trục chặt nghiêm trọng.
Thực ra bản thân các con số cụ thể không phải là điều quan trọng nhất. Cục thống kê quốc gia có
thể được ví như một cây máy chiếu. Hình ảnh chiếu lên tường có thể bị phóng to, thu nhỏ,
chỉnh sáng tối, không bao giờ là một bản sao một một của thực tế. Nhưng dù có chỉnh thế nào đi
nữa thì xu hướng vẫn lộ ra. Điều đáng xem ở đây là logic phía sau các con số.
Nếu tách cấu phần, ta sẽ thấy nguyên nhân lớn nhất kéo đầu tư đi xuống chính là bất động sản.
Từ tháng 1 đến tháng 10, đầu tư bất động sản giảm 14,7% so với cùng kỳ. Riêng tháng 10,
mức giảm ước tính là 22,3%. Con số này rất hợp lý nếu đặt vào bối cảnh năm nay.
Truyền thống lâu nay, tháng 9 vàng, tháng 10 bạc và mùa cao điểm bán nhà, môi giới và chủ
đầu tư đều đặt kỳ vọng lớn. Nhưng năm nay thì gần như không còn sự khác biệt giữa mùa cao điểm
và mùa thấp điểm nữa. Không có tháng 9 vàng cũng chẳng thấy tháng 10 bạc đâu cả.
Càng đến cuối mùa thu, các chủ đầu tư càng hiểu rằng thị trường đã thực sự hạ nhiệt,
giá nhà không còn tăng, người mua rè trừng vì sợ mất việc, sợ dự án đắp chiếu,
sợ vay nợ dài hạn trong bối cảnh tương lai mù mịt. Doanh thu bán nhà không về, tiền mặt thì
ngày càng cạn, nợ cũ vẫn treo lờ lửng. Và trong tình hình đó thì họ tự nhiên mất hẳn động lực
mua thêm đất, mở thêm dự án. Đầu tư mới vì thế nó lại rơi vào cách trạng thái gần như là đóng băng.
Đó là một cái vòng thuận hoạn. Một mảng quan trọng khác là đầu tư tư nhân nói chung,
tức là tiền mà doanh nghiệp tư nhân bỏ ra để xây nhà xưởng, mở rộng sản xuất hay là đầu tư thiết
bị. Từ tháng 1 đến tháng 9, đầu tư tư nhân của Trung Quốc đã giảm 3,1% so với cùng kỳ. Đến tháng 10,
mức giảm mở rộng lên 4,5%. Điều này cho thấy một thực tế rất đáng ngại. Vốn tư nhân đang lủi bước,
đứng ngoài quan sát thay vì nhảy vào. Nếu loại bất động sản ra, nhiều khoản đầu tư khác vẫn đang tăng,
chẳng hạn như là đường sắt, đường thủy, thủy lợi, những thứ do nhà nước chỉ đạo. Nhưng chính vì
thế ta càng phải cẩn thận khi đọc số liệu. Định nghĩa đầu tư tài sản cố định trong thống kê rất
linh hoạt. Một đợt đại tu đường sắt lớn có thể được ghi là đầu tư, trong khi những sửa chữa nhỏ
đáng lẽ là chi phí thường xuyên đôi khi cũng được đẩy sang cái mục đầu tư cho đẹp báo cáo.
Khó ai ở ngoài có thể bóc hết những cái chi tiết phức tạp này, và thực ra cũng không cần. Vấn đề không
nằm ở từng khoản chi mà nó ở bức tranh tổng thể. Có một danh giới mà Cục Thống kê Quốc gia Trung
Quốc không được phép vượt qua đó là không thể bóp méo số liệu đến mức là dẫn dắt sai quyết sách.
Chính quyền Trung ương, các tỉnh, thành phố khi mà đưa ra chính sách đều nói rằng là họ dựa vào các
số liệu có thẩm quyền. Nếu sau này hóa ra số liệu đó là vẽ, toàn bộ, thì Cục Thống kê không
thể trốn tránh trách nhiệm. Vì vậy, dù có tô hồng đến đâu thì họ vẫn phải giữ lại một số tín hiệu
cốt lõi. Và một trong những tín hiệu ấy nó đang rất rõ, đó là đầu tư thải sản cố định của Trung
Quốc đang suy sụp, đặc biệt là khi mà vốn tuy nhiên rút lui. Đây nó không còn là chuyện nhỏ nữa,
thưa quý vị. Vâng, chúng ta biết rằng trong kinh tế học thì người ta hay nói đến ba động lực,
là thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Ngay cả khi xuất khẩu còn cầm cự được thêm
vài năm, thì cái sự suy giảm đồng thời của tiêu dùng và đầu tư nó sẽ dần làm tê liệt toàn bộ
cỗ máy. Một nền kinh tế không thể sống bằng bê tông và dây truyền mãi được,
nếu người dân không có hoặc không dám bỏ tiền ra để mà tiêu.
Thêm một chi tiết cho thấy mức độ căng thẳng. Hội nghị công tác kinh tế Trung Quốc năm nay được dời lên
sớm, tổ chức ngày 11 đến 12 tháng 12, thay vì chờ đầy đủ số liệu tháng 11 như thông lệ. Điều này
có nghĩa là lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy không thể đợi thêm, chỉ với dữ liệu 10 tháng đã đủ thấy
tình hình cấp bách tới mức phải họp gấp để mà bàn đối sách. Nhìn sâu hơn vào phân bố theo
vùng thì ta thấy sự suy giảm đầu tư lan rộng ra nhiều địa phương. Từ tháng 1 đến tháng 5,
chỉ có 3 đơn vị cấp tỉnh có mức đầu tư tài sản cố định giảm, nhưng tới tháng 10 thì con số này
đã là 10 rồi. Những tỉnh từng dựa vào các dự án xây dựng, cải tạo quy mô lớn, các công trình hạ
tầng hoành tráng là những nơi mà bị ảnh hưởng nặng nhất. Dòng tiền cho đầu tư mới nó đã co lại rõ ràng.
Một số ngân hàng đầu tư nước ngoài đã đưa ra cách lý giải khá thuyết phục. Họ cho rằng cú giảm
nhanh này là kết hợp của hai yếu tố. Thứ nhất là chính sách chống đầu tư giàn trải của Chủ tịch
Trung Quốc Tập Cận Bình, và thứ hai là ngân sách nhà nước thực sự đại hoẹt. Chống đầu tư giàn trải
tức là không còn cho phép các dự án mở rộng công suất chỉ để lấy số lượng, không cần biết chất lượng
hiệu quả ra sao. Những dự án kiểu chạy theo phong trào, xây cho có, đua nhau mở rộng, đương nhiên là
phải bị dừng hoặc là không được phê duyệt. Nhưng mà điều trớ treo đó là 3 ngành công nghiệp mới,
xe điện, pin và điện mặt trời. Vốn từng được tung hô như là ngôi sao của nền kinh tế thì lại là những
ngành bị xiết nhiều nhất, bởi vì đã xuất hiện tình trạng dư thừa công suất, cạnh tranh phá giá,
lợi nhuận tèo tóp. Còn cái triệu mà thiếu ngân sách thì càng dễ hiểu. Đầu tư công của Trung Quốc
từ trước đến nay phụ thuộc rất lớn vào tiền của chính quyền, trực tiếp hoặc gián tiếp. Không có con số
chính thức nói rõ bao nhiêu phần trăm FAI là dùng tiền ngân sách, nhưng mà ước chừng khoảng một nửa đầu
tư tài sản cố định của Trung Quốc là từ cái khu vực nhà nước. Chi tiêu công, doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp do nhà nước nắm chi phối. Tất cả những dòng tiền đó, rốt cuộc nó đều được đầy bằng
ngân sách và nợ công. Giờ thì ngân sách đã căng rồi, nguồn thu từ bán đất từng là mò vàng của chính
quyền địa phương nó cũng sa sút nặng, nợ của các công ty tài chính địa phương thì trồng chất. Trong bối
cảnh đó, phần đầu tư do nhà nước dẫn dắt cũng không thể cứ thế mà tăng thêm nữa.
Chính quyền Trung ngân vẫn có thể ra lệnh tập trung nguồn lực làm việc lớn,
thế nhưng mà mỗi lần như vậy thì lại là một lần tự đẩy cái hệ thống nợ tới gần lằn
danh nguy hiểm. Nói cái khác là ưu thế, thể chế mà họ luôn tự hào là có khả năng huy động và tập
trung nguồn lực, nó đang mất dần sức mạnh thực chất. Bộ máy của họ vẫn còn đó,
nhưng mà kho đạn thì đã vơi đi rất nhiều rồi. Khi đi đến tận cùng, suy thoái kinh tế hiếm khi là do thiếu
tiêu dùng đầu tư mà thường mắt nguồn từ cái việc là thiếu tiêu dùng.
Cái sự thịnh vượng bền vững dựa trên một cái xã hội có tầng lớp trung lưu đông đảng,
có thu nhập đủ sống, đủ tích lũy, có cảm giác an toàn và dám chi tiêu. Nếu người dân không dám tiêu
thì doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư, dù là nhà nước có đổ thêm bao nhiêu xi măng,
sắt thép, máy móc và hệ thống đi nữa. Tiêu dùng yếu nó giống như là cái dòng nước ngầm rút đi.
Trong tình hình đó thì cái việc tập trung nguồn lực để xây thêm công trình,
dàn thêm dự án nhiều khi nó chỉ là góm người nghèo về một chỗ rồi bảo họ làm nên kỳ tích.
Nghe thì hào hùng nhưng mà không tạo ra sức mua mới, không nâng được chất lượng sống cho số đông.
Những quốc gia quá phụ thuộc vào quyền lực nhà nước, quen coi tập trung nguồn lực là giải pháp
cho mọi vấn đề thì thường rất dễ rơi vào cái bẫy này. Một số nước Mỹ Latin hay là Hàn Quốc,
trước các giai đoạn cải cách dân chủ, họ cũng đã từng đi qua cái con đường đó.
Nhưng mà trường hợp của Trung Quốc thì nó đặc biệt hơn ở chỗ là công cụ cưỡng chế của họ rất mạnh,
tranh lệch và bất công trong phân phối là khá lớn, cái phần tăng trưởng thực sự thì chảy vào túi
người dân bình thường lại không cao, và cái hệ thống bị cuốn rất sâu vào các cái trò đổ đá quyền lực xử lý
nội bộ. Trong hoàn cảnh đó, niềm tin của người dân và của giới tư nhân càng khó phục hồi,
dù là nhà nước có cố gắng tô vẽ câu chuyện tăng trưởng ra sao.
Khi nhìn lại lịch sử, ta thấy ra là rất nhiều thành tựu lớn từ đổi mới sáng tạo đến cất cánh
kinh tế lại xuất hiện chính vì nhà nước không đủ sức kiểm soát mọi thứ, không đủ quyền lực để
can thiệp quá sâu, để tập trung nguồn lực vào mọi thứ mà họ thích. Khi không có một bàn tay quá
mạnh thì xã hội, doanh nghiệp, rồi cá nhân mới buộc phải tự xoay sở, cạnh tranh, sáng tạo và từ đó
tạo ra những bước nhảy vọt thật sự. Đặt trong bối cảnh ấy, những con số lạnh lùng về đầu tư
tài sản cố định, về bắt động sản, về vốn tư nhân rút lui của Trung Quốc, không chỉ là thống kê khâu
khan, chúng là cái bản trục x-quang của một cái mô hình tăng trưởng đã đi đến giới hạn.
Cơn đau hiện tại không thể chữa được bằng việc là thêm một cái liều thuốc kích thích đầu tư.
Nếu không dám chấp nhận thay đổi từ gốc, nuôi dưỡng sức mua của người dân, tăng ngan sinh,
tôn trọng khu vực tư nhân để mà nền kinh tế tự cân bằng lại, thì mọi chuyện tập trung nguồn lực làm
việc lớn của Bắc Kinh chỉ còn là khẩu hiệu thôi, chứ nó không còn sức mạnh thực tế nữa rồi.
Nói đến đây thì chúng ta hãy kể lại một câu chuyện lịch sử, trở lại lịch sử một chút.
Vào hồi cuối thế kỷ 17, kẻ càn đường lớn nhất trên con đường trỗi dậy của Anh là Pháp,
dưới thời vua Louis XIV. Pháp lúc đó vừa mạnh trên bộ lại vừa mạnh trên biển,
thiếm có nước nào trong lịch sử chạm được cái thế mà hai tay hai kiếm như vậy.
Thực sự đó là một cái thời kỳ mà cực kỳ mạnh mẽ của nước Pháp. Cả Tây Âu đã bị đè nặng,
có lúc người ta cảm giác là vua Louis XIV chuẩn bị thống nhất luôn cả châu Âu.
Các nước còn lại là Hà Lan, Tây Ban Nha, đế chế là mãi thần thánh hay là Anh,
họ buộc phải liên minh lại và lập ra cái đại liên minh để mà ngăn chặn Pháp,
và nó nổ ra cái cuộc chiến tranh 9 năm từ 1688 đến 1697. Cuộc chiến này tuy không ngăn cản để không
cho vua Louis XIV thống nhất châu Âu, nhưng mà nó cũng vắt kiệt đối thủ,
và Pháp vẫn là cường quốc lục địa mạnh nhất.
Trong chiến tranh ấy, nó có một cái cú tắt cảnh tỉnh người Nga đó là trận Beechi Hit
năm 1690. Hạm đội Anh, Hà Lan thua hạm đội Pháp, eo biển Măng Sơ, cửa nhà của Anh tạm
thời rơi vào tay Pháp. Tổn thất tàu thuyền thực tế nó không phải là tận diệt, nhưng mà thông điệp
thì rất rõ đó là với lực lượng hải quân hiện tại thì Anh nó không còn an toàn nữa.
Từ đó, giới tinh hoa Anh họ đi đến một quyết tâm đó là muốn sống sót và vươn lên thì phải có
một cái hải quân mạnh vượt trội. Nhưng mà nói dễ, làm nó mới khó. Vấn đề là không có tiền.
Ngay trước đó thì cách mạng Vinh Quang 1688 đã đưa William III, ông Hoàng gốc Hà Lan lên ngồi.
Cô hội thông qua tuyên ngôn nhân quyền 1689 trói tay nhà vua ở ba điểm then chốt mà vua không được
tự ý thay đổi luật, không được duy trì quân thường trực nếu không có cô hội đồng ý, và không được đánh
thuế nếu không có cô hội đồng ý. Đó là ba cái điểm mà trói chặt cái quyền lực của nhà vua.
Muốn mở rộng hải quân ưng, đó vừa là quân thường trực, vừa rất tốn kém. Tức là hai điều khoản
cấm đã đập vào mặt ngay lập tức rồi. Muốn làm thì phải được quốc hội, tức là giới quý tộc,
chủ đất và thương gia gần đầu. Trong khi đó, các cái cách tập trung nguồn lực kiểu cũ nó đã
xài gần hết rồi. Tăng thuế thì phải đụng dân, đụng quý tộc. Ai cũng ghét cả.
Bóp của quý tộc. Nhà thờ bằng tịch thu, phạt. Điều tra xử lý như là thời Henry VIII làm
được một vài lần nhưng mà mỗi lần thì nó lại là một cái tích tụ quán thủ, không thể lập đi lập lại vô hạng.
Còn trì hoãn công nhận thừa kế, ép nộp tiền, bắt quá phụ quý tộc phải mua lại quyền tự quyết,
thu phí tòa lưu động, thu phí rùng rừng, đông cỏ hoàng gia, bắt quý tộc nộp tiền thay
nghĩa vụ quân sự v.v. Tất cả những thứ đó đều gây khó chịu và đều có giá trần. Mỗi đời
người chỉ moi được vài lần thôi, quá tay là sẽ xảy ra phản loạn ngay.
Đến thời William III, những chiêu này đã không còn dùng được nữa. Cô hội, tức là từng lớp có tiền,
giờ họ kiểm soát việc thu thuế và trì tiêu. Vua mới lên, gốc gác Hà Lan, uy tín tín dụng cá nhân
gần như là bằng không. Trước đó các đời vua đã nhiều lần vỡ nợ, bán trái phiếu xong thì không trả
đúng hỏi. Cho nên là người dân nghe đến trái phiếu quốc gia là họ né ngay.
Trong cái lúc bí bách đó, xuất hiện Monk Tagor, bá tiếc Halifax, bộ trưởng ngân khố, bạn thân của
Newton, đầu óc rất nhanh nhạy. Ông ta nghĩ ra một ghi câu cực đơn giản đó là, người cho nhà vua
vai tiền không nhất thiết phải tin vào bản thân nhà vua. Nếu nhà vua không đủ uy tín,
vậy hãy cho họ một thực thể mới để tin. Và thế là họ lập ra một ngân hàng, một ngân hàng do giới
thương nhân, tài phiệt góp vốn, một pham nhân độc lập với nhà vua. Ngân hàng đó dùng uy tín của
chính mình đứng ra huy động tiền trong thiên hạ, sau đó cho chính phủ vây lại, có hợp đồng, có lãi
xuất và có điều lệ rõ ràng. Nhà vua đồng ý, quốc hội cũng đồng ý, vì họ chính là những người
sẽ vừa bỏ vốn, vừa được hưởng lợi. Từ đây thì Ngân hàng Anh đã ra đời năm 1694. Cơ chế
ban đầu nó rất thô mà hiệu quả. Ngân hàng huy động 1,2 triệu bảng vốn góp từ xã hội,
đó là một con số khổng lồ thời đó. Giới dùng số tiền này cho chính phủ vây để mà xây dựng
hải quân với lãi xuất 8% mỗi năm, cộng với phí quản lý. Đổi lại thì ngân hàng được hưởng một
loạt đặc quyền, quan trọng nhất là cái quyền phát hành tiền giấy, ngân phiếu, được nhà nước thừa nhận.
Tiền giấy của Ngân hàng Anh là một cái dạng giấy nợ, trên đó có ghi mạnh giá. Ngân hàng cam kết
đổi ra vàng và bạc theo yêu cầu. Nhờ uy tín của chính ngân hàng, do giới thương nhân lớn đứng
sau và uy tín của chính phủ vì cái tài sản bảo đảm là nợ chính phủ và một phần vàng bạc dự trữ,
tiền giấy nó dần trở nên được chấp nhận rộng rãi và lưu thông như là tiền kiểu như là vàng và bạc.
Từ đó, một cái máy kỳ diệu đó đã hình thành. Chính phủ vây tiền, phát hành nợ,
và cái nợ đó nằm trên bảng cân đối của Ngân hàng Anh. Ngân hàng thì dựa vào nợ chính phủ và
vàng dự trữ để phát hành thêm tiền giấy, nhận tiền gửi và cho vây ra ngoài. Lượng tiền trong
này không chỉ dựa vào vàng bạc đào được mà còn dựa vào tín nhiệm và trái phiếu chính phủ nữa.
Cái cú mà đổi quyền lấy vốn này giúp Anh họ có hải quân mạnh dần dần vượt qua Pháp,
kéo theo sự bùng nổ trong công nghiệp, thương mại, tài chính là nền tảng để sau này Ngân hàng Anh
tiến hóa thành ngân hàng trung ương hiện đại, điều tiết lãi suất và cung tiền cho cả nền kinh thế.
Điều thú vị là không ai lúc đó ngồi xuống để thiết kế ngân hàng trung ương như ta biết ngày nay.
Tất cả chỉ bắt đầu từ một câu hỏi thô ráp đó là, lấy đâu ra tiền để mà xây hải quân,
trong khi cách vơ vét cũ đã không xài được nữa rồi. Bây giờ chúng ta hãy ghép câu chuyện đó với
Trung Quốc hiện tại thì sẽ thấy cái mô hình tập trung nguồn lực nó đang đụng trần rồi.
Giống như các vị vua trước William III thì Trung Quốc mấy chục năm qua họ dựa rất nhiều
vào một cái phiên bản hiện đại của cái việc tập trung nguồn lực. Chính quyền địa phương cộng với ngân
hàng quốc doanh và cộng với doanh nghiệp nhà nước đã cùng nhau bơm tiền vào bất động sản,
hạ tầng như là đường cao tốc, cầu, cảng, tàu điện ngầm, đường sắt cao tốc, công nghiệp nặng và
gần đây là ba ngành mới, xe điện, pin và quang điện mặt trời. Cách làm này nó từng rất hiệu quả,
phải thừa nhận là như vậy. Vài thầm kỷ trước thì Trung Quốc đã thiếu đủ thứ, đường xá,
nhà ở, điện, nước, công nghiệp, đổ vốn vào đâu cũng thấy quả ngọt, tốc độ tăng trưởng cao,
nhà nước chứng minh được ưu thế thể chế, muốn xây là xây, muốn dồn lực là dồn.
Phương Tây mất 10 năm thì ta làm chỉ 3 năm thôi. Nhưng đến khoảng năm 2018-2025 là bây giờ ấy,
thì hạ tầng cơ bản ở nhiều nơi đã tương đối dư giả rồi, thậm chí có nơi là hạ tầng quá đà,
sân bay vắng khách, ga tàu thưa khách, phu đô thị ma. Thị trường bất động sản đã bão hòa,
giá nhà cao đến mức đè thu nhập người dân, số căn nhà xây mới vượt xa nhu cầu thực,
người dân mang nợ thấy chấp rất lớn, chính quyền địa phương thì ngập trong nợ,
rất nhiều khoản vay thông qua công ty tài chính địa phương được nuôi bằng tiền bán đất.
Khi mà bất động sản lao dốc, tiền bán đất gãy thì các công ty tài chính địa phương không còn dòng tiền nữa,
và nợ đã lộ rõ. Kết quả là đầu tư tài sản cố định, con gọi là FAI, là cái con ngựa kéo GDP
bắt đầu giảm tốc mạnh, thậm chí là âm. Đầu tư bất động sản rơi tự do, đúng cái cảnh mà
chúng ta đã từng nói đó là tháng 9 vàng, tháng 10 bạc biến mất. Chủ đầu tư thì ngồi ôm đầu,
không dám làm gì mới, vốn tư nhân thì đứng ngoài, lo ngại rủi ro chính sách, rủi ro tài chính và rủi ro nhu cầu.
Tình thế này nó rất giống Anh Quốc trước khi mà lập ngân hàng Anh, cũng là cả một cái hệ thống
huy động tài chính dựa vào quyền lực hành chính đi tới giới hạn. Cũng là lúc nhà nước phải trả lời câu
hỏi là làm sao có thêm được nguồn lực mà không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh và cái sự vơ vét được.
Nhưng mà khác biệt lớn nó nằm ở hướng rẽ. Nước Anh dưới thời William III bị trói tay bởi
tuyên ngôn nhân quyền và cố hội. Vua không được tự ý đánh thuế, không được tự ý duy trì quân đội và
không được muốn bay là bay. Giới quỹ tổng và thương nhân thì có tiếng nói thực sự trong việc chi tiêu
vay nợ. Chính vì cái việc mà bị hạn chế đó mà nhà nước buộc phải thương lượng với xã hội,
buộc phải chia một phần quyền lực, phát hành tiền, thiết kế luật chơi tài chính, chấp nhận để
một thức thể độc lập là ngân hàng Anh cộng giới tài chính, cầm một mảnh chìa khóa của kho tiền quốc gia.
Đối lại thì nhà nước có nguồn vốn bền vững hơn, rẻ hơn, linh hoạt hơn và cả mức hệ thống
tài chính, công nghiệp, thương mại đã bùng nổ. Có đời Trung Quốc bây giờ thì nhà nước vẫn nắm cực
chặt các đòn bảy lớn, ngân hàng trung ương PBOC, không độc lập theo kiểu là ngân hàng Anh hay là Fed
của Hoa Kỳ. Hệ thống ngân hàng thương mại lõi là ngân hàng quốc doanh. Doanh nghiệp nhà nước thì chiếm lĩnh
nhiều ngành then chốt, phân bổ tín dụng lớn vẫn theo chỉ đạo hành chính. Khi gặp khó khăn thì cái phản
xạ tự nhiên đó là tiếp tục tập trung nguồn lực, tiếp tục đẩy dự án, ra chỉ thị, chứ chưa phải là chia
nhỏ quyền lực và quyền phân phối như là nước Anh cái hồi đó. Điểm có lõi nhất là Anh họ đã kích hoạt
được niềm tin vào thị trường, còn Trung Quốc bây giờ thì vẫn phụ thuộc quá nhiều vào mệnh lệnh và nợ.
Ngân hàng Anh ra đời ở trên một cái logic rất là thẳng thắn như vậy, rất là thẳng ruột ngựa như vậy.
Nhà nước nói với xã hội là tôi từ bỏ một phần đặc quyền, đúc tiền, kiểm soát tài chính tuyệt đối,
tôi chấp nhận luật chơi mới, đổi lại, các anh hãy đưa vốn và niềm tin vào đây rồi chúng ta sẽ cùng hưởng lợi.
Đó là có thể gọi là một cái khế ước xã hội. Do đó nhà nước còn đạt được những gì mình muốn,
ai cũng được hưởng lợi. Còn trong bối cảnh Trung Quốc hiện tại thì dân nợ nhiều, thu nhập bất định,
sợ bệnh, sợ tuổi già, sợ chính sách nên là người ta không dám tiêu dùng. Doanh nghiệp tư nhân thì sợ
rủi ro thể chế, hôm nay ngành này được ưu ái, mai thì có thể bị chỉnh đốn như chơi. Tham gia vào
các chương trình giúp nhà nước thì sợ sau này sẽ bị lôi ra đố tố tài chính. Ngân sách nhà nước thì căng,
nợ địa phương ngập, các cú bơm của chính phủ không còn lực như trước nữa. Nếu trong hoàn cảnh đó Trung
Quốc vẫn chỉ nghĩ cái cách làm thế nào để tập trung nguồn lực theo cái nghĩa cũ, thêm mệnh lệnh,
thêm chỉ tiêu, thêm dự án hạ tầng thì họ rất dễ đi vào đúng cái bẫy đầu tư thêm nhưng mà hiệu quả thấp.
Và gánh nợ tăng lên, tiêu dùng vẫn yếu, xã hội thì mệt mỏi, bất mãn gia tăng, niềm tin dài hạn sẽ suy giảm.
Và trong bối cảnh này thì Trung Quốc lại còn thực hiện một cái động tác mà khoe lực lượng hải quân quy mô lớn
vào ngày 4 tháng 12, đó là hơn 100 tàu dài từ biển Hoa Đông tới biển Đông để mà tập trận.
Thế nhưng điều này cũng diễn ra đúng lúc kinh tế trong nước chứng lại rõ rệt, đầu tư thì suy giảm,
bất động sản thì lao dốc, nợ địa phương căng thẳng và vốn tư nhân thì rút lui. Nó dẫn tới một cái điều
mà chúng ta cũng phải thừa nhận với nhau đó là Trung Quốc họ đang thể hiện sức mạnh quân sự trong khi
mà nền tảng kinh tế đang yếu đi. Đó không phải vì họ đang chuẩn bị gây chiến ngay,
mà vì cần dân đe Mỹ, Nhật, Đài Loan, cần chấn an tâm lý trong nước rằng quốc gia vẫn mạnh đấy,
và vẫn muốn giữ hình ảnh cường quốc dù là kinh tế của họ đang trên đà suy giảm rồi.
Tuy nhiên, xây dựng hải quân hiện đại là quá trình đốt tiền dài hạn, khi kinh tế không còn tăng mạnh
và nguồn ngân sách bị hạn chế thì việc duy trì một lực lượng quân sự lớn như vậy sẽ trở thành gánh nặng.
Cho nên là rủi ro lớn nhất không phải Trung Quốc lập tức gây chiến mà là thế đối đầu quân sự ngày càng tăng,
trong khi kinh tế không đủ mạnh để chống đỡ lâu dài. Điều này làm nguy cơ tính toán sai lầm và va chạm trên biển
cũng như leo thang bất ngờ sẽ tăng lên nhiều hơn trước. Chúng ta sẽ cùng chở xem.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay xin được phép tạm dừng. Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại.
Hãy đăng kí cho kênh lalaschool Để không bỏ lỡ những video hấp dẫn
